TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ NGHĨA NHÂN văn VIỆT NAM hồ CHÍ MINH một tầm NHÌN TRIẾT học - Pdf 41

Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam - Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học

Dân tộc Việt Nam ta trong quá trình đấu tranh và xây dựng đã hình thành nên
chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Và ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới mà ở
đó chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết tinh cả chủ nghĩa nhân văn Việt
Nam, chủ nghĩa nhân văn Đông Tây và nhân lại xưa nay- có tác dụng định
hướng lớn và phát huy cao độ nội lực trong phát triển, hiện đại hóa và hội
nhập. Chủ nghĩa nhân văn này không chỉ là giá trị về mặt văn hóa mà còn có
tầm tinh hoa, tầm triết học, thực sự là như một triết học. Nó cũng là một cơ sở
và nội dung chủ yếu của chủ nghĩa duy vật nhân văn. Do đó, khác với nhiều bài
viết khác cùng chủ đề, bài viết này là luận ở góc đội triết học là chính.
I- Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam hướng tới chủ nghĩa nhân văn mácxít cần
phát huy trong thời kỳ mới
1- Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam
Trong lịch sử tư tưởng và văn hóa Việt Nam ta, thấy rằng có một số nhà trí thức
hoặc một số lãnh tụ của dân tộc thường bàn về các triết lý Nho giáo, triết lý
Phật giáo, triết lý yêu nước và nhân ái Việt Nam hoặc sau này là một số triết lý
và tư tưởng phương Tây như là những tư tưởng triết học về giải phóng con
người (cá nhân) trần gian gắn liền với chính trị, gắn liền với đời sống nhân sinh.
Công bằng mà nói dân tộc ta ít để lại những nhà triết học và những lý thuyết
triết học thật sự. Nhưng điều đó không có nghĩa là dân tộc ta không có tư tưởng
triết học. Triết học là tinh hoa của một nền văn hóa nhất định. Nền văn hóa Việt
Nam là một nền văn hóa lâu đời nên có chiều sâu triết học của nó.
Chúng tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu và giáo dục có hệ thống chủ nghĩa nhân
văn Việt Nam nhất là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là việc làm thật sự cần
thiết. Gần đây có một số sách đã xuất bản nói về lịch sử tư tưởng Việt Nam, lịch
sử văn hóa Việt Nam, tư tưởng triết học Việt Nam, thực chất là theo hướng đó.
Tuy rằng việc làm trên cần được tốt hơn nữa để tạo ra sự nhận thức nhất quan
về bản sắc, bản linh và sức mạnh văn hóa Việt Nam. Có thể nói rằng chủ nghĩa
nhân văn (yêu nước và nhân nghĩa) Việt Nam là kết tinh, thể hiện tập trung và
nổi bật nhất bản sắc và bản lĩnh đó. Tinh túy ấy thực chất là tư tưởng triết học

phận của dân tộc trong quá trình đấu tranh và lao động. Đúng là dân tộc ít bàn
về thế giới tự nhiên mà bàn về số phận của con người và dân tộc mình. Số phận
của con người và dân tộc từng được nhìn dưới góc độ sau đây: số phận của con
người trong chế độ áp bức bóc lột, bất công, chuyên chế và trước sức mạnh tàn
khốc của thiên nhiên, số phận này thể hiện một mặt là nghèo đói, bệnh tật, một
mặt là bị áp bức, đàn áp. Một góc độ nữa của số phận con người là số phận của
dân tộc trước họa xâm lăng của ngoại bang với sự chết chóc và bị đàn áp diễn ra
liên miên trong nhiều thế kỷ. Bàn về số phận của con người, nỗi khổ đau, tủi
nhục của con người trong tư tưởng Việt Nam như vậy là khác với tư tưởng Phật
giáo mặc dù có sự tương đồng, đồng cảm nào đó. Những nhà chính trị, những
hiền nhân và kể cả nhân dân lao động đi tìm nguyên nhân của số phận con
người và dân tộc Việt Nam trước thiên tai địch họa. Cũng có thể có ý kiến cho


