BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
_______________________
NGUYỄN ĐĂNG TOẢN
MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG TỔNG TÀI SẢN VÀ TỶ
SUẤT SINH LỢI CHỨNG KHOÁN, BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TỪ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
_______________________
NGUYỄN ĐĂNG TOẢN
MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG TỔNG TÀI SẢN VÀ
TỶ SUẤT SINH LỢI CHỨNG KHOÁN, BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM TỪ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
GVHD: PGS.TS. HỒ VIẾT TIẾN
1.2. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 5
1.4. Câu hỏi nghiên cứu .............................................................................................. 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 5
1.6 Kết cấu luận văn.............................................................................................. 6
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ ............................................ 7
2.1 Quá trình phát triển của các nghiên cứu về đặc tính chứng khoán ở trên thế giới và
những nghiên cứu về hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản gần đây ............................. 7
2.2 Các nghiên cứu về đặc tính chứng khoán ở Việt Nam ........................................ 12
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................................... 14
3.1 Đối tượng phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 14
3.2 Cách tính, sắp xếp dữ liệu ............................................................................. 14
3.3 Phương pháp kiểm định sự tồn tại hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản ........ 23
3.3.1 Ở góc độ danh mục .............................................................................. 23
3.3.2 Kiểm định mô hình với các biến đại diện cho đặc tính chứng khoán
............................................................................................................ 26
3.3.3 Mô hình 3 nhân tố Fama-French ....................................................... 27
3.3.4 Mô hình 3 nhân tố Fama-French mở rộng với nhân tố thứ 4 là AGfactor
........................................................................................................... 29
4. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ............................................................................. 31
4.1 Kết quả ở góc độ so sánh tỷ suất sinh lợi danh mục .................................... 31
4.2 Kết quả ở góc độ chứng khoán riêng lẻ: Mô hình hối quy bội ..................... 40
4.3Cơ sở giải thích cho hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản, kết quả mô hình 3 nhân
tố Fama-French, Fama-French mở rộng.................................................................. 42
4.3.1 Cơ sở giải thích hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản........................... 42
4.3.2 Mô hình 3 nhân tố Fama-French ........................................................ 43
5. KẾT LUẬN .......................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
mục được tính theo năm.
Bảng 4.6: Kỳ vọng và kết quả dấu của các biến
Bảng4.7: Giá trị trung bình các nhân tố giải thích và ma trận tương quan giữa chúng.
Bảng4.8: Giá trị trung bình tỷ suất sinh lợi của 4 danh mục và độ lệch chuẩn của
chúng.
Bảng 4.9: Hồi quy tỷ suất sinh lợi của bốn danh mục theo quy mô-tỷ lệ BE/ME với 3
nhân tố Rm-Rf, SMB, HML.
Bảng 4.10: Hồi quy tỷ suất sinh lợi của bốn danh mục theo quy mô-tỷ lệ BE/ME với 3
nhân tố Rm-Rf, SMB, HML cộng 1 nhân tố AG.
Bảng 4.11: Phần bù rủi ro của từng nhân tố thị trường, quy mô, giá trị tăng trưởng
Tổng tài sản. Các phần bù bôi đen tương ứng với các hệ số có ý nghĩa hồi quy.
Bảng 4.12:Giá trị trung bình tỷ suất sinh lợi và độ lệch chuẩn của từng danh mục theo
phương pháp tỷ trọng đều.
Bảng 4.13:Giá trị trung bình chênh lệch tỷ suất sinh lợi giữa danh mục SMALL/LOW
và 2 danh mục còn lại BIG/HIGH, Rm (VN-Index) theo phương pháp tỷ trọng đều.
Bảng 4.14:Giá trị trung bình tỷ suất sinh lợi và độ lệch chuẩn của từng danh mục theo
phương pháp tỷ trọng giá trị vốn hóa.
