Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ qua các sáng tác văn xuôi thời kỳ đổi mới qua sáng tác của nguyễn thị thu huệ, võ thị hảo, nguyễn ngọc tư - Pdf 41

đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
----------------------------------

Bùi ph-ơng anh

Quan niệm nhân sinh của ng-ời phụ nữ qua các
sáng tác văn xuôi thời kỳ đổi mới qua sáng tác của
nguyễn thị thu huệ, võ thị hảo, nguyễn ngọc t-

Luận văn thạc sĩ khoa học văn học

Hà nội - 2009

1


đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
----------------------------------

Bùi ph-ơng anh

Quan niệm nhân sinh của ng-ời phụ nữ qua các
sáng tác văn xuôi thời kỳ đổi mới qua sáng tác của
nguyễn thị thu huệ, võ thị hảo, nguyễn ngọc t-

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số
: 60 22 32
Luận văn thạc sĩ khoa học văn học

Quan niệm của người phụ nữ về con ngườiError! Bookmark not defined.

2.1.1. Người phụ nữ với gia đình ......... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Với người yêu ............................. Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Với người xung quanh ................ Error! Bookmark not defined.
2.2.

Quan niệm của người phụ nữ về cuộc sống.Error! Bookmark not defined.

2.2.1. Trân trọng cuộc sống tự nhiên .... Error! Bookmark not defined.
2.2.1.1.Sự hình thành và phát triển của lịch sửError! Bookmark not defined.
2.2.1.2.Môi trường sống .................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1.3.Thành quả văn hoá ................ Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Cơ chế do con người đặt ra......... Error! Bookmark not defined.
2.2.2.1.Phương tiện đảm bảo cuộc sốngError! Bookmark not defined.
2.2.2.2.Nghệ thuật ............................. Error! Bookmark not defined.
2.2.2.3.Thế giới tâm linh ................... Error! Bookmark not defined.

Chương 2: QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VỀ BẢN THÂN MÌNHError! Bookm

3


1. Quan niệm của người con gái về bản thân mìnhError! Bookmark not defined.
1.1.

Khao khát tìm hiểu, khám phá cuộc sống, tình yêu.Error! Bookmark not def

1.2. Khao khát một tình yêu hạnh phúc ... Error! Bookmark not defined.
1.3.

2. Tổ chức cốt truyện kỳ ảo: .................. Error! Bookmark not defined.
3. Ngôn ngữ và giọng điệu .......................... Error! Bookmark not defined.
PHẦN KẾT LUẬN .................................... Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 25
I. Tác phẩm văn học: ....................................................................................... 25
II. Nghiên cứu, lí luận, phê bình: .................................................................... 25
III. Các trang web tham khảo .......................................................................... 26

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại chống
đế quốc Mĩ kết thúc thắng lợi. Lịch sử dân tộc lại mở ra một thời kì mới - thời
kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước… Đất nước bước vào công cuộc đổi
mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới phù hợp với nguyện vọng của
nhà văn và người đọc cũng như qui luật phát triển khách quan của nền văn
học. Trong sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện của nền văn học, với dung lượng
ngắn gọn, truyện ngắn đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Theo
Từ điển thuật ngữ văn học (NXB giáo dục, 2006), mục truyện ngắn: “Khác
với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và
toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng,
phát hiện một nét bản chẩt trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của
con người”… Bùi Việt Thắng khẳng định, truyện ngắn là một thể tài gắn với
báo chí, đã luôn có mặt kịp thời trước sự biến chuyển của đời sống. Truyện
ngắn rất thích hợp để nhà văn nhanh chóng tìm hiểu, phản ánh và nêu ý kiến
trước những vấn đề mới, nóng bỏng đang đặt ra trước xã hội. Có thể nói,
truyện ngắn là một thể tài “xung kích” giàu tính năng động, một người lính
trinh sát trên các bước chuyển của đời sống và văn học…

nhân vật nữ trong các tác phẩm của họ. Nếu như trước đây các nhân vật nữ
được xem như một phương tiện để truyền tải một tư tưởng, một quan niệm thì
nay, trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, người phụ nữ được xem xét như một thế
giới riêng trong sự đa dạng, đa chiều của cuộc sống và các cung bậc của cảm
xúc, vui, buồn, hờn, giận, yêu thương, căm thù…. với sự ý thức cá nhân sâu
sắc…
Trong hàng loạt các tác giả nữ viết về văn xuôi ở thời kỳ đổi mới,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo được coi là những cây

6


bút tiêu biểu mà tài năng đã được khẳng định bằng các giải thưởng văn học có
giá trị.
Với đề tài “Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các sáng tác
văn xuôi thời kỳ đổi mới qua sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo,
Nguyễn Ngọc Tư”…, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm ý kiến vào quá trình
khám phá, tìm hiểu cách nhìn đa chiều, mới mẻ của người phụ nữ về con
người và cuộc sống, cũng như về chính bản thân họ. Qua đó, phát hiện, khẳng
định được những nét đặc trưng trong quan niệm nhân sinh của người phụ nữ.
Đồng thời khẳng định những vẻ đẹp của con người trong thời kỳ mới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sau năm 1975, văn học cũng có sự phát triển, từ cảm hứng anh hùng
cách mạng sang cảm hứng thế sự, đời thường. Văn học là sự thật. Mà sự thật
chủ yếu của văn học là sự thật về con người. Nhiều năm qua, văn học chúng
ta còn mắc nợ cuộc đời về sự thật. Sự thật về người nông dân Việt Nam trong
những cơn bão táp cách mạng và chiến tranh, về người lính với bao vinh
quang mất mát và hi sinh, về người trí thức cách mạng với lòng yêu nước và
những ngộ nhận ngây thơ, với niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt, về
người phụ nữ với bao trăn trở, dằn vặt và khao khát hạnh phúc đến cháy

đầu năm 1986 đã phát biểu: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà
tâm điểm của nó là con người. Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi
không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong
mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của
người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc
khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người
xung quanh mình. Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả
năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ
có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc
sống”

8


Văn học là nhân học. Hay nói khác đi con ngưới chính là đối tượng
phản ánh, trung tâm của văn học. Trong Văn học Việt Nam trong thời đại
mới, nhà phê bình Nguyễn Văn Long khẳng định: “Con người trong văn học
hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan
hệ: Con người xã hôị; con người với lỉch sử, con người của gia đình, gia tộc;
con người với phong tục, với thiên nhiên, với những người khác và với chính
mình... Con người cũng được văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện
và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống
tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ
thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại, phổ quát.... Trong con người
đan cài, chen lẫn, giao tranh bóng tối và ánh sáng, rồng phượng lẫn rắn rết,
thiên thần và quỷ sứ, cao cả và tầm thường ...” [15, tr 65]
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã mang lại một luồng sinh khí mới
cho đới sống xã hội Việt Nam, thúc đẩy kinh tế phát triển, gợi mở cho văn
học những suy nghĩ, tìm tòi mới. Đời sống mới, cơ hội mới cũng khiến cho
văn học Việt Nam có sự gia tăng về số lượng và chất lượng. Rất đáng kể khi

- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Bằng một tâm hồn nhạy cảm, với thiên tính nữ đặc biệt các nhà văn nữ
đã dần chiếm lĩnh được thi đàn văn học ở thời kỳ đổi mới. Thông qua các
nhân vật, phần nhiều là các nhân vật nữ, các nhà văn muốn chia sẻ, muốn
được trải lòng trên trang giấy để giúp bản thân cũng như người phụ nữ tháo
gỡ được những tâm tư, khúc mắc, những dằn vặt, những khao khát hạnh phúc
đời thường đến cháy bỏng để có thể tiếp tục vững vàng trong cuộc sống mưu
sinh. Với một số lượng đông đảo các nhà văn nữ như hiện nay để có một cách
nhìn khái quát Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các sáng tác văn
xuôi (truyện ngắn) ở thời kỳ đổi mới là một việc làm không hề đơn giản. Vì
thế, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ muốn nghiên cứu: Quan niệm
nhân sinh của người phụ nữ trong các sáng tác văn xuôi ( truyện ngắn) thời