rằng nỗi khổ nhục như vậy là do thiên mệnh. Không, đa số các bậc trí thức và
nhân dân đều nhận thấy rằng nỗi khổ chính là do con người gây nên trước hết là
giặc ngoại xâm, sau nữa là quan lại tham tàn. Đọc Tuyên ngôn của Lý Thường
Kiệt, Binh pháp của Trần Hưng Đạo, thơ Nguyễn Du, Đại Cáo Bình Ngô của Lê
Lợi, Nguyễn Trãi, đọc các tác phẩm Phan Bội Châu, đọc Tuyên Ngôn Độc Lập
của Hồ Chí Minh và tục ngữ ca dao Việt Nam chúng ta đều cảm nhận được đều
đó. Sự nhận thức những vấn đề nói trên của dân tộc ta vừa bằng lý trí vừa bằng
tình cảm, vừa bằng hữu thức vừa bằng vô thức. Ở đây không tuyệt đối duy lý
hoặc, duy tình mà lý tình kết hợp, có lý có tình.
Người Việt Nam cảm nhận mình là con người, phải vươn lên sống xứng đáng là
con người trong cộng đồng dân tộc, do đó rất đề cao đạo lý làm người, đồng
thời đấu tranh chống áp bức bất công để được sống xứng đáng với con người.
Khát vọng ấy, lý tưởng ấy là một hiện thực khác quan. Dân tộc Việt Nam tự xác
định là một dân tộc, tự quyết, tự tôn và độc lập mang tính tất nhiên như trời
đất,có đất đai lãnh thổ, phong tục, văn hóa, văn hiến riêng biệt. Đó là dân tộc
không chịu làm nô lệ, không có gì quí hơn độc lập tự do. Đó cũng là khát vọng

yêu vào sức mạnh của con người trần thế. Triết học đó cũng giải quyết tốt mối
quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của cuộc đấu tranh và tạo dụng, giải quyết
mối quan hệ giữa gia đình với đất nước, làng xóm với tổ quốc, giữa những con
người cùng chung một cảnh ngộ cần đoàn kết để đấu tranh và phát triển và đúng
là đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công thành công, đại thành công như
sau này chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết. Triết học đó cũng giải quyết mối
quan hệ giữa thực tại và ý thức, nhu cầu và hành động. Từ đó phát huy sức
mạnh của nội lực để thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng con
người.
Dân tộc Việt Nam trong quá trình phát triển, xây dựng và đấu tranh luôn luôn
có sự giao lưu và tiếp nhận các luồng tư tưởng và văn hóa của các nước khác
ngày càng mở rộng. Nhưng đó là quá trình giao lưu, tiếp nhận và sáng tạo, giữ
gìn bản sắc Việt Nam, làm phong phú tư tưởng, trí tuệ, tình cảm Việt Nam trên
cơ sở chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Đạo Nho, đạo Phật
ở đây đã trở thành đạo Nho đạo Phật Việt Nam khi bao hàm tư tưởng yêu nước
và bị chi phối bởi tư tưởng yêu nước Việt Nam. Đạo Phật vào đây cũng vậy Và
sau này tinh hoa văn hóa phương Tây, nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin đã tiếp thu
và vận dụng ở Việt Nam cũng vậy. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: độc lập gắn
liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế công nhân,
giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc và xã hội, gắn văn hóa
nhân văn của dân tộc với khoa học công nghệ hiện đại càng thể hiện rõ điều đó.
Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam có nguồn gốc bản địa và tố chất của văn hóa Việt
Nam nhưng cũng được bồi bổ bằng chủ nghĩa nhân văn phương Đông và
phương Tây và cuối cùng hoà nhập với chủ nghĩa nhân văn mácxít, được nâng
lên một trình độ mới và thể hiện tập trung trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí
Minh. Chất nhân văn trong con người Hồ Chí Minh được nhiều người mô tả
một cách sinh động. Theo J.Roux thì đó là "người kết hợp tới mức nhuần
nhuyễn phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước
tuyệt vời và tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống
với lòng nhân đạo đối với con người". Còn N. K. Sing thì "Hồ Chí Minh là một