Bảng 4.15:Giá trị trung bình chênh lệch tỷ suất sinh lợi giữa danh mục SMALL/LOW
và 2 danh mục còn lại BIG/HIGH, Rm (VN-Index) theo phương pháp tỷ trọng giá trị
vốn hóa.
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Chuỗi 79 quan sát với phương pháp tỷ trọng đều.
Hình 4.2: Chuỗi 79 quan sát với phương pháp tỷ trọng theo giá trị vốn hóa.
Hình 4.3: Chuỗi 67 quan sát với phương pháp tỷ trọng đều.
Hình 4.4: Chuỗi 67 quan sát với phương pháp tỷ trọng theo giá trị vốn hóa.
Hình 4.5: Chuỗi 55 quan sát với phương pháp tỷ trọng đều.
Hình 4.6: Chuỗi 55 quan sát với phương pháp tỷ trọng theo giá trị vốn hóa.
Hình 4.7: Chuỗi 79 tỷ suất sinh lợi của ba danh mục BIG HIGH, VN-INDEX,
chỉ sinh lợi khi đầu tư vào những hoạt động kinh doanh chính mang lại giá trị gia tăng
chứ không phải thông qua các hoạt động mua bán ảo.
Bài luận này nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng quy mô (thông qua biến
Tổng tài sản) và tỷ suất sinh lợi. Tác giả chứng minh được giữa chúng có mối quan hệ
ngược chiều. Bên cạnh đó tác giả cũng chứng minh được ở thị trường Việt Nam, các
công ty Nhỏ hoạt động hiệu quả hơn các công ty Lớn thông qua mô hình 3 nhân tố đề
xuất bởi Fama-French (1993).
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong bài theo cách tiếp cận chính thống được
dùng ở các thị trường phát triển như Mỹ, Úc. Khi xét đến ở thị trường Việt Nam, tác
giả cho rằng:
1.
Các doanh nghiệp như KLF, FLC trong tương lai sẽ xuất hiện rất nhiều,
mặc dù hai mã này vẫn đang nhận được sự quan tâm vô cũng lớn của thị trường, nhưng
tác giả nghi ngờ về hiệu quả hoạt động của chúng trong tương lai.
2.
Các cơ chế, chính sách, công cụ luôn ra đời với mục đích ban đầu tốt đẹp
nhưng lúc nào cũng có những người sẵn sàng lợi dụng những kẻ hở để làm lợi cho
riêng mình. Giao dịch tài chính là một trò chơi có tổng bằng 0, lợi ích của người này là
thiệt hại của người khác. Mở rộng ra, sự giàu có mang lại cho một người đôi khi dẫn
đến khó khăn cho cả một tập thể. Do đó, các cơ chế, chính sách phải luôn thay đổi, làm
mới để có thể theo kịp và nắm bắt các mối quan hệ ngày càng mở rộng, phức tạp.
-1-
-2-
của 20 công ty lớn nhất (chiếm 99% vốn hóa của thị trường) niêm yết trên HSX là
khoảng 73 lần tính đến tháng 1/2007 theo IMF. Đây quả thực là một con số “điên rồ” ở
thời điểm hiện tại (khi mà chỉ chỉ số P/E của VN-Index chỉ xoay quanh mức 14.0x15.0x) nhưng ở thời điểm đó lại được cho là “bình thường”.
Từ tháng 2/2008 cho đến cuối năm 2009 là một giai đoạn sóng gió trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, khi hàng trăm ngàn tỷ đồng giá trị tài sản đã bốc hơi.