10


kỳ đổi mới của ba nhà văn nữ tài năng: Nguyễn Thị Thu Huệ , Võ Thị Hảo,
Nguyễn Ngọc Tư .
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng có chú ý so sánh với một số
nhà văn nữ cùng thời: Đỗ Hoàng Diệu, Đỗ Bích Thuý, Y Ban …
Tất nhiên chúng tôi cũng không bỏ qua truyện ngắn viết về người phụ
nữ của tác giả nam để có cái nhìn khái quát, toàn diện.
Chúng tôi cũng có tham khảo các sách lý luận, nghiên cứu phê bình văn
học, các bài báo có liên quan của Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn
Long, Bùi Việt Thắng…để tạo dựng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu quan niệm nhân sinh của người phụ nữ
trong các truyện ngắn thời kỳ đổi mới của ba nhà văn Nguyễn thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tư, Võ thị Hảo, chúng tôi muốn làm rõ: Quan niệm của người
phụ nữ về cuộc sống và con người. Bên cạnh đó là quan niệm của người phụ

1.1. Tính đến trước 1975
Trong tiến trình văn học dân tộc, văn học dân gian được ra đời từ rất
sớm, bao gồm người sáng tác tập thể truyền miệng, lưu truyền trong nhân dân.
Những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ… là những
giá trị tinh thần cao quý của phần lớn nhân dân lao động, mà chủ yếu thuộc về
tầng lớp dưới trong xã hội và một số ít trí thức tham gia sáng tạo văn học dân
gian.
Văn học dân gian hay còn gọi là văn học bình dân, văn học truyền
miệng ra đời từ thời kỳ dân tộc chưa có chữ viết. Hơn nữa theo thống kê tính
đế cách mạng tháng 8/1945, 90% dân số chưa biết chữ. Những người dân lao
động chưa chịu ảnh hưởng của các luồng văn hoá tư tưởng từ bên ngoài còn
sống, suy nghĩ một cách đơn giản. Những Tấm Cám, Mị Châu - Trọng Thuỷ,
Cây tre trăm đốt, những câu ca dao, tục ngữ là mọt minh chứng hùng hồn cho
tư duy hướng thiện. Và mặc dù cũng có ý thức về bản than, về sự tồn tại của
cái tôi nhưng do chịu ảnh hưởng bởi những nguyên tắc, áp chế của xã hội,
phần lớn con người còn thụ động cam chịu, chấp nhận lối sống phụ thuộc.
Ta cũng bắt gặp trong trang văn của cha ông, hình ảnh những người
phụ nữ có ý thức về phẩm giá, tài năng, vẻ đẹp:
“Thân em như dải lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

13



“Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
Ai ơi nếm thử mà xem
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”
Ca dao

Trung Quốc nên mang tính quy phạm rõ nét. Bên cạnh đó là xu hướng đổi
mới phá vỡ tính quy phạm. Song song là sự tồn tại của khuynh hướng trang
nhã và xu hướng bình dân… Tất nhiên là trong quá trình tiếp thu chịu ảnh
hưởng của văn học nước ngoài, văn học trung đại Việt Nam vẫn không ngừng
sáng tạo, khẳng định bản sắc riêng của nền văn học dân tộc…
Như đã nói, người cầm bút chủ yếu là tri thức phong kiến. Lại cộng
thêm 1000 năm Bắc thuộc, tư duy con người lúc này là tư duy phong kiến.
Cách cảm, cách nghĩ còn giáo điều, rập khuôn, máy móc. Và khi đề cập đến
người phụ nữ, một mặt vẫn có sự kế thừa tư tưởng của văn học dân gian, mặt
khác, “hồng nhan bạc mệnh”, “tài tử đa cùng” cũng được xem là tư tưởng chủ
yếu. Những nàng Vũ Nương (Người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ);
những nàng cung nữ tài hoa (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều);
những nàng Kiều hiếu nghĩa (Truyện Kiều - Nguyễn Du)…, tất cả đều là
những người phụ nữ có ý thức sâu sắc về bản thân, luôn bị giằng xé bởi cảm
giác mất mát hạnh phúc và nỗi khát khao hạnh phúc. Nàng Vũ Nương xinh
đẹp, hiếu nghĩa, thuỷ chung, chỉ vì một phút hiểu lầm, nông nổi của người
chồng đã phải gieo mình nơi dòng nước. Cô Kiều tài hoa nhất mực cũng bị
đưa đẩy vào cái vòng luẩn quẩn của chốn lầu xanh “gỡ ra rồi lại buộc vào
như chơi”… Thậm chí cả Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm của một thời
cũng vô cùng lận đận trong đường tình duyên. Thơ bà đã cất cao tiếng nói

15


chia sẻ, cảm thông, đồng cảm với những người phụ nữ cùng thời “bảy nổi ba
chìm với nước non”. Mặt khác, Hồ Xuân Hương cũng muốn đòi hỏi xã hội,
nam giới cần phải có sự trân trọng, tôn trọng những đòi hỏi, kì vọng chính
đáng của họ …
Thế kỉ XX là thế kỉ của nền văn học Việt Nam hiện đại. Thế kỉ XX
cũng là thế kỉ mà lịch sử dân tộc Việt Nam có nhiều biến động, xáo trộn lớn

đức hi sinh. Nhưng chị Dậu hơn họ bởi sức chiến đấu mạnh mẽ lạc quan và
tinh thần phản kháng gan dạ trước kẻ thù. Nhiều người phụ nữ khi bị rơi vào
tình cảnh quẫn bách như chị Dậu, nhà nghèo, không có tiền nộp sưu cho
chồng, phải bán con, bán chó, rất có thể đã buông xuôi nhưng chị thì không.
Ngay trong hoàn cảnh khó khăn nhất, chị lại trở thành chỗ dựa vững chắc cho
chồng con và trở thành đốm lửa toả sáng trong đêm Tắt đèn nói riêng và
trong lịch sử văn học đương thời nói chung. Qua tác phẩm, nhà văn Ngô Tất
Tố muốn đặt ra vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ…
Trên trang sách của Nam Cao, ta cũng bắt gặp những người phụ nữ
trong Một bữa no, Một đám cưới, Trẻ con không được ăn thịt chó…. Tất cả
đều được tái hiện theo một số phận nghèo khổ, đáng thương khiến cho người
đọc không khỏi xót xa, đồng cảm…. Song ta cũng khâm phục họ bởi một trái
tim nhân ái, vị tha…
Cách mạng Tháng 8/1945 bùng nổ, đưa dân tộc Việt Nam bước sang
một trang sử mới, lịch sử của cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, Mỹ
suốt 30 năm, lịch sử của qúa trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Cùng lúc tiến hành hai công việc, nhân dân Việt Nam chưa có điều kiện phát
triển đồng đều các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao… nên đời sống nhân dân còn
nghèo nàn, lạc hậu, điều kiện giao lưu cũng chỉ hạn chế ở một số nước như
Liên Xô, Trung Quốc….
Theo như đường lối lãnh đạo của Đảng lúc này, văn học nghệ thuật là
một mặt trận, mỗi nhà văn là một chiến sĩ, đã khiến cho văn học vận động

17


theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước.
Đồng thời hướng về đại chúng. Văn học vừa mang khuynh hướng sử thi ca
ngợi hào hùng, vừa bộc lộ một cảm hứng lãng mạn cách mạng.
Người cầm bút hôm nay chiếm một số lượng đông đảo, đủ mọi thế hệ,