sau này của dân tộc Việt Nam. Đó là sức mạnh tạo ra cấp số nhân trong vănhóa
Việt Nam cả phương diện không gian văn hóa, và thời gian văn hóa, là "sự hòa
hợp tuyệt vời giữa quá khứ và hiện tại", "thời gian tích tụ, như ngưng đọng lại
thành một sức mạnh", "một thời gian đông đặc, một thời gian không hề vơi đi",
"không làm cho quá khứ chết thêm mà làm sống lại quá khứ" như lời khẳng
định của nữ sĩ Blaga Đimitrôva trong tác phẩm Ngày phán xử cuối cùng (trích
theo GS. TS Nguyễn Duy Quý)
Do đó, cần phát huy và vận dụng chủ nghĩa nhân văn Việt Nam - Hồ Chí Minh
như là nhân sinh quan và phương pháp luận, hệ tư tưởng và đạo lý trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và bảo vệ tổ quốc thân yêu của
mình. Nhưng làm sao đó thế hệ trẻ tiếp nhận một cách có hệ thống, sâu sắc chủ
nghĩa nhân văn ấy như một nội lực và sức mạnh thần kỳ để vượt qua mọi khó
khăn thử thách trên bước đường đi tới. Câu trả lời là tiếp tục nghiên cứu, giáo
dục và thể hiện trong mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước để dễ dàng đi vào
cuộc sống.
2- Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam- tập trung bản sắc, bản lĩnh và động lực của
văn hóa nhân văn Việt Nam
Từ xưa đến nay, chúng ta đều thừa nhận rằng ở Việt Nam có một chủ nghĩa yêu


nước - đó là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Giới nghiên cứu, các nhà khoa học
cũng đã đề cập rất nhiều, từ các góc độ khác nhau đối với chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam. Nhưng nhìn chung vẫn thiên về tình cảm, ý chí, tinh thần yêu nước,
chứ chưa đề cập nhiều về mặt tư tưởng, về mặt trí tuệ có hệ thống. Hoặc vấn đề
được trình bày nhiều về phương diện thông sử mà, chưa đề cập có hệ thống về
mặt văn hóa học. Nghĩa là vấn đề chủ nghĩa yêu nước- sự thể hiện tập trungbản
sắc,bản lĩnh , động của văn hóa và xã hội Việt Nam chưa được nhìn đầy đủ ở
cấp độ lý luận, cấp độ phương pháp luận.
Trước yêu cầu của sự phát triển ngày nay, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò
động lực của văn hóa truyền thống, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời kỳ

ai cũng có lòng yêu nước nồng nàn, dù theo đạo hay không theo đạo nhưng đều
bị thu hút bởi chủ nghĩa yêu nước. Và chủ nghĩa yêu nước ấy đã trở thành điểm
sáng và sức sống chủ yếu trong tâm hồn họ.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không đơn giản là ý thức tinh thần, mà còn là khí
phách dân tộc, là ý chí, là trí tuệ, là hành động đoàn kết, bất khuất, kiên cường,
quật khởi trong hành động. Điều đó tạo thành chủ nghĩa anh hùng Việt Nam.
Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam là hành động thực của chủ nghĩa yêu nước.
Trong sự nghiệp chiến thắng thiên nhiên xây dựng đất nước, nhất là sự nghiệp
chiến thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ quyền tự quyết, quyền độc lập tự do của dân
tộc, thì không chỉ làm nảy sinh hành động anh hùng ở một số người, một số
tầng lớp đặc biệt nào đó, mà là ở tất cả mọi tầng lớp người, và ở trong tất cả các
dân tộc của cộng đồng Việt Nam trong các giai tầng, trong các giới tính. Anh
hùng vô danh hoặc anh hùng có tên tuổi hoặc hành động anh hùng đã trở thành
phổ biến trong nhiều thời kỳ lịch sử đã hun đúc nên phẩm chất anh hùng của
dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam. Phẩm chất ấy được lưu giữ, di
truyền trong gen của nhiều thế hệ. Hình tượng Thánh Gióng là một hình tượng
nhân cách hóa, thần thoại hóa, dả sử hóa của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam.
Trong thời chiến tranh cứu nước, khi nói rằng "ra ngõ gặp anh hùng" là hoàn
toàn chính xác. Vì vậy, không chỉ yêu nước thành chủ nghĩa, mà anh hùng cũng
thành chủ nghĩa, hai mà một
Chính vì chủ nghĩa ấy mà nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết trong thời chiến
tranh chống Mỹ cứu nước : “Có lúc dân lấy hạt muối cuối cùng nuôi cán bộ, ta
mất hết còn gì đâu, còn lại cái anh hùng. Từ gốc ấy bỗng xuân về chớm nở, lại
xanh chồi, rừng lộc biếc xanh um” !
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là tình cảm, không chỉ là hành động
mà nó còn là trí tuệ của dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh phải đối đầu chống
giặc ngoại xâm trong nhiều nghìn năm, trong nhiều thời đại du lúc thắng lúc
thua nhưng cuối cùng đều đánh đổ được giặc xâm lăng, giành độc lập cho dân
tộc. Trong môi trường thực tiễn đó đã tạo ra một kho tàng kinh nghiệmvà trí tuệ
của dân tộc được đúc kết, trở thành có tính lý luận, có tính khoa học, có hệ