Chỉ trong hơn sáu tháng đầu năm 2008, VN-Index đã sụt giảm trên 60% so với thời
điểm cuối năm 2007. Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có 71 phiên VNIndex giảm điểm. Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên giảm liên tiếp từ giữa tháng 4/2008 tới
đầu tháng 6/2008. Chính phủ liên tục đưa ra những giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ
mô, kiềm chế lạm phát, giảm lãi suất vực dậy niềm tin của các nhà đầu tư. Đúng vào
giai đoạn này, khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu bùng nổ bắt đầu từ sự kiện ngân
hàng đầu tư Lehman Brothers của Mỹ phá sản vào ngày 15/09/2008, như một đòn
giáng nặng nề vào mọi nỗ lực của chính phủ. Các nhà đầu tư bắt đầu hoảng loạn bán
tháo mọi cổ phiếu đang nắm giữ. Riêng trong 3 tháng cuối năm 2008, VN-Index sụt
giảm gần 35% so với thời điểm ngày 26/09/2008 và sụt giảm tiếp gần 22% nữa trong 3
tháng kế tiếp. Như vậy, cuối năm giá trị vốn hóa của HSX đạt 333.529 tỷ đồng và cuối
năm 2008 chỉ còn lại 169.346 tỷ đồng, bất chấp khối lượng cổ phiếu niêm yết mới tăng
gần 53% trong năm đó. HNX cuối năm 2007 đạt vốn hóa 130.633 tỷ đồng và năm 2008
còn lại 50.400 tỷ đồng.
Năm 2010 thị trường giao dịch với biên độ khá mạnh xung quanh mức 485 +/65 điểm nhưng xu thế chủ đạo trong năm vẫn là đi ngang và giảm điểm mạnh. Thị
trường đón nhận một khối lượng niêm yết mới và niêm yết bổ sung cổ phiếu kỷ lục.
Năm 2011 là một năm đầy khó khăn và thử thách với các doanh nghiệp niêm
yết, trong khi phải đối mặt với lạm phát cao khiến chi phí đầu vào tăng mạnh thì việc
tiếp cận vốn vay cũng không dễ dàng khi mặt bằng lãi suất liên tục ở mức cao, hàng
-3-
loạt doanh nghiệp giải thể và phá sản. Sự sụt giảm của thị trường chứng khoán(TTCK)
thị trường bay hơi 4 tỷ USD chỉ trong một thời gian ngắn. Hay gần đây nhất là ngày
8/5/2014, giới đầu tư một lần nữa phải chứng kiến cảnh sắc đỏ nhuộm kín hai sàn. VnIndex mất 32,88 điểm(5,87%) còn HNX-Index bay hơn 4,9 điểm (6,4%) và được đánh
giá là cú giảm điểm tệ nhất trong lịch sử thị trường suốt gần 14 năm qua.Nguyên nhân
chính, theo giới đầu tư là những căng thẳng leo thang về chính trị biển đảo gây ảnh
hưởng lên tâm lý người cầm cổ phiếu.
Rút ra được những bài học từ các sai lầm này, rất nhiều các nhà đầu tư cá nhân
bắt đầu tìm đến các chiến thuật đầu tư được nghiên cứu rất nhiều ở các thị trường phát
triển theo các trường phái phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật,… nhằm xác định giá trị
nội tại và thời điểm mua bán thích hợp. Các nhà đầu tư tổ chức với số vốn lớn thì tìm
cách đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình để giảm thiểu rủi ro theo trường phái
Markowitz. Hay nói cách khác sự lượng hóa mối quan hệ giữa rủi ro-tỷ suất sinh lợi
dựa trên cơ sở đặc tính chứng khoán trở thành nhu cầu cần thiết, dải dữ liệu đủ dài
giúpcác nhà nghiên cứu bắtđầu kiểm định thực nghiệm của các lý thuyết học thuật hàn
lâm ở các nước phát triển vào điều kiện thực tế thị trường chứng khoán non trẻ Việt
Nam. Điển hình làcác nghiên cứu về ứng dụng mô hình CAPM, mô hình 3 nhân tố
Fama French, 4 nhân tố của Carhart,…Kết luận từ các nghiên cứu này giúp cho các nhà
đầu tư lựa chọn một danh mục tốt, phù hợp với khẩu vị rủi ro của mình.
