Quan điểm của chủ nghĩa mác lênin về con người - Pdf 41

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

A.Lời mở đầu
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin lịch sử loài ngời xét đến
mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện cá nhân trong một xã hội văn
minh, làn sang văn minh đang da loài ngời tới một kỷ nguyên mới mở ra
bao khả năng để họ tìm ra những con đờng tối u đi tới tơng lai. Bởi lẽ ngời
lao động nớc ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của
đời sỗng xã hội và trong sự phát triển nền kinh tế đất nớc theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa thì chất lợng ngời lao động là nhân tố quyêt định trên cơ sở vận dụng khoa học và
sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về con ngời mà tại hội nghị lần thứ 4 của
ban chấp hành trung ơng khoá Vii Đảng ta đẫ đề ra thông qua nghị quyết
về sự phát triển con ngời việt nam tòn diện với t cách là động lực của sự
nghiệp xây dung xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội đó
là: "Con ngời phát triển cao về trí tuệ cờng tráng về thể chất phong phú về
tinh thần trong sáng về đạo đức
Do nhận thức tầm quan trọng của vấn đề con ngời đặc biệt là vấn đề
con ngời trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
nên em đã chọn đề tài tiểu luận. "Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
về con ngời".
Tuy nhiên, với giới hạn về thời gian cũng nh về năng lực thực tế hiện
có của sinh viên, chắc rằng đề tài tiểu luận này không tránh khỏi thiếu sót.
Vậy khính mong nhận đợc sự góp ý của Thầy cũng nh của các bạn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô giáo cùng các bạn đã tận
tình hớng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp đỡ bọn em trong quá trình làm tiểu
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!

1


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688


sông,muông thú nhiều lúc đã coi những thứ đó là nguồn gốc của tổ tiên
mình.Rồi dần dần con ngời bắt đầu tìm hiểu nguồn gốc của mình và có
những ý thức ban đầu về sức mạnh của bản thân mình.Nói chung các tôn
giáo đều quan niệm con ngời do thần thánh thợng đế sinh ra, cuộc sống con
ngời do đấng tối cao an bài sắp đặt.Giáo lý kito quan niệm con ngời về bản
chất là kẻ có tội.Con ngời không chỉ có thể xác mà còn có linh hồn.Thể xác
sẽ mất đi nhng linh hồn thì còn lại,con ngời phải cứu lấy linh hồncủa mình
linh hồn là phần cao quí của con ngời thể xác là phần thấp hèn vì vậy ngời
2


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

ta phải chăm lo cho linh hồn.Có những trào lu triết học duy tâm khong giải
thích nguồn gốc con ngời từ thời thần thánh hoặc từ con vật linh thiêngnào
hoạt động đã giải thích không kém phần bí hiểm.Theo Hêghen ý niệm tuyệt
đối tự tha hoá thành tự nhiên con ngời.Các bí hiểm của những tác động
cũng phần nào khác so với những từ thái, cực, đạo, khí ở phơng đôngđợc coi
nh nguồn gốc sinh ra vũ trụ và con ngời.
Song Hêghen cũng là ngời đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt
động của đời sống tinh thần mà phát hiện ra qui luật về sự phát triển của đời
sống tinh thần cá nhân đồng thời Heghen cũng đẫ nghiên cứu bản chất quá
trình t duy khái quát qui luật cơ bản của quá trình đó.
ở những nớc chụi ảnh hởng của khổng giáo, phật giáo và lão giáo triết
học cũng giải thích nguồn gốc con ngời hoặc từ một đấng thần linh tối cao
hoặc một lực lợng thần bí đã nói ở trên.
-

Theo mạnh tử con ngời sinh ra vốn là tốt do điều kiện sống tác


con ngời đã có trong các học thuyết trớc đây để đi tới quan niệm về con ngời hiện thực,con ngời thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội với t cách là con
ngời hiện thực, con vừa là sản phẩm của tự nhiên của xã hội đồng thời vừa
là chủ thể cải tạo tự nhiên.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin con ngời là khái niệm chỉ những cá thể ngời nh một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh và mặt xã hội của
nó.Con ngời là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh
vật.Do vậy nhiều qui luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến con ngời. Con ngời vốn là một sinh vật nhng lại phân biệt với các sinh vật khác.Do
đó để tồn tại con ngời cũng phải ăn phải uốngđiều đó giải thích vì sao
Mác cho rằng con ngời trớc hết phải ăn phải mặc, ở rồi mới làm chính trị
nhng chỉ cócon ngời là tổng hoà các quan hệ xã hội mà thực ra quan điểm
của Mác là một quan điểm toàn diên.
Mác và Anghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm của những nhà
triết học đi trớc rằng con ngời là một bộ phận của giới tự nhiên là một động
vật xã hội. Nhng khác với họ Mác Anghen xem xét mặt tự nhiên của con
ngời nh ăn ngủ đi lại yêu thíchkhông còn hoàn toàn mang tính tự nhiên
nh ở con vật mà đã đợc xã hội hoá, Mác viếtbản chất của con ngời không
phải là cái trừu tợng cố hữu của cá nhân riêng biệt.Trong tính hiện thực của
nó bản chất của con ngời là tổng hoà của những mỗi quan hệ xã hội.Con
ngời là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội nên Mác nhiều lần đã so