chiến tranh chính nghĩa, vì lợi ích chính đáng của dân tộc. Chúng ta không bao
giờ xâm lược ai mà chỉ đánh quân xâm lược để khẳng định chủ quyền dân tộc.
Dân tộc ta hình thành sớm ngay từ thời dựng nước và hình thành dân tộc không
giống như các dân tộc ở phương Tây sau này. Nó được hình thành không chỉ do
những điều kiện tự nhiên, ngôn ngữ, văn hóa mà trưóc hết là trong cuộc đụng
đầu với các thế lực ngoại bang. Do đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam phản ánh
nguyện vọng, lợi ích, lý tưởng hiện thực trong sự hình thành, bảo vệ, tự khẳng
định và phát triển dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn của Lý Thường Kiệt: Nam
quốc sơn hà nam đế cư, Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ
lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!.
Hay tuyên ngôn của Nguyễn Trãi - Lê Lợi trong Đại cáo Bình Ngô đã khẳng
định chủ quyền dân tộc, nền văn hiến và văn hóa lâu đời, khẳng định chủ nghĩa
yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, lòng bao dung và trí tuệ của dân tộc. Hoặc
Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là một bản tổng kết lịch sử trong thời đại


ngày nay về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam gắn với chủ nghĩa quốc tế chân
chính, không chỉ về mặt tinh thần, khí phách mà cả trí tuệ, tư tưởng của dân tộc
Việt Nam trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam còn trở thành hệ quy chiếu, phương pháp nhìn
nhận xem xét đâu là bạn đâu là thù, đâu là chính đâu là tà. Đâu là đạo đức, đâu
là phi đạo đức. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là đạo lý của dân tộc Việt Nam
có sức bền vững, trở thành cội nguồn của sức sống dân tộc. Giữ và phát huy
được truyền thống ấy với việc tiếp thu của tinh hoa thời đại thì không có sự việc
nào là không thành công.
Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của
loài người và đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, bổ sung và phát triển chủ nghĩa
Mác-Lênin và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, nâng chủ nghĩa yêu nước lên một
tầng cao mới. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành một trong những nội
dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, và tất nhiên cũng là một trong những

Trước thời cuộc phát triển kinh tế thị trường mở cửa; công nghiệp hóa - hiện đại
hóa; hội nhập xu thế toàn cầu hóa thì nền văn hóa các dân tộc nói chung, ở nước
ta nói riêng đang đứng trước những thử thách to lớn. Ở đây đòi hỏi nâng cao
chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới, nội dung mới để bảo vệ và phát triển
dân tộc mình trước cuộc chiến tranh không tiếng súng về tư tưởng, về thông tin,
về công nghệ, về kinh tế. Nhìn nhận một cách sâu sắc thì đây là thời điểm phải
thức dậy ý thức dân tộc. Dân tộc, yêu nước bây giờ là tiến lên giàu mạnh về
kinh tế và giàu mạnh về văn hóa, bảo vệ nền bản sắc văn hóa dân tộc, chủ
quyền dân tộc, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, sức sáng tạo của trí tuệ
Việt
Nam.
Niềm tự hào của dân tộc bây giờ chủ yếu không phải là chiến thắng một kẻ thù
xâm lược, trực tiếp mà là ở chỗ ra sức phát triển kinh tế xã hội để nâng cao vị
thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Ngày xưa, kẻ thù thường khinh ta
là quân man di, mọi rợ, nhưng khi ta thắng chúng thì chúng phải khâm phục và
nhất là trong các cuộc chiến tranh cứu nước trong thế kỷ XX của dân tộc ta, thì
Việt Nam đã trở thành lương tâm của thời đại, nhiều người nước ngoài đã từng
ao ước sau một đêm ngủ dậy trở thành người Việt Nam. Chúng ta tự hào thời
Bà Trưng, Bà Triệu, thời Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, thời Lê Lợi,
Nguyễn Trãi, thời Quang Trung thì chúng ta tự hào thời dựng Đảng - tức thời
đại Hồ Chí Minh, Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta. Nhưng thế giới
còn khinh ta nghèo, không biết làm ăn kinh tế. Quả thật chúng ta còn là một
trong hai mươi nước nghèo nhất thế giới, nếu xét về mặt kinh tế. Có nhiều
nguyên nhân kể cả nguyên nhân chủ quan nhưng chủ yếu là do bị chiến tranh
liên miên. Ngày nay chúng ta đã có hòa bình đang ổn định và phát triển, có nhà
nước của dân, do dân và vì dân, Đảng tin dân - dân tin Đảng, một dân tộc thông
minh và quật cường nhất định sẽ làm được sự nghiệp vì dân giàu nước mạnh, xã
hội dân chủ công bằng văn minh. Ngày nay đã có cơ hội cho các dân tộc chậm
tiến, vượt lên nhanh chóng trở thành giàu mạnh, văn minh. Các con rồng châu
Á là một điển hình thuyết thục, chúng ta sẽ làm được điều mà các dân tộc đi