Văn học là sự thật. Sự thật trong văn học hôm nay là sự thật về con
người. Lê Ngọc Trà trong cuốn Văn chương thẩm mĩ và văn hóa khi bàn tới
vấn đề về con người trong văn học đã khẳng định: Vấn đề con người cần phải
trở thành một trong những vấn đề trung tâm của văn học. Tác phẩm có thể
không có nhân vật người nhưng nó phải là câu chuyện về cõi nhân sinh. Nhà
văn có thể viết về nhà máy, hợp tác xã, công trường nhưng mối quan tam
chính của anh ta ở đây không chỉ là năng suất lao động, chất lượng sản phẩm,
cơ chế quản lí mà còn là quan hệ con người, là hạnh phúc, tình yêu, nỗi đắng
cay hay sự hèn hạ của con người, là những giá trị nhân văn của cuộc sống.
Không nên tiếp tục mãi tình trạng “quá tải” của văn học do nó phải chuyên
chở quá nhiều nội dung khác gây ra. Tác giả nhấn mạnh, trong một ý nghĩ
giản dị, văn học là buồn vui đời người, là sự chiêm nghiệm về những gì được,
mất, là hồi ức về quá khứ, sự không thoả mãn với hiện tại và dự cảm về tương
lai, là trầm tư về lẽ tồn vong của con người trong mối quan hệ với xã hội, tự
nhiên và vũ trụ. Đó là những chủ đề cơ bản và lâu dài của văn học…. Con
người nói chung, người phụ nữ nói riêng trong cuộc sống hôm nay là con
người đa dạng, đa chiều của cuộc sống với sự ý thức cá nhân sâu sắc. Chính
điều này đã khiến cho văn học thời kì đổi mới thật hơn, đời hơn, nhân bản
hơn.
Sau 1985 các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,
Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu
Huệ… và những sáng tác của các tác giả khác đều tập chung viết về vấn đề
con người. Là người mở đường tinh anh của thời đổi mới, Nguyễn Minh Châu
đã từng chia sẻ tâm sự trong truyện ngắn Bức Tranh rằng: “Khi người ta phải

19


thay đổi chỗ ở, có những thứ đồ đạc tưởng mất biến đi từ lâu, lục lọi, tìm kiếm
vẵn không thấy, thì tự nhiên lòi ra tận trong góc tủ, dưới gậm giường. Có

bình đẳng với mọi người…
Câu chuyện của một người cũng là câu chuyện của bao người phụ nữ
đáng thương cùng thời. Là Hương của Thời xa vắng (Lê Lựu). Là Phương với
Thân phận tinh yêu (Bảo Ninh). Và cả Qùy, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành của Nguyễn Minh Châu. Quỳ tâm sự: “Trong một phút tôi hiểu được như
thế nào là những người đàn bà, tôi hiểu được chính tôi bây lâu nay. Tôi đã trông
thấy trong một phút tất cả cái phần sâu thẳm như một thứ thiên phú riêng của
tâm hôn những người đàn bà chúng tôi. Đó là thứ bản năng chăm lo bảo vệ lấy
sự sống của con người do chính chúng tôi mang nặng đẻ đau sinh ra. Đó là tình
thương bẩm sinh của nữ tính - sợi dây thần kinh đặc biệt nhạy cảm của người nữ
giới chúng tôi”…. Qùy là một nhân vật phụ nữ đặc biệt, một hình tượng chính
mới mẻ, độc đáo trong xu hướng xây dựng nhân vật phụ nữ làm trung tâm bởi
đó là một người đàn bà có cá tính mạnh, có ý thức rõ rệt về giá trị của mình, có
khả năng tự sắp xếp cuộc đời theo ý muốn riêng, cũng như có khả năng gây ảnh
hưởng lớn đến môi trường xung quanh… Rất nhiều nhân vật phụ nữ khác trong
tác phẩm của Nguyễn Minh Châu dù ở vị trí nào cho người đọc những ấn tượng
khó quên. Nết, Xiêm trong Dấu chân người lính; Lan, Cúc trong Miền Cháy;
Hạnh trong Bên Đường chiến tranh… đều xuất hiện thật đẹp, đều là những
nhân vật đáng yêu…. Tất cả đều là những người phụ nữ có ý thức cá nhân sâu
sắc, luôn khao khát khẳng định mình, không chùn bước trên hành trình kiếm tìm
hạnh phúc ….
Là một thể loại năng động, khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh
đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường
hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong
quan hệ nhân sinh của đời sống tâm hồn con người. Do đặc trưng của thể loại,
các nhà văn chỉ tâp trung, nhấn mạnh vào một lát cắt của đời sống. Những câu