Các bài nghiên cứu đặc tính chứng khoán với mô hình Fama-French, CAPM,.. ở
thị trường Việt Nam rất nhiều nhưng tác giả nhận thấy rằng chưa có một nghiên cứu
hoàn chỉnh nào tìm hiểu về mối quan hệ giữa tăng trưởng Tổng tài sản và tỷ suất sinh
lợi chứng khoán. Đây là một biến dễ tính toán chỉ đơn giản sử dụng số liệu Tổng tài
sản trên bảng cân đối kế toán trong 2 năm liên tiếp. Bên cạnh đó tác giả dùng đến sự hỗ
trợ của phần mềm ““Stockbiz Excel Platform”giúp cho vấn đề lượng hóa toàn bộ đặc
-5-
tính của các công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua một khung thời
gian tương đối dài (7 năm)trở nên đơn giản.
Thấy được sự mới mẻ củađể tài trong việc xây dựng một mô hìnhsử dụng nhân
1: Giới thiệu chung.
2: Tổng quan các nghiên cứu trước đó.
3: Phương pháp nghiên cứu.
4: Kết quả thực nghiệm.
5: Cơ sở giải thích cho hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản.
-7-
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ
2.1 Quá trình phát triển của các nghiên cứu về đặc tính chứng khoán ở trên
thế giới và những nghiên cứu về hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản gần đây
Nghiên cứu về đặc tính chứng khoán ảnh hưởng như thế nào đến tỷ suất sinh lợi
của nó đã có một giai đoạn phát triển dài trên thế giới. Bắt đầu từ mô hình định giá tài
sản vốn của Sharpe (1964), Lintner (1965), và Black (1972) (SLB) đã khiến cho các
nhà nghiên cứu và ứng dụng suy nghĩ về mối quan hệ rủi ro-tỷ suất sinh lợi. Điểm
chính của mô hình là sự dự báo rằng danh mục thị trường chính là danh mục hiệu quả
trung bình-phương sai (mean-variance) theo như phát biểu của Markowitz (1959). Sự
hiệu quả của danh mục thị trường chỉ ra rằng (a) tỷ suất sinh lợi trung bình của các
chứng khoán là một hàm đường thẳng của các beta (β) thị trường của chúng (hệ số góc
trong mô hình hồi quy giữa tỷ suất sinh lợi chứng khoán so với tỷ suất sinh lợi thị
trường) và (b) một mình các β thị trường là đủ để giải thích sự khác nhau trong tỷ suất
sinh lợi của các chứng khoán khác nhau.
Một loạt các nghiên cứu thực nghiệm sau đó đã phản bác lại mô hình của SLB
Đáng chú ý là hiệu ứng kích cỡ (size effect) được tìm thấy bởi Banz (1981 ). Ông ta
chỉ ra rằng giá trị vốn hóa thị trường, ME (bằng với giá thị trường cổ phiếu nhân với số
lượng cổ phiếu đang lưu hành) giúp giải thích sự khác nhau trong chuỗi tỷ suất sinh lợi
trung bình tốt hơn là các β.
Một phát biểu khác chống lại mô hình SLB là mối quan hệ dương giữa mức độ
sử dụng đòn bẩy (leverage) vả tỷ suất sinh lợi trung bình trong nghiên cứu của
suất sinh lợi đã được kiểm định là có hiệu quả tại các thị trường chứng khoán phát triển
cũng như mới nổi. Theo đó, các công ty nhỏ thì có khả năng quản lý kém hơn là công
ty lớn. Và các công ty có tỷ số BE/ME cao thì dễ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính
hơn, do thị trường đánh giá đây là các công ty có tiềm năng thấp, mức giá thấp. Rủi ro
-9-
ở các công ty nhỏ, BE/ME caolớn hơn nên các cổ phiếu này chứa đựng một phần bù rủi
ro.
Sau Fama-French, các nhà nghiên cứu bắt đầu tập trung tìm kiếm thêm các đặc
tính khác ảnh hưởng rõ rệt đếntỷ suất sinh lợi chứng khoán ngoài ba nhân tố nêu trên.