sâu của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh mới thấm nhuần được những tư tưởng
và chỉ dẫn trong Di chúc của Người.
Nội dung của chủ nghĩa nhân văn thể hiện trong Di chúc trên khá nhiều phương
diện gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới. Ở đó
Người quan tâm đến số phận của nhân dân, số phận của tất cả các tầng lớp con
người trong xã hội, vừa là chủ thể của công cuộc giải phóng đã có nhiều cống
hiến xuất sắc, nhưng đồng thời cũng như nạn nhân chịu nhiều đau thương, mất
mát do chế độ thực dân và tay sai thống trị và đàn áp dân tộc trong nhiều thập
kỷ qua. Người yêu cầu Đảng và cách mạng phải đền đáp và phải có kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống cho nhân dân, xây dựng đất nước và
môi trường cảnh quan ngày càng tươi đẹp; đồng thời xây dựng những thế hệ
cách mạng nòng cốt, trẻ tuổi để trở thành lực lượng chủ lực xây dựng thắng lợi
xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là từng bước thực hiện cho được
những mục tiêu nhân văn mà Người và cả dân tộc theo đuổi, đó là: Toàn Đảng,
toàn dân đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập,
thống nhất dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách
mạng thế giới. Với Di chúc mà nội dung cụ thể đã được nhiều bài viết đề cập, ở


đây chỉ xin nói gọn lại là: Người để lại cho Đảng ta và nhân dân ta một tư duy
độc lập sáng tạo, luôn luôn đổi mới; để lại một tình cảm thương yêu rộng lớn,
nồng hậu trên tinh thần của chủ nghĩa nhân văn cách mạng; để lại một thông
điệp có tính cương lĩnh cho một thời kỳ xây dựng và phát triển mới của đất
nước; và cũng đã để lại cho nhân loại tiến bộ trên thế giới một ngọn cờ của hoà
bình và hạnh phúc, biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai. Đó là tiếng nói
của một Con Người gửi đến Con Người vì Con Người.
Chúng ta hãy trở lại mạch nguồn của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh. Trước
hết là lô gích của lịch sử, ta thấy rằng người thanh niên Nguyễn Tất Thành sống
trong khung cảnh nước mất nhà tan, dân tộc và nhân dân bị nô lệ, Anh đã mang
trong trái tim mình tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, nói rộng ra là chủ


đẹp nhất trong cuộc sống của con người, trong lịch sử của dân tộc và nhân loại
được thể hiện trong những phạm trù: hòa bình, hữu nghị, độc lập, tự do, dân
chủ, công bằng,bình đẳng, bao dung, bác ái, ấm no, hạnh phúc và tiến bộ cho
mọi con người và mọi dân tộc mọi cộng đồng xã hội trước hết cho dân tộc mình
rồi sau đó là toàn bộ nhân loại. Hồ Chí Minh đã đưa ra một triết lý nổi tiếng
"Không có gì quý hơn độc lập tự do". Tư tưởng hạt nhân đó của chủ nghĩa nhân
văn Hồ Chí Minh đã kết dính được toàn bộ nội dung tiến bộ trong chủ nghĩa
nhân văn tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn triết học Đông và Tây. Chủ nghĩa nhân
văn Hồ Chí Minh như một hệ thống tư tưởng thấm nhuần trong tất cả đời sống
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường sinh thái. Nền tảng của chủ
nghĩa nhân văn ấy lại dựa trên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa cộng
sản khoa học. Đó là chủ nghĩa nhân văn Việt Nam trong thời đại ngày nay dưới
ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin có sức lay động mọi con tim và khối óc
trong lao động và đấu tranh cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của con
người, xứng đáng hơn với con người. Đó là cuộc đấu tranh chống nạn áp bức
dân tộc, áp bức và bất công xã hội, đấu tranh chống nghèo đói, lạc hậu, dốt nát,
đấu tranh chống cường quyền, độc đoán, quan liêu và chủ nghĩa cá nhân để
hướng tới độc lập tự do, ấm no hạnh phúc cho dân tộc và nhân dân, tức là vươn
tới một vương quốc tự do, con người làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên, làm chủ
bản thân mình. Đó là một sự nghiệp vô cùng vĩ đại, lâu dài, khó khăn nhưng hết
sức vinh quang mà nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp
công nhân chắc chắn sẽ dành được. Chính vì sự nghiệp đó, với tư cách là người
suốt đời phấn đấu hy sinh và cùng nhân dân mình thực hiện từng bước mà được
thế giới công nhận Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa,
của thế giới.. Nhưng chúng ta còn thấy Người là một nhà hiền triết lớn của thời
đại, một lãnh tụ cộng sản lỗi lạc.
Là một nhà nhân văn hành động, Người đã dốc toàn lực cùng với toàn Đảng,
toàn dân tìm con đường cụ thể đề ra những mục tiêu và biện pháp cụ thể hết sức
thiết thực để thực hiện công cuộc giải phóng. Tự khẳng định mang tính chất

con người và sự nghiệp giải phóng con người.
Không chỉ là một vài vấn đề triết học về con người được trình bày trong các
giáo trình triết học hiện nay mà vấn đề là phải được xây dựng và trình bày thành
một hệ thống triết học về con người với tư cách chủ nghĩa duy vật nhân văn,
một triết học tương đối độc lập. Đặt vấn đề như vậy chúng ta mới có điều kiện
kế thừa tất cả những giá trị triết học nhân văn trong lịch sử, triết học về đời
sống, và khoa học nhân dạng, đồng thời phát triển, bổ sung mới dựa trên các
thành tự khoa học hiện đại như cận sinh học, cận tâm lý học và từ thực tiễn của
những cuộc đấu tranh vì hòa bình công bằng, an toàn sinh thái và tiến bộ xã hội
trên thế giới hiện nay, để làm sáng tỏ hơn nữa tầm triết học về vấn đề con
người. Tại sao không? Có thể nói rằng những vấn đề triết học và thế giới vật
chất, về xã hội loài người đã được căn bản giải quyết thông qua triết học MácLênin. Nhưng những vấn đề triết học về con người, dù có một số công trình
nghiên cứu nhưng còn là một khoảng trống khó khăn và chưa trở thành một triết
học thật sự (nhìn vào các giáo trình triết học hiện nay chúng ta càng nhận thấy
điều đó). Triết học nhân văn hiện đại dựa trên nguyên lý Thiên - Địa - Nhân hợp
nhất, con người là tiểu vũ trụ, sánh ngang với trời đất; dựa trên quan điểm của
Mác về con người thực tiễn và sự nghiệp giải phóng con người và cũng dựa trên


xu hướng chủ đạo của thời đại ngày nay là xu hướng văn hóa và nhân văn.
Triết học nhân văn nói trên có đối tượng nghiên cứu nguồn gốc, cấu trúc, bản
chất vai trò và số phận của con người; những động lực, những điều kiện hình
thành và phát triển con người cũng như sự nghiệp giải phóng con người một
cách toàn diện và triệt để. Chủ nghĩa duy vật nhân văn với ý tưởng vừa đặt ra và
nêu tóm tắt ở trên, chúng tôi đã có dịp trình bày trên tạp chí lý luận của Đảng
như là tạp chí Cộng sản, tạp chí Sinh hoạt lý luận và ở một Hội thảo khoa học
trong những năm gần đây (Tạp chí Cộng sản, năm 1994; Tạp chí Sinh hoạt lý
luận năm 1992, 1995, 1998; Hội thảo của Học viện Nguyễn Ái Quốc năm 1992)
. Muốn hiểu được chủ nghĩa nhân văn nói chung và chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí
Minh nói riêng một cách có hệ thống, khoa học phải đặt nó trên một cơ sở triết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status