4


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

sánh con ngời với con vật, so sánh con ngời với những con vật có bản năng
gần giống với con ngời. Mác đã chỉ ra sự khác biệt đó ở nhiều chỗ nh chỉ ra
con ngời tự sản xuất ra những t liệu sinh hoạt của mình. Đó là một bớc tiến
do tổ chức cơ thể con ngời quết định. Sản xuất ra những t liệu sinh hạot của
mình nh thế con ngời đã gián tiếp sản xuất chính đời sống vật chất của


6


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

bồi dỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngời Việt nam là nhân tố
quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nớc.
Các nhà t tởng đã xuyên tạc chủ nghĩa Mác cho rằng đó làchủ nghĩa
không có con ngời thực tế thì chủ nghĩa Mác là một chỉnh thể thống nhất
của ba bộ phận triết học nghiên cứu các qui luật của thế giới giúp ta hiểu
bản chất mối quan hệ tự nhiên xã hội con ngời chính trị kinh tế,
vạch ra qui luật đi lên của xã hội. Học thuyết đó không chỉ chứng minh bản
chất của con ngời tổng hoà các quan hệ xã hội và bản tính con ngời
luôn vơn tới sự hoàn thiện mà còn vạch hớng đa con ngời đi đúng bản
chất và bản tính của mình, giải phóng xoá bỏ sự tha hoá tạo điều kiện phát
huy mọi sức mạnh bản chất con ngời. Chỉ có chủ nghĩa Mác Lênin mới
có thể vạch rõ đợc hớng đi đúng cho con đờng đi lên xã hộ chủ nghĩa ở Việt
nam, thực hiện ý chí độc lập tự do cho con ngời Việt nam điều mà bao
nhiêu học thuyết trớc Mác khong thể áp dụng đợc và chính chủ nghĩa Mác
Lênin đx làm thay đổi trở thành hê t tởng chính thống của toàn xã hội.
Với sức mạnh có tính khoa học học thuyết Mác Lênin đã vạch rõ
yếu tố phi khoa học phi nhân đạo, các loại thế giới quan nhân sinh quan sai
lệch mà trớc đó đã làm mai một trí tuệ tính tích cực trong con ngời của cac
shệ t tởng truyền thống. Mặt khác chủ nghĩa Mác Lênin còn thể hện rõ
tính u việt trong con ngời đối với các luồng t tởng t sản ngoại nhập của phơng tây và các trào t tởng t sản hiện đại đang làm lệch hớng đi của những
con ngời chân chính trong điều kiện đới sống vật chất khó khăn.
Nếu nh không có chủ ngghĩa Mác Lênin xã hội Việt nam phát triển
hơn đó là t tởng của những ngời thiếu hiểu biết về một xã hội tiến bộ luôn
coi cái trớc mắt mình là những thứ vô giá trị mà chỉ chạy theo trào lu. Điều


II- Vấn đề con ngời và giải phóng con ngời trong sự
nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