Điển hình, rất nhiều bằng chứng cho thấy những tỷ suất sinh lợi bất thường của các
doanh nghiệp sau giai đoạn mở rộng/thu hẹp đầu tư. Cụ thể, những nghiên cứu cho
thấy các sự kiện liên quan tới tăng trưởng tài sản (thâu tóm, phát hành nợ-chứng khoán,
vay thêm) có xu hướng theo sau đó là một giai đoạn tỷ suất sinh lợi thấp bất thường.
Ngược lại, những sự kiện thu hẹp quy mô (chia tách, mua lại cổ phiếu quỹ, trả nợ, và
chi cổ tức) có xu hướng theo sau đó là một giai đoạn tỷ suất sinh lợi cao bất thường.
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác đã chứng minh được mối quan hệ ngược chiều
giữa các hình thức đầu tư khác nhau của doanh nghiệp và tỷ suất sinh lợi chứng khoán.
Ví dụ, đầu tư vốn (capital investment), tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (sales growth rates)
và gia tăng vốn (capital raising) được cho là có tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh lợi tương
lai.
Michael J. Cooper, Huseyin Gulen, and Michael J.Schill (CGS) (2008) đã dùng
biến tăng trưởng Tổng tài sản, biến này bao gồm mọi thành phần tăng trưởng tài sản
khác như gia tăng về tài sản hoạt động ngắn hạn, tài sản dài hạn, thu nhập giữ lại, phát
hành cổ phiếu phiếu, vay nợ thêm…. Các tác giả chứng minh rằng hiệu ứng tăng
trưởng Tổng tài sản (assets growth effect) tồn tại rất mạnh ở thị trường Mỹ bằng cách
phân chia toàn bộ các công ty trong danh mục thành thập phân vị theo tỷ lệ tăng trưởng
Tổng tài sản. Sau đó CGS (2008) tính toán chênh lệch tỷ suất sinh lợi trung bình theo
-11-
Các tác giả phân chia toàn bộ các công ty trong mẫu thành 7 danh mục theo tỷ lệ
tăng trưởng và họ nhận thấy rằng tỷ suất sinh lợi trung bình giảm qua các nhóm danh
mục tăng trưởng Tổng tài sản từ thấp đến cao ở danh mục cổ phiếu vốn hóa lớn, chênh
lệch giữa nhóm tăng trưởng thấp nhất và cao nhất lến đến 1%/1 tháng (p-value =
0.0013). Theo các tác giả này thì kết quả tìm được ở các cổ phiếu lớn quan trọng hơn
do tính thanh khoản của chúng cao hơn và ít gặp trở ngại khi tiến hành bán khống. Tuy
vậy, hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản ở các công ty lớn nhất của thị trường Úc ngay
lập tức biến mất khi sử dụng phương pháp tỷ trọng theo giá trị vốn hóa. Tỷ suất sinh lợi
tương lai vẫn giảm dần đều qua các nhóm danh mục tăng trưởng từ thấp đến cao,
nhưng chênh lệch giữa nhóm tăng trưởng Tổng tài sảnthấp nhất và cao nhất 0.68% 1
tháng lại không có ý nghĩa thống kê (p-value = 0.1246). Philip Gray and Jessica
Johnson (2010) không chứng minh được hiệu ứng này ở nhóm danh mục giá trị vốn
hóa nhỏ (chiếm 7% giá trị vốn hóa của toàn danh mục tiếp theo) và hiệu ứng này tồn
tại rất mạnh ở nhóm danh mục giá trị vốn hóa siêu nhỏ ( chỉ chiếm 3% giá trị vốn hóa
thấp nhất của toàn danh mục). Nhưng họ không chú trọng đến kết quả tìm được do tính
thanh khoản của nhóm danh mục này rất thấp và khó có thể tiến hành bán khống.