21




ngổn ngang trăm mối tơ vò trong bi kịch tâm hồn không lối thoát, họ là những
con người của thời đại, của những năm tháng mà lối sống, bản năng, những
khát vọng hướng thiện, hạnh phúc, khổ đau đôi khi chỉ chênh nhau monh
manh như là sợi tóc” (Theo Vnexpress)
Võ Thị Hảo vừa là một nhà báo sắc sảo vừa là một nhà văn nổi tiếng.
Đánh giá về văn của chị, có một bài báo đã viết: “Ẩn sau từng câu chữ trau
chuốt là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời
và nhân tình thế thái. Đọc truyện của Võ Thị Hảo, người ta thường buồn. Một
nỗi buồn có lẫn ngọt ngào, cay đắng”. Văn chương như một nơi để chị trải
nghiệm lòng mình bởi người đàn bà viết văn này đã phải gánh trên vai số
mệnh đàn ông. Dẫu rất mạnh mẽ, tự tin nhưng cũng có khi mệt mỏi, chùn
bước nên trong khắc khoải chị vẫn “mong được là một “dây leo đẹp” bên một
“cây đại thụ””. Chị tâm sự, đến với văn chương “Tôi được sống nhiều kiếp,
được viết cho mình, được khóc, được cười, như thế tôi đã được quá nhiều,
nếu tính chuyện mất thì tôi mất đi ít nhiều khả năng làm lành với cuộc sống,
phải lĩnh nhận kiếp nạn của những kẻ không thể im lặng trước nỗi đau của
người khác” (Theo Vnexpress). Viết văn cho mình, cho những người đồng
giới, cho những số phận không may mắn để chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức
tỉnh lương tri, chị muốn thực hiện cho đúng nghĩa sứ mệnh của một nhà văn
chân chính.
“Trước khi viết truyện ngắn đầu tiên, tôi đơn thuần là một cô gái nông
dân, bỏ dở học hành, ở nhà nấu cơm nuôi ông ngoại, chăm sóc vườn rau,
chiều chiều cắt rau cho má đi bán chợ đêm”. Có người hỏi, điều gì đã thôi
thúc chị cầm bút viết văn, chị tâm sự: “Lúc đầu chỉ viết để giải tỏa cảm xúc
cho nó nhẹ người đi, nhưng sau này thấy cái nghiệp mình đeo đuổi nạng trĩu,
đầy nợ nần. Viết vì mình là Nguyễn Ngọc Tư”. Đoạt giải nhất cuộc thi Văn
học tuôi 20 lần thứ nhất của nhà xuất bản Trẻ, hội nhà văn thành phố Hồ Chí

23



TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tác phẩm văn học:
1. Đỗ Hoàng Diệu, Bóng đè, NXB Đà Nẵng, 2005
2. Võ Thị Hảo, Góa phụ đen, NXB Phụ nữ, 2006
3. Võ Thị Hảo, Hồn trinh nữ, NXB Phụ nữ, 2005
4. Võ Thị Hảo, Người sót lại của rừng cười, NXB Phụ nữ, 2006
5. Võ Thị Hảo, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, NXB Phụ nữ,
2006
6. Nguyễn Thị Thu Huệ, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Văn
học, 2006
7. Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, 2005
8. Nguyễn Ngọc Tư, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, NXB Trẻ, 2008
II. Nghiên cứu, lí luận, phê bình:
9. Phan Cự Đệ, Văn học Việt Nam Thế kỷ XX, NXB Giáo dục, 2004
10. Hà Minh Đức (Chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, 2001
11. Hà Minh Đức, Tuyển tập, NXB Giáo dục, 2004
12. Nguyễn Văn Hạnh, Chuyện văn chuyện đời, NXB Giáo dục, 2004
13. Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Minh Châu, về tác gia, tác phẩm, NXB
Giáo dục, 2002
14. Đinh Gia Khánh (Chủ biên), Văn học dân gian Việt Nam, NXB giáo
dục, 2001
15. Nguyễn Văn Long, Văn học Việt Nam trong thời đại mới, NXB Giaos
dục, 2003
16. Phương Lựu (Chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, 2003
17. Bùi Việt Thắng, Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể
loại, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status