1. Vấn đề con ngời và giải phóng con ngời trong mục tiêu cách mạng
của Đảng ta.
Mục tiêu cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta là đem lại ấm no, tự
do, hạnh phúc cho cả cộng đồng và mỗi thành viên của cộng đồng với t
cách cá nhân. Trong quá trình đổi mới, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc, Đảng ta, Nhà nớc ta thực hiện các chủ trơng, giải pháp kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội phục vụ lợi ích của toàn xã hội, của cộng đồng,
bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, phát triển mạnh mẽ vững chắc kinh tế,
văn hoá, từng bớc thực hiện công bằng xã hội đó là lợi ích cơ bản của nhân
dân ta. Lợi ích chung đó không mâu thuẫn với lơi ích cá nhân mà là cơ sở
của lợi ích cá nhân. Chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta động viên toàn thể
cộng đồng phấn đấu vì lợi ích chung, đồng thời quan tâm thích đáng những
lợi ích cá nhân chân chính. Trong mỗi bớc đi của cách mạnh, chỉ có kết hợp
hài hoà lợi ích của toàn xã hội, đồng thời phát huy đợc tính tích cực sáng
tạo của mỗi cá nhân. Muốn đợc nh vậy, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa sự
phát triển kinh tế với từng bớc thực hiện công bằng xã hội. Phải kết hợp hài
hoà giữa giải phóng xã hội với giải phóng cá nhân. Phát huy nhân tố con
ngời có nghĩa là đồng thời phát huy nhân tố cộng đòng và nhân tố cá nhân.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngày dới chế độ xã hội
chủ nghĩa vẫn có những mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội. Để giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội cần tránh hai thái độ cực
đoan:
Một là, chỉ thấy cá nhân mà không thấy xã hội, đem cá nhân đối lập
với xã hội, đòi hỏi thoả mãn những yêu cầu cá nhân không phù hợp hoặc
cha phù hợp với lợi ích của xã hội và với điều kiện chung của xã hội, chỉ
đòi hỏi xã hội mà không thực hiện nghĩa vụ đối với xã hội. Đó là chủ nghĩa

quyết về xây dựng giai cấp công nhân. Nhà nớc cần bổ sung Luật công
đoàn.
Đối với nông dân, phải giải quyết tốt quan hệ giữa nghĩa vụ đóng góp
cho đất nớc và quyền lợi của nông dân. Nhà nớc phải soát lại các chính sách
quan hệ đến nông dân, bãi bỏ những chính sách không đúng.
10


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là bảo đảm quyền tự do sáng tạo.
Đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho năng lực đợc sử dụng đúng và
phát triển. Phá bỏ những quan niệm hẹp hòi, không thấy tầng lớp trí thức
ngày nay là những ngời lao động xã hội chủ nghĩa, đợc đảng giáo dục và
lãnh đạo, ngày càng gắn bó chặt chẽ với công nhân, nông dân.
Thanh niên, phải đợc bảo đảm việc làm khi bớc vào đời và đợc quan
tâm giáo dục về nhân cách, bản lĩnh và lý tởng theo phơng châm sống
chiến đầu, lao động và học tập theo gơng Bác Hồ vĩ đại. Phải có ý thức đầy
đủ rằng chính thanh niên là ngời có sứ mệnh lịch sử xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội. Mạnh dạn giao trách nhiệm cho thanh niên, và thông qua
các hoạt động xã hội mà đào tạo và bồi dỡng họ. Thiếu niên và nh đồng
phải đợc học tập và chăm sóc trong tình thơng của gia đình và xã hội. Các
cấp bộ Đảng và đoàn thanh niên phải chăm lo xây dựng Đội thiếu niên tiền
phong Hồ Chí Minh.
Phụ nữ nói chung, và lao động nữ nói riêng, có những đặc điểm cần đợc chú ý. Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghệp cách mạng,
cần làm cho đờng lối vận động phụ nữ của Đảng đợc thấu suốt trong cả hệ
thống chuyên chính vô sản, đợc cụ thể hoá thành chính sách, luật pháp. Các
cơ quan Nhà nớc, với sự phối hợp của các đoàn thể, cần có biện pháp thiết
thực tạo thêm việc làm, đào tạo và bồi dỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khoẻ
bà mẹ, trẻ em, thực hiện đúng Luật hôn nhân và gia đình. Tạo điều kiện cho

hoá dân tộc.
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa
do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo có mục tiêu chiến lợc là dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đó chính là một quá trình cải biến xã
hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy cao độ khả năng và trí tuệ ở mỗi con ngời Việt
Nam chúng ta hôm nay. Sự nghiệp to lớn ấy là quá trình phát triển hài hoà
kinh tế với văn hoá, xã hội, lấy con ngời làm trung tâm, tất cả vì con ngời,
do con ngời. Sự nghiệp ấy phải mang đậm tính nhân văn, ý nghĩa nhân đạo,
phải vì sự phát triển con ngời Việt Nam hiện đại, phải do chính con ngời
Việt Nam hôm nay, những ngời biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc, luôn hớng tới hệ giá trị chân thiệp mỹ, thực hiện.

12


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Ngay từ những ngày đầu của công cuộc xây dựng xã hội mới trên đất
nớc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi việc phát triển con ngời Việt Nam thời
đại mới vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Trong quan niệm của Ngời, phát
triển con ngời Việt Nam phải gắn liền với phát triển văn hoá, giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá
và quyền đợc hởng thụ những thành quả văn hoá dân tộc cho mọi ngời dân.
Khẳng định vị trí quan trọng, ý nghĩa lớn lao của truyền thống văn hoá dân
tộc trong công cuộc xây dựng xã hội mới trên đất nớc ta, Ngời cho rằng
phát triển văn hoá phải nhằm mục đích nâng cao đời sống tinh thần cho
quần chúng nhân dân lao động, văn hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân,
góp phần vào việc nâng cao đời sống tơi vui, lành mạnh của quần chúng
(10-59). Để phát triển văn hoá với tầm vóc và ý nghĩa lớn lao đó, theo Ngời,
chúng ta phải xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con ngời mới và cán bộ

Khẳng định tính đúng đắn của đờng lối xây dựng và phát triển nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong bài phát biểu khai
mạc Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII, Tổng bí th
Lê Khả Phiêu nhấn mạnh: Con ngời Việt Nam là sự kết tinh của nền văn
hoá Việt Nam. Vì vậy, quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam cũng
chính là quá trình thực hiện chiến lợc con ngời, xây dựng và phát huy
nguồn lực con ngời. Đây là khâu trung trung tâm của sự nghiệp xây dựng
nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hoá và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng
ta (14-11).
Trong bối cảnh quốc tế hiện thời, trong thực tiễn lịch sử cụ thể của
nớc ta hiện nay, công cuộc phát triển đất nớc theo hớng đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng, văn minh đang đề ra những yêu cầu hết sức cao và cũng trông đợi rất
nhiều ở văn hoá. Một khi văn hoá không đợc phát triển, bản sắc văn hoá
dân tộc không đợc giữ gin và phát huy với t cách là năng lực nội sinh, mối
quan hệ biện chứng và sự tác động qu lại giữa phát triển kinh tế và phát
triển văn hoá không đợc chú ý thoả đáng, thì không những tiềm năng sáng
tạo của con ngời Việt Nam bị suy yếu, mà cả vận hội cho sự phát triển tiếp
theo với tiềm năng sáng tạo sẵn có của con ngời Việt Nam cũng không con.
Tăng trởng kinh tế nhanh trong cơ chế thị trờng mà tách rời cội nguồn văn

14


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

hoá dân tộc, không dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc thì chúng ta sẽ không thể tránh khỏi lâm vào nguy cơ tha hoá. Xây
dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá, mở
cửa, giao lu, hội nhập và tăng cờng quan hệ hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa


Việt Nam ngang tầm thời đại. Chúng ta không thể không lấy việc bồi dỡng,
phát triển con ngời Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối
sống, nhân cách, bản lĩnh làm nhiệm vụ trung tâm của sự nghiệp xây dựng
và phát triển văn hoá, giữ gin và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Nói cách khác, đối với nớc ta hiện nay, việc vun trồng thế giới bên
trong cho con ngời Việt Nam hiện đại, làm cho họ đựơc phát triển toàn
diện, giúp cho họ thực hiện đợc khát vọng ngàn đời của mình về Chân
Thiện Mỹ - đó là nhiệm vụ to lớn, không có gì có thể so sánh nổi của
văn hoá, của sự nghiệp phát triển văn hoá, giữ gian và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc. Bởi lẽ, ở xã hội nào, ở thời đại nào cũng vậy, khi trình độ học
vấn, trình độ văn hoá của con ngời càng cao thì họ càng có cơ hội nắm bắt
các kiếnthức khoa học, sử dụng công nghệ và khả năng sáng tạo của họ
càng lớn. Đó là điều kiện quan trọng bậc nhất để con ngời nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất. Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
địa hoá xã hội, khi các công nghệ lạc hậu đợc thay bằng các công nghệ tiên
tiến, khi các phơng tiện lao động cũ bị thay thế bởi các phơng tiện lao động
hiện đại hơn, thì trình độ học vấn, trình độ văn hoá của ngời lao động càng
có tầm quan trọng hơn. Ngời lao động phải có học vấn, có trình độ văn hoá
ở mức độ cần thiết nào đó thì họ mới có khả năng tiếp thu các kiến thức
khoa học, kỹ thuật cần thiết để sử dụng và điều khiển các phơng tiện kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến. Và trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá xã hội theo phơng thức đuổi kịp, đi tắt, đón đầu nh nớc ta
hiện nay, việc nâng cao trình độ học vấn, phổ cập văn hoá ở một bậc nào đó
cho ngời lao động càng trở thành vấn đề cấp thiết. Để đạt đợc điều đó,
chẳng những giáo dục và đào tạo phải trở thành quốc sách hàng đầu, mà
thiết nghĩ, cả phát triển văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc cũng phải đợc coi là quốc sách hàng đầu.
Có thể nói, ngày nay, khi chúng ta ý thức đợc một cách sâu sắc rằng
chỉ có trên cơ sở nâng cao cả mặt bằng dân trí và đỉnh cao dân trí, bồi d-

con ngời ngang tầm đòi hỏi của sự nghiệp đẩy công nghiệp hoá, hiện đại
hoá xã hội theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Nó nằm ngay trong chiến lợc
phát triển ấy, gắn liền với chiến lợc phát triển ấy. Nó là mục tiêu, là đông
lực, là hệ điều tiết của chiến lợc phát triển ấy.

17


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

4. Nghiên cứu con ngời trớc thềm thế kỷ XXI.
ở Việt Nam, việc nghiên cứu về con ngời đơng nhiên, có nhiều mục
đích, nhng một trong những mục đích đó là nhằm tiến tới một hiểu biết sâu
sắc hơn, đầy đủ hơn về chính con ngời Việt Nam con ngời Việt Nam
hiện đại và truyền thống: con ngời Việt Nam trong so sánh với con ngời phơng Tây, Đông á và Đông Nam á .v.v.. Nhiệm vụ này rõ ràng là mới mẻ,
cấp bách, nhng về một phơng diện nào đó, nhiệm vụ này lại cũng khá quen
thuộc và có thể nói, đã ít nhiều có truyền thống đối với giới nghiên cứu ở
Việt Nam.
Bởi lẽ, ở Việt Nam, trớc kia, văn sử triết bất phân. Hơn một nghìn
năm, kể từ khi Nho giáo du nhập, tri thức của văn hoá Nho giáo chủ yếu là
tri thức về con ngời chủ đề bao trùm là dạy và học làm ngời. Hồi đầu thế
kỷ, với phong trào Duy tân, Đông du, con ngời Việt Nam lần đầu tiên đợc
đem so sánh với ngời phơng Tây và ngời Đông á. Kể từ đó cùng với sự tiếp
thu và phát triển các khoa học chuyên ngnàh, tri thức về con ngời nói chung
và con ngời Việt Nam nói riêng đã đợc tích luỹ ngày một phong phú hơn,
nhng tản mạn trong các ngành khoa học riêng rẽ nh sử học và khảo cổ học,
y học và dân tộc học, xã hội học và tâm lý học .v.v. Từ giữa nhng năm 80,
vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc nổi lên và cùng với chủ đề này, việc nghiên
cứu con ngời Việt Nam để xác định đặc trng của ngời Việt Nam đã thu hút
đợc sự chú ý của đông đảo các nhà nghiên cứu và các nhà hoạt động xã hội.

đặt ra trong thời đại toàn cầu hoá, ngời Việt có đặc thù xã hội, đặc thù tâm
lý, đặc thù văn hoá (và có thể có những nét đặc thù sinh học) riêng. Đó là
những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam đợc vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nớc và giữ
nớc nh đã đợc Đảng ta khẳng định.
Đơng nhiên, cái riêng, cái đặc thù ở đây không hiểu theo nghĩa tuyệt
đối. Riêng không có nghĩa là không hề tồn tại ở các dân tộc khác, mà
riêng chỉ với nghĩa là khác về vị trí trong bảng giá trị so với các dân tộc
khác.
Với tinh thần ấy, chúng tôi hiểu những giá trị đặc thù của con ngời
Việt Nam không phải chỉ là một hành trang dành riêng cho sự phát triển
19


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

của xã hội Việt Nam, bên thềm thế kỷ XXI, đó còn là một phần tài sản
chung của văn hoá nhân loại.

20


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

C- Kết luận
1. Tóm tắt
Tóm lại trong đề tài là vấn đề con ngời và giải phóng con ngời trong
triết học Mác Lênin và trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.
Đề tài cho em hiểu đợc nguồn gốc và bản chất của con ngời. Mối quan


4.

Nghiên cứu con ngời đối tợng và những hớng chủ yếu - Chủ biên
GSVSTSKH Phạm Minh Hạc Nhà xuất bản khoa học xã hội

5.

Nền kinh tế tri thức và yêu cầu - Nhà xuất bản chính trị quốc gia

6.

Nguyễn Thị Phi Yến : Tìm hiểu vai trò quản lý nhà nớc đối với việc
phát huy nhân tố con ngời trong phát triển kinh tế - Nhà xuất bản
chính trị quốc gia

7.

Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII

8.

Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

22


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

mục lục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status