Vấn đề đổi mới quan hệ sản xuất dẫn đến phát triển lực lợng sản
xuất trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam
ở nớc ta trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trớc đây, đã có lúc chúng ta tởng rằng
có thể thiết lập đợc một quan hệ sản xuất cao hơn, đi trớc để mở đờng cho lực lợng sản xuất phát
triển. Song kết quả lại diễn ra trái với mong muốn của chúng ta. đó là lực lợng sản xuất không
phát triển, tình trạng trì trệ kéo dài, hàng hóa sản xuất rra kém chất lợng, giá thành cao không thể
cạnh tranh với hàng ngoại, lại khan hiếm không đủ để thỏa mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng, đời
sống nhân dân rất khó khăn.
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Song, một trong
những nguyên nhân quan trọng là do chúng ta đã áp đặt chủ quan một quan hệ sản xuất không
phù hợp với lực lợng sản xuất . Trong điều kiện lực lợng sản xuất còn ở trình độ thấp kém, phổ
biến là sản xuất nhỏ nhng vì muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã nhấn mạnh
quá mức quan hệ sở hữu mà cha chú ý đúng mức tới quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân
phối, trao đổi. Từ đó đã dẫn đến việc mở rộng ồ ạt hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, các
thành phần kinh tế khác bị ngăn cấm hoặc
xóa bỏ để chuyển sang kinh tế quốc doanh và tập thể qua các đợt cải tạo công th ơng nghiệp t bản
t doanh. Bên cạnh đó, việc duy trì quá lâu cơ chế hành chính, tập trung, quan liêu, bao cấp và
kèm theo nó là sự phân phối bình quân, lợi ích cá nhân cha đợc quan tâm đúng mức đã kìm hãm
sức sản xuất của xã hội. Các thành phần kinh tế t nhân, t bản nhà nớc cha đợc phát huy tác dụng.
Động lực sản xuất bị giảm, ngời lao động xa lánh t liệu sản xuất, thờ ơ với các kế hoạch của tập
thể và Nhà nớc.
Thực tế phát triển kinh tế ở nớc ta gần 40 năm qua đã chứng minh rằng: quan hệ sản xuất
kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất không chỉ khi nó trở nên lạc hậu, mà cả khi nó đợc
áp đặt một hình thức đi trớc quá xa so với lực lợng sản xuất, một lần nữa quy luật quan hệ sản
xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất lại thể hiện rõ tính tất
yếu và tính phổ biến mạnh mẽ của nó bất chấp cả ý muốn chủ quan của con ngời. Dù mong muốn
đẩy mạnh phát triển sản xuất, nhanh chóng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế,
chúng ta cũng không thể bất chấp quy luật, mà trái lại phải tôn trọng và hành động đúng quy luật
khách quan. Đó là một trong những bài học lớn mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng đã chỉ rõ.
Đảng ta đã nhận thức đúng quy luật khách quan nên đã có những đớng lối, chủ trơng
Thứ hai: Khi lực lợng sản xuất đợc giải phóng sẽ tạo ra động lực để khai thác và sử dụng
có hiệu quả tất cả các nguồn kực hiện có nh nguồn lực nhàn rỗi trong dân c, tài nguyên thiên
nhiên, đất đai, lao động và trí tuệ con ngời.
Thứ ba: chỉ khi lực lợng sản xuất đợc giải phóng, mọi tiềm năng sản xuất đợc gợi mở,
khơi thông, chúng ta mới có thể thu hút mạnh mẽ vốn đầu t của nớc ngoài để tranh thủ vốn, kỹ
thuật công nghệ hiện đại và tri thức quản lý kinh nghiệm tiên tiến nhằm thúc đẩy nhanh chóng
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh ế nớc ta.
Giải phóng lực lợng sản xuất thực chất là giải tỏa, tháo gỡ những lực lợng cản kìm hãm sự
phát triển của lực lợng sản xuất. Giải phóng và phát triển lực lợng sản xuất là hai quá trình diễn ra
đồng thời và có tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau.
Quá trình phát triển lực lợng sản xuất đòi hỏi chúng ta phải thờng xuyên đổi mới quan hệ
sản xuất, khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực có thể có, cả nguồn lực bên trong và
bên ngoài. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công
nghệ hiện đại, lực lợng sản xuất của nhiều quốc gia trên thế giới phát triển nhanh chóng và ngày
càng mang tính chất quốc tế hóa cao. Do đó giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay đang diễn ra
xu hớng vừa cạnh tranh gay gắt vừa giao lu và hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ...
Bất cứ quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển cũng phải hòa nhập vào xu thế chung đó. Đối với
nớc ta, để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nớc xung quanh, giữ đợc ổn định chính trị,
xã hội, bảo vệ đợc độc lập chủ quyền và định hớng phát triển xã hội chủ nghĩa thì nhiệm vụ trung
2
tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới là phải thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải tăng cờng mở rộng quan
hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực với tất cả các nớc, các khu vực trên thế giới. Để giải phóng và phát
triển lực lợng sản xuất, chúng ta thừa nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, trong đó có thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa.
Một đất nớc vừa phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa lại vừa thừa nhận sự phát triển
của thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa. Điều đó không phải là một nghịch lý, vấn đề đặt ra ở đây
3
giữa lực lợng sản xuất mới và quan hệ sản xuất già cỗi đợc giải quyết, bớc quá độ từ một
chế độ xã hội lỗi thời sàng một chế độ mới cao hơn đợc thực hiên.
Xét đến cùng, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài ngời là hoạt động
sản xuất ra của cải vật chất. Song sự phát triển của sản xuất chỉ diễn ra khi quan hệ sản
xuất còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất đã
lỗi thời thì mâu thuẫn với lực lợng sản xuất, mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội thành
mâu thuẫn giữa giai cấp cách mạng đại biểu cho phơng thức sản xuất mới, với giai cấp
bóc lột, thống trị - đại biểu cho những lợi ích gắn liền với quan hệ sản xuất lỗi thời. Mẫu
thuẫn đó chỉ có thể đợc giải quyết bằng cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp cách
mạng và quần chúng bị bóc lột, mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội, thay thế quan
hệ xã hội cũ bằng quan hệ sản xuất mới, mở ra địa bàn mới cho sản xuất xã hội phát triển.
Sản xuất xã hội phát triển, đơng nhiên kéo theo sự phát triển của toàn bộ đời sống xã hội.
Từ khi phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa xuất hiện trên vũ đài lịch sử, việc xã
hội nắm lấy quyền sở hữu toàn bộ t liệu sản xuất đã luôn luôn là một lý tởng tơng lai mà
nhiều cá nhân cũng nh nhiều môn phái trọn vẹn đã từng phảng phất nhìn thấy ít nhiều lờ
mờ ở trớc mắt. Nhng việc chiếm hữu đó chỉ có thể trở thành một khả năng, trở thành một
tất yếu lịch sử, một khi mà các điều kiện vật chất để thực hiện việc đó đã có sẵn rồi. Cũng
nh mọi sự tiến bộ khác của xã hội, việc đó mà có thể thực hiện đợc, thì không phải là do ở
chỗ ngời ta đã hiểu rằng sự tồn tại của giai cấp là trái với chính nghĩa, trái với bình đẳng,
không phải là do ở chỗ chỉ đơn thuần có ý muốn tiêu diệt các giai cấp ấy, mà là do
những điều kiện kinh tế mới nhất định. Tình trạng xã hội phân chia thành một giai cấp
bóc lột và một giai cấp bị bóc lột, thành một giai cấp thống trị và một giai cấp bị áp bức là
một hậu quả tất nhiên của tình trạng phát triển thấp kém của nền sản xuất trớc kia. Chừng
nào tổng số sản phẩm do lao động của xã hội làm ra chỉ mới cung cấp đợc một số gọi là
vợt chút ít cái số thật cần thiết để vừa đủ để đảm bảo sự sinh sống của mọi ngời mà thôi,
chừng nào mà lao động vẫn choán hết hay hầu hết thời giờ của đại đa số thành viên trong
6
Để thực hiện mục tiêu cách mạng là dâu giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn
minh, điều cơ bản là phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa; thực
hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo
vệ Tổ quốc, bảo vệ chính quyền nhân dân và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ sự
nghiệp trên đây là lợi ích căn bản của dân tộc và nhân dân lao động. Tuyệt đại đa số trong
cộng đồng dân tộc Việt Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí
thức, các tầng lớp lao động khác, tầng lớp t sản dân tộc, các nhân sĩ yêu nớc... tán thành
mục tiêu nói trên. Tuy nhiên một bộ phận nhỏ trong xã họi vì quyền lợi ích kỷ, vì hận thù
giai cấp, đã và đang liên kết với các thế lực phản động quốc tế chống lại sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta. Vì vậy, đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở nớc ta trớc hết là
cuộc đấu tranh dới nhiều hình thức giữa một bên là quần chúng nhân dân lao động, các
lực lợng xã hội đi theo con đờng dẫn đến mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng
van minh, đoàn kết trong mặt trận thống nhất dân tộc do Đảng lãnh đạo, với một bên là
các thế lực, các tổ chức, các phần tử chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chống
Đảng, Nhà nớc và pháp luật, phá hoại trật tự xã hội va an ninh quốc gia.
Các thế lực phản động trong nớc và quốc tế chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội chủ yếu thông qua diễn biến hoà bình nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản, làm tan rã về hệ t tởng tiến tới lật độ chính quyền nhân dân bằng hình thức này hay
hình thức khác.
Cuộc đấu tranh giữa hai con đờng, con đờng xã hội chủ nghĩa và con đờng t bản
chủ nghĩa cũng là biểu hiện của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở nớc ta. Đây là
cuộc đấu tranh giữa các nhân tố thúc đẩy đất nớc phát triển theo định hớng xã hội chủ
nghĩa với các nhân tố thúc đẩy đất nớc dịch chuyển theo định hớng t bản chủ nghĩa. Các
nhân tố tự phát t bản chủ nghĩa này đợc những thế lực chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội lợi dụng phục vụ mục tiêu của chúng. Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hớng phát
triển trên đây diễn ra hàng ngày hàng giờ trên tất cả các lĩnh vực, trớc hết là lĩnh vực kinh
xuất và quan hệ sản xuất , do tính tất yếu kinh tế quy định. Các quy luật xã hội chính là hiện thân
của các quy luật tự nhiên đợc con ngời sử dụng nó để kiến tạo nên xã hội loài ngời.
Tiến trình lịch sử là quá trình phát triển biện chứng vừa bao hàm sự phát triển đứt đoạn và
liên tục. Trong quá trình sản xuất , con ngời có những quan hệ với nhau, đó chính là quan hệ sản
xuất. Những quan hệ sản xuất đó do trình độ của lực lợng sản xuất quy định. đến lợt nó quan hệ
sản xuất lại quy định các quan hệ xã hội khác nh : chính trị, luật pháp, đạo đức Khi lực lợng sản
xuất phát triển đến một mức độ nào đó thì những thay đổi về chất mâu thuẫn gay gắt với những
quan hệ sản xuất có, dẫn đến đòi hỏi khách quan là thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ
sản xuất mới thông qua cuộc cách mạng xã hội. Quan hệ sản xuất thay đổi thì toàn bộ các quan
hệ sản xuất khác cũng thay đổi. Nh vậy, phơng thức sản xuất thay đổi, các quan hệ xã hội, chính
trị, tinh thần thay đổi dẫn đến sự thay đổi của hình thái kinh tế xã hội. Chính vì thế, V.I.Lênin
viết:Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những
quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lợng sản xuất thì ngời ta mới có thể có đợc
những cơ sơ vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá
trình lịch sử tự nhiên.
Quá trình tự nhiên của sự phát triển lịch sử đợc chia ra thành những bậc thang lịch sử
khác nhau, ứng với một trình độ kinh tế, kỹ thuật nhất định trong từng phơng thức sản xuất nhất
định. Thực tiễn đã cho thấy, loài ngời đã, đang và sẽ trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội theo thứ
tự từ thấp đến cao. Đó chính là quá trình tự nhiên của sự phát triển lịch sử, thể hiện tính liên tục
của lịch sử. Tuy nhiên, đối với mỗi nớc cụ thể, do những điều kiện khách quan và chủ quan riêng
8
thì một nớc nào đó, một dân tộc nào đó có thể bỏ qua những chế độ xã hội nhất định. Sự khác
nhau về trật tự phát triển ở phạm vi toàn nhân loại vẫn là quá trình lịch sử tự nhiên, còn đối với
từng quốc gia, dân tộc cụ thể bỏ qua những nấc thang nhất định. V.I.Lênin viết: tính quy
luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đã không loại trừ mà trái lại, còn bao
hàm một số giai đoạn phát triển mang những đặc điểm hoặc về hình thức, hoặc về trình tự
của sự phát triển đó.
đó là thời kỳ quá độ.
9
Tuỳ theo điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của mình mà các nớc các dân tộc sẽ thực hiện sự
quá độ lên CNXH dới những hình thức, bớc đi khác nhau, do trình độ xuất phát khác nhau. Có
thể khái quát thành 3 loại nớc tơng ứng với 3 kiểu quá độ:
Những nớc TBCN phát triển cao
Những nứơc đạt trình độ phát triển TBCN ở mức trung bình thấp
Những nớc cha trải qua giai đoạn TBCN của sự phát triển lịch sử
Nớc ta thuộc loại nớc thứ ba. Do toàn bộ những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
quy định, nớc ta đi theo con đờng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu của lịch sử. Để nhận dạngcon
đờng đi lên của nớc ta, trớc hết cần phân tích đầy đủ và chính xác điểm xuất phát từ đó nớc ta quá
độ lên CNXH. Để xác định con đờng đi lên của mình, cụ thể trong điều kiện hiện nay chính là
thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc thì điều cần thiết là phải xuất phát từ
thực trạng kinh tế xã hội của đất nớc, xuất phát từ đặc điểm LLSX và QHSX ở nớc ta để lựa chọn
đúng hình thức kinh tế cho hiệu quả, xác định rõ những bớc đi cụ thể theo mục tiêu đã chọn.
Nghị quyết Trung ơng 5 về văn hoá và Nghị quyết Trung ơng 6(lần1) khoá VIII về kinh tế gần
đây đã khẳng định cần phải đẩy mạnh việc phát huy nội lực kinh tế, tăng cờng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, mở rộng thị trờng tiêu thụ, mạnh dạn hội nhập vào thị trờng khu vực và thế giới. Đó
phải là một quá trình đan xen giữa nhiệm vụ trực tiếp và gián tiếp xây dựng CNXH, là quá trình
còn nhiều mâu thuẫn, nghịch lý, bất công mà tạm thời phải chấp nhận, và cuộc vận động của lịch
sử CNXH trên thực tế sẽ xoá bỏ dần những mâu thuẫn, nghịch lý, bất công ấy. Sự định h ớng
XHCN còn chứa đựng một vấn đề cơ bản không thể né tránh. Đó là thời kỳ ai thắng ai. Cho
nên, không chỉ có khả năng đi đúng hớng mà còn có khả năng đi chệch hớng. Chệch hớng là một
nguy cơ có thật. Quá trình đi theo con đờng XHCN quyết không phải là sự chuyển động phẳng
lặng theo một chiều mong muốn, đặc biệt cơ chế thị trờng đợc coi là phơng tiện khách quan để
xây dựng CNXH. Nó là phơng tiện để phát triển kinh tế, nhng sự phát triển ấy lại tiềm ẩn nguy cơ
CNXH bị huỷ hoại.
Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng đã xác định 6 đặc
trng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng. Nói định hớng XHCN nghĩa là nói mục tiêu
chúng ta đạt tới. Đó cũng là hành lang của sự phát triển , sự sáng tạo.
Cơng lĩnh vạch ra những phơng hớng cơ bản chỉ đạo quá trình thực hiện những đặc trng của
CNXH trên đất nớc ta. Những phơng hớng đó vừa mang tính bảo đảm không chệch hớng XHCN,
vừa quán triệt tinh thần đổi mới cho phép không lặp lại những sai lầm cũ, tinh thần từng bớc thực
hiện những đặc trng của CNXH. Chẳng hạn, trong cách mạng QHSX, sự định hớng XHCN có
nghĩa là thiết lập từng bớc QHSX XHCN phù hợp với sự phát triển của LLSX. Do đó,QHSX
XHCN sẽ đợc hình thành từ thấp đến cao, rồi sự đa dạng về hình thức sở hữu.
Sau cơng lĩnh, các hội nghị của Trung Ương Đảng từ Đại Hội VII đến nay đã cụ thể hoá
thêm một bớc sự định hớng XHCN trên các mặt đời sống xã hội. Sau 12 năm đổi mới, đất nớc ta
đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, đã thu đợc những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan
trọng. Đất nớc ta, nhờ đó có thể chuyển sang thời kỳ mới : đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc.
Nhận định chung về quá trình định hớng XHCN sau 12 năm đổi mới Đảng ta khẳng định: về cơ
bản việc hoạch định và thực hiện đờng lối đổi mới những năm qua là đúng đắn, đúng định hớng
XHCN. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện có một số khuyết điểm, lệch lạc kéo dài, dẫn đến
chệch hớng ở mức độ này hay mức độ khác. Nhận định đó là đúng đắn và sáng suốt , phản ánh
tinh thần đầy trách nhiệm của Đảng ta đối với vận mệnh của dân tộc, của hàng triệu quần chúng
nhân dân lao động nền tảng của chế độ ta.
Từ đó, một mặt cổ vũ cho nhân dân ta phát huy tinh thần tự lực tự cừơng để đ a đất nớc ra
chứng. Chính sự thống nhất và tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất đã hình thành
nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển của lực l ợng
sản xuất.
Lực lợng sản xuất là nhân tố thờng xuyên biến đổi và phát triển. Ngợc lại quan hệ sản
xuất thờng có tính ổn định trong một thời gian dài.
Sự biến đội của lực lợng sản xuất có nhiều nguyên nhân:
- Bản thân ngời lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không ngừng tích luỹ và tăng
lên.
- Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
- Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản xuất đợc.
Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một giới hạn nhất định sẽ đặt ra
nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có. Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng
một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong cả một phơng thức sản xuất lỗi thời và sự ra
đời của một phơng thức sản xuất mới. Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ chỗ là hình thức
kinh tế cần thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lợng sản xuất giờ đây trở thành
12
những hình thức kìm hãm sự phát triển đó. Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của
quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản xuất.
Thực tiễn cho thấy rằng lực lợng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản
xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó. quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả
tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất đã bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhng còn lực lợng sản xuất ngời không
phát hiện đợc cũng nh mâu thuẫn đợc phát hiện mà không giải quyết đợc hoặc giải quyết một
cách sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực
lợng sản xuất.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực lợng sản xuất đối với
quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tơng đối với lực lợng sản xuất. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lợng sản xuất , nó là yếu tố
triển. Nh vậy thực tiễn trang bị những phơng tiện mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà
soát sự nhận thức. Thực tiễn lắp đi lắp lại nhiều lần, các tài liệu thu thập đợc phong phú, nhiều vẻ,
con ngời mới phân biệt đợc đâu là mối quan hệ ngẫu nhiên bề ngoài, đâu là mối liên hệ bản chất,
những quy luật vận động và phát triển của sự vật.
2,Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó đợc vận dụng vào thực tiễn. Mục đích
cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là nhằm cải tạo hiện thức khách
quan, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần xã hội. Sự hình thành và phát triển của nhận
thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do yêu cầu của thực tiễn.
Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn,
giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức
con ngời mới thể hiện đợc sức mạnh của mình, sự hiểu biết của con ngời mới có ý nghĩa.
3,Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức
Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng thì nó phục vụ thực
tiễn phát triển và ngợc lại.
4,Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
a.Chân lý
Là những tri thức phản ánh đúng đắn thế giới khách quan đợc thực tiễn khẳng định ( nội
dung khách quan, có ý nghĩa giá trị đối với đời sống con ngời)
Chân lý mang tính khách quan, nó không phụ thuộc vào số đông (ví dụ: chân lý tôn giáo).
Chân lý mang tính hai mặt ( tuyệt đối và tơng đối ) vì tính hai mặt trong quá trình nhận
thức của nhân loại.
b.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý không
phải là ý thức t tởng, t duy mà là thực tiễn. Bởi vì chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, tri thức
mới trở lại tác động vào thế giới vật chất, qua đó nó đợc hiện thực hoá, vật chất hơn thành
các khách thể cảm tính. Từ đó mới có căn cứ để đánh giá nhận thức của con ngời đúng hay sai, có
đạt tới chân lý hay không.
Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con ngời cũng đợc kiểm tra thông
qua rất nhiều hình thức khác nhau.
độ tăng trởng và hiệu quả kinh tế - xã hội nớc nhà .
Bất kỳ sự vật hiện tợng nào cũng đều có quy luật vận động và phát triển của nó . Đối với
LLSX cũng vậy, nó cũng tuân thủ sự vận động và phất triển bằng biện chứng giữa tuần tự và nhảy
vọt. Tuần tự trong LLSX đợc hiểu là một quá trình biến đổi dần dần về số lợng của nó . Nhảy vọt
trong LLSX là một quá trùnh biến đổi sâu sắc căn bản về chất lợng của nó, là quá trình biến đổi
từ chất cũ sang chất mới.
Mặc dù giữa hình thức phát triển nhảy vọt và tuần tự có sự khác nhau cơ bản song chúng
có mối quan hệ biện chứng với nhau . Hình thức phát triển này làm tiền đề cho hình thức phát
triển kia nh là mối quan hệ nhân quả, chúng là các giai đoạn phát triển của một quá trình thống
nhất .
Giai đoạn phát triển tuần tự về mặt lợng tự nó không làm thay đổi chất lợng của LLSX
mà chỉ tạo nên sự thay đổi những thuộc tính về lợng, chỉ là bớc chuẩn bị tiền đề để chuyển sang
một giai đoạn phát triển mới, cao hơn, mạnh hơn về chất . Sự phát triển có tính cách mạng của
LLSX là bớc nhảy vọt căn bản tạo nên một chất lợng hoàn tòan mới trong kết cấu cấu trúc cũng
nh trong mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành LLSX. Sự phát triển trong LLSX có đặc tính làm
thay đổi căn bản những t liệu lao động, quy trình công nghệ cơ sở khoa học của SX, yếu tố chủ
quan trong LLSX .
15
Hành trang của chúng ta để đi lên CNXH là quá thấp và lạc hậu, không tập chung. Chỉ
cần nhìn lại tình hình SX nông nghiệp: cho đến năm 80 nông nghiệp cha vợt ra khỏi khuôn khổ
của nền SX nhỏ, nó chỉ mới đang ở ngỡng cửa của SX hàng hoá. Hiện nay nông nghiệp nớc ta
chiếm 70% lực lợng lao động XH,sức kéo trâu bò mới chỉ đảm bảo đợc 47% diện tích canh tác,
sức kéo bằng máy đảm bảo 37%, còn lại 16% diện tích cha có sức kéo phải dùng sức ngời để
thay thế .
Về trình độ văn hoá và trình độ kỹ thuật của ngời lao động ở nớc ta vẫn đang còn thấp,
năng lực quản lý còn kém, tỷ lệ cán bộ ở trình độ đại học đạt 3,7%. Có rất nhiều nguyên nhân
dẫn đến sự lạc hậu đó trong LLSX của nớc ta hiện nay: Một đất nớc vừa thoát ra khỏi chế độ
16
hiệu hoá khi nó không đợc đặt trong mối quan hệ giữa t liệu lao động và ngời lao động, đối tợng
lao động .
2/Sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở Việt Nam:
a/ Tất yếu khách quan của sự đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nớc ta trong giai
đoạn hiện nay :
Các loại hình sở hữu quy định các thành phần kinh tế tơng ứng. Thực tiễn đã cho thấy
một nền kinh tế nhiều thành phần đơng nhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu chứ không
đơn thuần nh là hai hình thức trớc đây.
Mác và Lênin trong quá trình phân tích sự vận động của các nền kinh tế đã từng nói tồn
tại trong lịch sử đã chỉ ra rằng rất hiếm khi nền kinh tế chỉ tồn tại một thành phần kinh tế duy
nhất. Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ đấu tranh giữa hai thế lực mới và cũ, cái cũ đã bị tiêu
diệt nhng cha bị tiêu diệt hẳn, cái mới đang nảy sinh nhng đang còn rất non yếu. Do đó trong nền
kinh tế bao gồm những biện pháp của thời kỳ CNTB cũng nh của trớc XHTB còn rơi rớt lại và
còn của CNXH. Những phần đó là những bộ phận kinh tế cùng tồn tại bên cạnh nhau trong thời
kỳ quá độ hay trong nền kinh tế thị trờng .
Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng, nhng trong quá trình
chuyển đổi đó còn gặp rất nhiều khó khăn nh: nạn thất nghiệp gia tăng tệ nạn xã hội ngày càng
nhiều. Trong nền kinh tế thị trờng nhiều nhà sản xuất kinh doanh không hiểu quy luật cung cầu
nên dễ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, làm cho sản xuất mất ổn định. Kinh tế thị trờng cũng đẩy
nhanh sự phân biệt giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội. Bên cạnh đó thì tài nguyên thiên
nhiên cũng bị khai thác một cách bừa bãi, gây ô nhiễm môi trờng. Do đó sự tồn tại của nhiều nền
kinh tế góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy sự tăg trởng và phát triển
nền kinh tế .
b.Các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN ở nớc ta
hiện nay:
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo chế độ XHCN ở nớc ta hiện nay, vấn đề chế
nhau. Địa vị của chúng phụ thuộc vào sự phát triển của LLSX, tiến trình của nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo định hớng XHCN. Thừa nhận đa dạng hoá các loại hình sở hữu không
đồng nghĩa với sự chấp nhận chế độ ngời áp bức bóc lột con ngời. Việc xây dựng nền kinh tế thị
trờng không thể tách rời việc đa dạng hoá các hình thức sở hữu về TLSX. Tuy mhiên kinh tế thị
trờng mà chúng ta đang xây dựng là nền kinh tế theo định hớng XHCN, chính vì vậy việc đa
dạng hoá các hình thức sở hữu mang nét độc đoá riêng. Sự hình thành và phát triển một cách đa
dạng các hình thức sở hữu cho phép giải phóng đợc các năng lực sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát
triển, cải thiện đời sống nhân dân .
3/Sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX
a/ Tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất :
Tính chất của lực lợng sản xuất là tính chất của TLLD và ngời lao động. Khi công cụ sản
xuất đợc sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để sản xuất ra một sản phẩm cho XH không cần
đến lao động của nhiều ngời. Công cụ sản xuất đợc nhiều ngời sử dụng để sản xuất ra các vật
phẩm thì LLSX mang tính chất xã hội .
Trình độ phát triển củaTLLD mà đặc biệt là CCSX, là thớc đo trình độ chinh phục tự
nhiên của con ngời. Đồng thời nó cũng là trình độ sản xuất và tiêu chuẩn đánh giá sự khác nhau
giữa các thời đại, xã hội khác nhau. Chính công cụ sản xuất và phơng tiện lao động kết hợp với
lao động sáng tạo của con ngời là yếu tố quyết định đến năng xuất lao động
b/ Lực lợng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển , biến đổi của các hình thức
sở hữu
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc, con ngời không
ngừng cải tiến hoàn thiện và chế tạo ra các công cụ sản xuất mới. Đồng thời sự tiến bộ của công
cụ tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹ thuật và mọi kỹ năng của ngời lao động cũng ngày
càng phát triển. Yếu tố năng động này của LLSX đòi hỏi QHSX phải thích ứng với nó. LLSX
quyết định sự hình thành, phát triển của QHSX từ đó nó quy định sự phát triển và biến đổi của
quan hệ sở hữu.
Sự lớn mạnh của LLSX đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với chế độ sở hữu t
nhân t bản chủ nghĩa. Chúng ta biết rằng, các quan hệ sở hữu XHCN xuất hiện khi LLSX đã trở
nên mâu thuẫn với hình thức chiếm hữu t bản t nhân. Nhng nó vẫn cha hoàn toà xã hội hoá trong
phạm vi toàn xã hội. Chúng ta thấy rằng chỉ có thể phát triển nền sản xuất hàng hoá dựa trên cơ
chúng sẽ đợc giải quyết kịp thời. Do đó bớc nhảy vọt trong sự phát triển của nó có thể diễn ra
sớm hơn. Chính việc hoàn thiện QHSX quyết định những nhịp độ tiến bộ kkoa học kỹ thuật vào
sự tiến bộ của hệ thống LLSX.
4/ Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của LLSX với sự đa dạng hoá các hình thức sở
hữu
Trớc đây nói đến CNXH chúng ta thờng nói đến chế độ công hữu về t liệu sản xuất giữa
hai hình thức toàn dân và tập thể. ở nớc ta từ Đại hội thứ 6 của Đảng đến nay đã hơn mời 10 năm
thực hiện đờng lối đổi mới chuyển từ nền kinh tế tập chung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định
hớng XHCN Thành tựu đạt đợc trong 10 năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của đờng lối đó
đến nay .
Với quan điểm đó phải chăng đa dạng hoá các hình thức sở hữu chỉ khi LLSX còn thấp
kém, còn khi LLSX phát triển cao thì lại đi đến đơn nhất hoá. Thực tế lịchsử cho thấy LLSX xã
hội không ngừng phát triển, phân công lao động ngày càng sâu, cùng với sự phát triển của LLSX
thì hình thức về t liệu SX càng trở nên đa dạng. Khi phân công lao động trong mỗi nớc cũng nh
quốc tế cũng nh khu vực ngày càng sâu khi LLSX xã hội hoá cao thì các hình thức SH về TLSX
ngày càng trở nên đa dạng. Trong các nớc t bản phát triển cũng nh trong các nớc khác đều xuất
hiện rất nhiều hình thức sở hữu về TLSX khác nhau. Rõ ràng xu hớng ngày càng đa dạng hoá các
hình thức sở hữu về TLSX gắn liền với sự phát triển của lực lợng sản xuất của phân công lao
động trong xã hội là một xu hớng tất yếu, là một quá trình lịch sử- tự nhiên và là một quy luật
19
phát triển của xã hội. Đó cũng chính là quá trình xã hội hóa sản xuất cả về LLSX lẫn quan hệ sản
xuất.
Một số vấn đề thực tiễn lý luận trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá.
1. Lý luận chung.
Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, lịch sử sản xuất vật chất của nhân
Nam đó là phấn đấu xây dựng nớc ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá - hiện đại hoá "dân giàu
nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh".
b. Đờng lối chỉ đạo:
- Nội dung của công nghiệp hoá ở nớc ta bao gồm 2 nội dung chủ yếu là trang bị kỹ thuật
và công nghiệp hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Các Mác nhận xét khoa học là động lực của công nghiệp hoá - hiện đại hoá". Vì mục
tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, hội nghị TW II một lần nữa nhấn mạnh"
cùng với giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu là động lực phát triển
kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội, là nhân tố quyết định công nghiệp hoá - hiện đại hoá".
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá là một
hoạt động có ý thức, có kế hoạch và do đó tất yếu phải dựa vào nhân tố dân số và nhu cầu, điều
kiện tự nhiên và tiềm tàng của đất nớc, điều kiện phát triển của lực lợng sản xuất khoa học kỹ
thuật và công nghệ, nguồn vốn tích luỹ quan hệ kinh tế quốc tế. Theo qui luật của vận động thì
đấu tranh là cha đẻ của vận động. ở nớc ta là một nớc có nền kinh tế thấp thì việc tồn tại 5 thành
phần kinh tế là tất yếu. 5 thành phần đó là: kinh tế nhà nớc (quốc doanh), kinh tế tập thể, kinh tế
cá thể, kinh tế t nhân và kinh tế t bản nhà nớc trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo dới sự
lãnh đạo của Nhà nớc. Việc tồn tại 5 thành phần kinh tế là khách quan nhng kiểm soát đợc nhằm
đảm bảo các qui luật của cạnh (có cạnh tranh mới có phát triển) của nội bộ ngành kinh tế theo hớng XHCN.
Tổng kết: Nhận thức sai lầm về chủ nghĩa xã hội và về thời kỳ quá độ, từ nhận thức trên
nền trong thực tiễn không thể dẫn đến những sai lầm nôn nóng trong cách làm và bớc đi, thiếu
kết hợp hài hoà quá trình vận dụng quy luật tuần tự với qui luật nhảy vọt, để tìm ra mô hình phát
triển nhanh, đa nớc ta phát triển theo định hớng đã định.
- áp dụng một cách máy móc mô hình "kinh tế chỉ huy" và theo đó là cơ chế quan liêu
bao cấp mang nặng tính hiện vật kéo dài, chính mô hình và cơ chế này đã vi phạm nghiêm trọng
qui luật lợi ích của ngời lao động và của chủ thể kinh tế. Vô tình hay hữu ý đã xoá đi những mặt
22
làm hai phần.
1. Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức.
Lê- Nin đã đa ra một định nghĩa toàn diện sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đ ợc đem lại cho con
ngời trong cảm giác, đợc cảm giác của chúng ta chép lại phản ánh và đ ợc tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác.
23
Từ định nghĩa của Lê Nin đã khẳng định vật chất là thực tại khách quan vào bộ não
của con ngời thông qua tri giác và cảm giác. Thật vậy vật chất là nguồn gốc của ý thức và
quyết định nội dung của ý thức.
Thứ nhất, phải có bộ óc của con ngời phát triển ở trình độ cao thì mới có sự ra đời
của ý thức. Phải có thể giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con ng ời mới tạo ra
đợc ý thức, hay nói cách khác ý thức là sự tơng tác giữa bộ não con ngời và thế giới khách
quan. Ta cứ thử giả dụ, nếu một ngời nào đó sinh ra mà bộ não không hoạt động đợc hay
không có bộ não thì không thể có ý thức đợc. Cũng nh câu chuyện cậu bé sống trong rừng
cùng bầy sói không đợc tiếp xúc với xã hội loài ngời thì hành động của cậu ta sau khi trở về
xã hội cũng chỉ giống nh những con sói. Tức là hoàn toàn không có ý thức.
Thứ hai, là phải có lao động và ngôn ngữ đây chính là nguồn gốc xã hội của ý thức.
Nhờ có lao động mà các giác quan của con ngời phát triển phản ánh tinh tế hơn đối với hiện
thực... ngôn ngữ là cần nối để trao đổi kinh nghiệm tình cảm, hay là ph ơng tiện thể hiện ý
thức. ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốc của xã hội có ý nghĩa quyết định hơn cho sự
ra đời của ý thức.
Vật chất là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi
thì ý thức cũng phải thay đổi theo.
VD1: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thờng trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh
của bộ não ngời. Nhng khi bộ não ngời bị tổn thơng thì hoạt động của ý thức cũng bị rối
loạn.
gần 20 năm đất mới bộ mặt đất nớc ta đã thay đổi hẳn.
ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động thực
tiễn của con ngời trong quá trình cải tạo thế giới quan. VD. Nhà máy sử lý rác thải của
Đồng Tháp là một ví dụ điển hình, từ việc không khảo sát thực tế khách quan hay đúng hơn
nhận thức về việc sử lý rác vô cơ và rác hữu cơ là ch a đầy đủ vì vậy khi vừa mới khai trơng
nhà máy này đã không sử lý nổi và cho đến nay nó chỉ là một đống phế liệu cần đợc thanh
lý.
II. Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đối với con đờng đi lên xã hội
chủ nghĩa của nớc ta.
1. Để xây dựng xã hội chủ nghĩa phải nhận thấy nguyên lý vật chất quyết định ý
thức là phải xuất phát từ thực tế khách quan và hành động theo nó.
Trơc thời kì đổi mới, khi cơ sở vật chất con cha có chúng ta nôn nóng muôn đốt cháy
giai đoạn nên đã phải trả giá. ở thời kì này chúng ta phát triển quan hệ sản xuất đi tr ớc lực
lợng sản xuất mà không nhìn thấy vai trò quyết định của lực lợng sản xuất. Sau giải phóng
đất nớc ta là một đất nớc nông nghiệp với số dân tham gia vào ngành này tới hơn 90%. Nhng chúng ta vẫn xây dựng các nhà máy công nghiệp trong khi để nhanh chóng trở thành n ớc
công nghiệp hoá trong khi lực lợng sản xuất cha phát triển, thêm vào đó là sự phân công
không hợp lý về quản lý nhà nớc và của xã hội, quyền lực quá tập trung vào Đảng, và Nhà
nớc quản lý quá nhiều các mặt của đời sống xã hội, thực hiện quá cứng nhắc làm cho toàn
xã hội thiếu sức sống, thiếu năng động và sáng tạo,. Các giám đốc thời kì này chỉ đến ngồi
chơi xơi nớc và cuối tháng lĩnh lơng, các nông dân và công nhân làm đúng giờ quy định nh ng hiệu quả không cao... ở đây chúng ta đã xem nhẹ thực tế phức tạp khách quan của thời kì
quá độ, cha nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa là quá trình lịch sử
lâu dài và phải trải qua nhiều chặng đờng.
Từ đây, chúng ta phải có cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa và cơ sở vật chất phát
triển. Chúng ta phải xây dựng lực lợng sản xuất phù hợp quan hệ sản xuất. Chúng ta có thể
bỏ qua t bản chủ nghĩa nhng không thể bỏ qua những tính quy luật chung của quá trình từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Chúng ta cũng phải biết kế thừa và phát triển tích cực những
kết quả của công nghiệp t bản nh thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ - môi trờng, là
cơ chế thị trờng với nhiều hình thức cụ thể tác động vào quá trình phát triển kinh tế.
25