Khi tiến hành hồi quy Fama-Macbeth (1973) để kiểm định ảnh hưởng của biến
tăng trưởng Tổng tài sản đến tỷ suất sinh lợi tương lai. Các tác giả này cho rằng: Đối
với nhóm cổ phiếu vốn hóa Lớn, có tác động riêng lẻ giữa hiệu ứng giá trị (book-tomarket effect) và hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản. Hơn nữa, hiệu ứng này không bị
mất đikhi thêm vào các biến khác đại diện cho sự tăng trưởng sử dụng nhiều trong các
nghiên cứu thực nghiệm. Đối nhóm cổ phiếu vốn hóa siêu nhỏ, Philip Gray and Jessica
Johnson (2010) không tìm thấy bằng chứng ủng hộ hiệu ứng tăng trưởng Tổng tài sản.
Các tác giả cho rằng kết quả chênh lệch tỷ suất sinh lợi có ý nghĩa thống kê giữa 2
nhóm tăng trưởng cao nhất và thấp nhất ở kích cỡ này tìm được ở phần trước đó là do
ảnh hưởng của một số đặc tính khác (giá trị book-to-market, quán tính giá momentum).
-13-
quan niệm mua cổ phiếu của những công ty lớn (blue chip) sẽ cho tỷ suất sinh lợi cao
hơn cổ phiếu của các công ty nhỏ là không đúng. Khi xem xét đến tác động của yếu tố
thuộc về đặc tính giá trị của công ty (tỷ số BE/ME) thì yếu tố này cho tác động không
đáng kể.”
Mô hình 3 nhân tố của Fama và French hoạt động như thế nào trên thị trường
chứng khoán Việt Nam của Trần Thị Hải Lý (2010). Tác giả nhận xét “Kết quả nghiên
cứu cho thấy nhân tố thị trường và nhân tố giá trị sổ sách trên thị trường phù hợp với
kết quả nghiên cứu của Fama và French, tuy nhiên nhân tố quy mô có tác động ngược
lại, nghĩa là cổ phần của những doanh nghiệp quy mô lớn cung cấp một tỷ suất sinh lợi
lớn hơn cổ phần của các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Sự khác biệt này xuất phát từ đặc
trưng sở hữu nhà nước của các công ty niêm yết trên HOSE. Ở khía cạnh phát tín hiệu,
sở hữu nhà nước cao có thể dẫn đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty kém, do
hiệu quả quản trị thấp và nhiều khả năng xảy ra những thất thoát lớn trong tài sản của
doanh nghiệp. Ở khía cạnh tỷ suất sinh lợi và rủi ro, tỷ lệ sở hữu nhà nước càng cao, rủi
ro do bất cân xứng thông tin và phát sinh vấn đề đại diện càng lớn. Mặc dù xét trên
khía cạnh nào đó, những doanh nghiệp mà Nhà nước đang nắm sở hữu chi phối có thể
có những đặc quyền, nhưng những đặc quyền này không thể bù đắp cho vấn đề quản trị
và vấn đề đại diện. Vì vậy, các công ty có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao hơn có thể cần
một tỷ suất sinh lợi cao hơn để bù đắp cho những rủi ro kể trên”.
Tóm lại, các kết quả thực nghiệm mô hình 3 nhân tố Fama-French trước đó ở thị
trường Việt Nam cho thấy có sự khác biệt so với thị trường thế giới. Trong bài nghiên
cứu này, ngoài việc kiểm định mối quan hệ ngược chiều giữa tăng trưởng Tổng tài sản
và tỷ suất sinh lợi, tác giả sẽ xem xét liệu các công ty ở Việt Nam có chứa đựng:
(1)
Phần bù rủi ro quy mô (các công ty vốn hóa Nhỏ có tỷ suất sinh lợi cao
2010
2011
2012
2013
Trung bình
Số lượng (công ty)
74
109
133
174
248
270
281
284
197
Giá trị vốn hóa của danh mục
151.133,97
325.898,79
143.807,90
305.504,59
380.113,63
289.697,41
461.856.57
632.621,17
(Nguồn: Stockbiz excel platform, tác giả phân nhóm danh mục)
tính toán như sau: