Lời mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận động theo cơ
chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN là một chiến
lợc phát triển kinh tế xã hội ở nớc ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Thực hiện chủ trơng trên, từ đại hội Đảng lần thứ 6(Tháng 12 - 1990)
đến nay, Đảng và Nhà nớc đã ban hành một số chủ trơng chính sách nhằm
khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển. Từ đó,
các loại hình doanh nghiệp nh doanh nghiệp t nhân(DNTN),công ty trách
nhiệm hữu hạn(TNHH),công ty cổ phân(CTCP) đã phát triển nhanh chóng
đang trở thành lực lợng đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
ở nớc ta.
Song nhìn chung quy mô hoạt động của các doanh nghiệp thì đến
nay ở nớc ta có tới 70% doanh nghiệp nhà nớc(DNNN) và hầu hết các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh(DNNQD) thuộc loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ (DNVVN)
Hiện nay, DNVVN ở nớc ta tuy có tốc độ phát triển tơng đối khá nh-
ng đang gặp khó khăn nhiều mặt: thiết bị, công nghệ lạc hậu, trình độ tổ
chức và quản lý yếu kém, năng suất lao động thấp, chất lợng sản phẩm kém
, giá thành sản phẩm cao, thị trờng không ổn định, bị hàng hoá nhập lậu và
hàng hoá của các doanh nghiệp lớn cạnh tranh gay gắt.
Nhng khó khăn lớn nhất hiện nay là vốn hiện có của hầu hết các
DNVVN rất ít trong khi đó nhu cầu vốn để các doanh nghiệp này mở rộng
sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ lại đòi hỏi rất lớn. Do đó, việc nghiên
cứu thực trạng tín dụng ngân hàng nhằm tìm ra các giải pháp chủ yếu để
mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng, hỗ trợ cho các DNVVN là một
vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về vai trò của tín dụng của
ngân hàng nói chung và của ngân hàng công thơng Ba Đình nói riêng đối
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực trạng hoạt động sản xuất kinh
nhỏ phát triển.
Song việc xây dựng các chính sách đối với sự phát triển các doanh
nghiệp vừa và nhỏ còn gặp không ít khó khăn. Vì cho đến nay, chúng ta ch-
a có một định nghĩa tơng đối đầy đủ về doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhìn một cách tổng quát việc định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ
có thể có hai cách tiếp cận chủ yếu sau đây: định nghĩa theo chức năng và
định nghĩa theo tính ứng dụng.
Khi định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ theo chức năng, ngời ta dựa
vào những đặc trng cơ bản của doanh nghiệp vừa và nhỏ nh trình độ chuyên
môn hoá sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phơng pháp tổ chức quản
lý, quan hệ giữa chủ và thợ, giữa ngời quản lý và ngời làm công trong hoạt
động kinh doanh.v.v cách tiếp cận này còn có nhiều hạn chế vì nó mới chỉ
nêu đợc mặt định tính, còn mặt định lợng rất cần thiết nó cha thể hiện đợc.
Nếu dựa vào định nghĩa này thì chúng ta không có cơ sở để phân loại
ở Pháp ngời ta còn đa ra tiêu chuẩn để xếp loại những doanh nghiệp
siêu nhỏ. Doanh nghiệp siêu nhỏ chủ yếu là những doanh nghiệp cá nhân
(doanh nghiệp gia đình). Tài sản của doanh nghiệp là tài sản của cá nhân -
chủ gia đình. ở Pháp, tiêu chí phân loại doanh nghiệp siêu nhỏ là những
doanh nghiệp có số công nhân dới 20 ngời.
Hiện nay ở nớc ta cha có một định nghĩa chính xác về doanh nghiệp
vừa và nhỏ; Có ý kiến cho rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là
doanh nghiệp sử dụng dới 500 lao động. Nhng họ cha đa ra đợc luận cứ vì
sao lại chọn con số này làm mốc.
3
Một số chuyên gia kinh tế cho rằng: Những doanh nghiệp trong các
lĩnh vực sản xuất và xây dựng đợc coi là doanh nghiệp nhỏ. Nếu chúng có
số vốn từ 100 - 300 triệu đồng và số công nhân từ 5 - 10 ngời; còn các
doanh nghiệp có số vốn lớn hơn 300 triệu đồng và số công nhân lớn hơn 50
ngời là doanh nghiệp vừa. Nhng theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế
khác thì doanh nghiệp nhỏ là loại doanh nghiệp có số vốn dới 1 tỷ đồng và
4
Việc phát triển nhanh chóng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nớc
t bản chủ nghĩa nói trên, trong những thập kỷ gần đây, là do nhiều nguyên
nhân:
Một là: Những doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính nhạy cảm cao đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh, linh hoạt và ứng phó kịp thời tình hình
biến động của thị trờng.
Hai là: Những doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng chấp nhận mọi
sự rủi ro, mạo hiểm có thể xảy ra, nên chủ doanh nghiệp có thể mạnh dạn
đầu t vào những ngành mới, những ngành mà lúc đầu đem lại lợi nhuận ít
và những ngành sản xuất ra những sản phẩm chỉ đáp ứng những nhu cầu cá
biệt.
Ba là: Những doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng thực hiện sự đổi mới
thiết bị và công nghệ hơn so với các doanh nghiệp lớn, vì yêu cầu vốn bổ
xung không nhiều; và giảm đợc sự thiệt hại trong việc thay đổi t bản cố
định khi có sự cạnh tranh phải chuyển sang kinh doanh ngành khác.
Ngày nay do sự phát triển hết sức nhanh chóng của khoa học và công
nghệ nên nhiều khi thời gian tồn tại của một mặt hàng ngắn hơn thời gian
tồn tại của thế hệ máy móc sản xuất ra nó. Vì vậy đòi hỏi phải khấu hao
nhanh để chuyển sang sản xuất mặt hàng mới với thiết bị và công nghệ
mới.
Bốn là: Những doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể ứng dụng những kỹ
thuật tiên tiến, có thể kết hợp giữa tự động hoá, cơ khí hoá với lao động thủ
công, có thể sản xuất ra sản phẩm có chất lợng cao trong điều kiện cơ sở hạ
tầng kêm.
Hiện nay, có ngời cho rằng: Sự phát triển các doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở các nớc t bản phát triển là hiện tợng phi tập trung hoá và học đi
đến kết luận rằng: Luận điểm của Lênin về tích tụ tập trung t bản dẫn tới
độc quyền ngày nay không còn đúng nữa. Nghiên cứu sâu bản chất kinh tế
của hiện tợng này chúng ta thấy rằng: Đó chẳng qua là sự biển hiện của
trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nớc, thì ít ngời quan tâm
nghiên cứu.
1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ cao về doanh nghiệp, về thu
hút lao động và đóng góp thu nhập quốc dân cho đất nớc.
Theo số liệu thống kê của nhiều nớc cho thấy doanh nghiệp vừa và
nhỏ chiếm 95% tổng số các doanh nghiệp, thu hút từ 75 đến 90% số nhân
viên làm việc trong các doanh nghiệp và đóng góp từ 40 đến 50% thu nhập
quốc dân ở mỗi nớc. Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 1(9) tháng
1,2 năm 1995 cho biết: ở Mỹ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ về số ngời lao
động chiếm 78,5%, về thu nhập quốc dân chiếm 34% so với toàn bộ doanh
nghiệp nớc Mỹ; ở Cộng hoà liên bang Đức (không kể Đông Đức) con số
đó là 75% và 45%; ở Nhật Bản con số đó là 92,8% và 56%; ở Pháp số
nhân việc làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 83,5% trong
toàn bộ các doanh nghiệp nớc này.
Do có lợi thế là: chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập đợc
công ty, nhà xởng; có thể mở văn phòng, xởng sản xuất tại gia đình với chi
phí quản lý thấp, tính năng động và tính linh hoạt cao, có khả năng thích
ứng với nhu cầu thờng xuyên thay đổi của ngời tiêu dùng v.v nên số
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm qua phát triển khá nhanh. Đặc
6
biệt là loại doanh nghiệp mang tính chất gia đình, cá thể chiếm một tỷ lệ
lớn.
Kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là nửa cơ
giới, lao động sống chiếm tỷ lệ khá cao. Mặt khác phần lớn các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thơng mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu
dùng, chế biến nông, lâm, hải sản; xây dựng và giao thông vận tải v.v nên
nó có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo nhiều công ăn việc làm cho xã
hội và tăng thu nhập bảo đảm đời sống cho ngời lao động. Trong khi đó các
doanh nghiệp lớn kỹ thuật sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến, nhất là
đối với các xí nghiệp tự động hoá sản xuất và sử dụng công nghệ ngời máy
nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần một số vốn ban đầu nhỏ cũng có thể hoạt động
đợc; còn nơi làm cửa hàng và kho hàng có thể sử dụng ngay nhà mình;
nhân viên bán hàng thờng cũng là ngời của gia đình. Do đó chi phí lu thông
hàng hoá thấp.
Các doanh nghiệp lớn không thể tổ chức đợc một mạng lới bán lẻ để
tiêu thụ hàng hoá của mình mà phải thông qua mạng lới bán lẻ của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính vì vậy hệ thống cửa hàng kinh doanh th-
ơng mại - dịch vụ vừa và nhỏ đặt khắp các đờng phố khu công nghiệp, các
tụ điểm dân c, đáp ứng nhu cầu của ngời tiêu dùng một cách nhanh chóng
và thuận tiện.
ở Nhật năm 1995, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 51% trong các
ngành sản xuất, 62% đối với ngành buôn bán, 80% đối với ngành bán lẻ.
ở Việt Nam, chúng ta có thể đánh giá vai trò của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong lĩnh vực kinh doanh thơng mại - dịch vụ qua tỷ trọng bán
lẻ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh so với tổng mức bán lẻ của toàn xã hội qua các năm:
Năm 1980: 70,8%.
Năm 1989: 57,3%.
Năm 1994: 67,6%.
Năm 1998: 76%.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã
làm cho lực lợng sản xuất phát triển có tính nhảy vọt, vợt ra khỏi biên giới
quốc gia và đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới.
Cho nên bất kỳ nớc nào, dù ở trình độ phát triển kinh tế cao hay thấp
cũng đều phải thực hiện chiến lợc kinh tế mở, với nội dung cơ bản là: Tận
dụng lợi thế so sánh tích cực tham gia vào việc phân công lao động quốc tế,
chuyên môn hoá và hợp tác hoá quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ và kinh
nghiệm tốt của nớc ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nớc. Đặc trng
cơ bản của chiến lợc kinh tế mở là mức bảo hộ thấp, khuyến khích xuất
khẩu (hớng ngoại).
nông, lâm, hải sản.
Để khai thác có hiệu quả lao động, tài nguyên và ngành nghề đang
còn rất lớn ở từng địa phơng, từng vùng lãnh thổ, cần tập trung đẩy nhanh
sự phát triển một số ngành mà nớc ta có nhiều tiềm năng nh: nông nghiệp,
lâm nghiệp, hải sản và công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản v.v
Trong những năm trớc mắt, chúng ta còn gặp nhiều khó khăn về vốn
và kỹ thuật nên việc đầu t khai thác các nguồn lực của đất nớc, Đảng ta chủ
trơng: Chú trọng quy mô nhỏ và vừa, vốn đầu t ít, thu hồi nhanh theo ph-
ơng châm lấy ngắn nuôi dài .(5 tr 15)
Doanh nghiệp vừa và nhỏ do vốn ít, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém
nên tỷ lệ lao động sử dụng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thờng lớn rất
9
thích hợp với những ngành cần nhiều lao động thủ công nh chế biến thuỷ
sản đông lạnh, may mặc, da giầy, công nghiệp chế biến.
Theo số liệu của Tổng cục thống kế ở thời điểm cuối năm 1998, số
doanh nghiệp đợc cấp giấy phép kinh doanh phân theo ngành nghể nh sau:
(6)
Số doanh nghiệp Số vốn đăng ký (tỷ đ)
Tổng số 26.282 56.331
- Nông lâm nghiệp 1.004 2.810
- Thuỷ sản 2.189 610
- Công nghiệp chế biến 8.886 18.314
- Xây dựng 2.407 2.924
- Thơng nghiệp 5.535 6.677
Nh vậy ngành công nghiệp chế biến là ngành công nghiệp phát triển
nhất của Việt Nam nhằm khai thác các khả năng về tài nguyên, về sức lao
động của từng địa phơng, về từng vùng kinh tế, ngành công nghiệp này chủ
yếu thích hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.4. Một số khó khăn và hạn chế của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
2. Khó khăn trong việc ứng dụng kỹ thuật và công nghệ mới.
Trong nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp nào sản xuất ra hàng hoá
có chất lợng cao, giá thành hạ thì doanh nghiệp đó sẽ giành đợc thắng lợi
trong cạnh tranh. Muốn thực hiện đợc yêu cầu đó, doanh nghiệp phải thờng
xuyên đổi mới thiết bị và công nghệ, nhằm tăng năng suất lao động nâng
cao số lợng, chất lợng và giảm chi phí sản xuất.
Song muốn đổi mới thiết bị và công nghệ, doanh nghiệp phải có một
nguồn vốn lớn.
Nh vậy là khó khăn về thiếu vốn nói trên dẫn đến khó khăn trong
việc ứng dụng kỹ thuật và công nghệ mới ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Do thiếu vốn, nên mức trang bị kỹ thuật của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ rất thấp so với các doanh nghiệp lớn: mức trang bị kỹ thuật đợc biểu
hiện bằng số vốn cố định bình quân cho một công nhân trong doanh
nghiệp. Nó đợc tính theo công thức:
i)(dồng/ng ờ
nghiệp doanhcủa nhan công số Tổng
nghiệp doanhcủa dịnh cố vốn số Tổng
thuật kỹbị trang Mức =
Hàng năm, vốn doanh nghiệp vừa và nhỏ, nói chung có tăng lên. Nh-
ng mức trang bị kỹ thuật của nó so với mức trang bị kỹ thuật của các doanh
nghiệp lớn lại giảm xuống một cách tơng đối.
Chẳng hạn, ở Nhật Bản nếu năm 1963 mức trang bị kỹ thuật của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng 35% mức trang bị kỹ thuật của các doanh
nghiệp lớn, thì sau 30 năm tức là năm 1997 con số đó đã tụt xuống, chỉ còn
5%.
11
Nguyên nhân của tình hình trên là do mấy thập kỷ qua, dới tác động
mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới, các doanh
nghiệp lớn phải thích ứng bằng cách ra sức tích cực và tập trung t bản để
nâng cao cấu tạo kỹ thuật t bản, nhằm tăng cao năng suất lao động để giành
ớc nhiều khi tạo ra của cải bất lợi cho nhà đầu t nớc ngoài v.v
Trong điều kiện thị trờng thế giới đang có sự cạnh tranh gay gắt nh
hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ do vốn ít, kỹ thuật lạc hậu, năng
suất lao động thấp, chất lợng mẫu mã hàng hoá kém, giá thành cao hơn so
với các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế có quy mô sản xuất lớn, kỹ
12
thuật và công nghệ hiện đại, nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm cho
mình một chỗ đứng có lợi để tiêu thụ hàng hoá trên thị trờng thế giới.
4. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mức độ rủi ro cao hơn so với
các doanh nghiệp lớn.
Theo số liệu thống kê hàng năm, ở nhiều nớc, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có tỷ lệ phá sản cao hơn so với các doanh nghiệp lớn. Chẳng hạn
nh ở Pháp, hàng năm có khoảng 200 ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ ra đời
thì cũng chính thời gian ấy lại có chừng ấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản.
Những doanh nghiệp phá sản thờng là những doanh nghiệp vốn ít, kỹ
thuật lạc hậu, chất lợng lao động và năng lực của cán bộ quản lý kém, thiếu
hiểu biết về thị trờng và nhất là do sai lầm nghiêm trọng trong việc quản lý
điều hành của chủ doanh nghiệp.
ở nớc ta, từ khi thực hiện việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nớc
theo Nghị định 388/HĐBT (tháng 11 - 1993) đến tháng 7-1999 đã có
khoảng 6000 doanh nghiệp nhỏ và quá nhỏ thuộc nhóm các doanh nghiệp
có dới 100 lao động và dới 500 triệu đồng vốn đã ngừng hoạt động hoặc
đang trong tình trạng làm ăn thua lỗ kéo dài. Phần lớn các doanh nghiệp
này do cấp huyện quản lý.
Đến nay, trong tổng sô khoảng 6000 doanh nghiệp nhỏ nói trên, đã
có khoảng 4000 doanh nghiệp đợc sát nhập lại thành doanh nghiệp có quy
mô lớn hơn; và số còn lại khoảng 2000 doanh nghiệp phải chuyển sang
hình thức sở hữu khác hoặc bị giải thể.
Những khó khăn và hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói
ng cha tích luỹ đủ nguồn vốn tự có v.v nên họ cần phải đi vay. Từ đó xuất
hiện t bản cho vay.
Trong bộ T bản, Mác đã vạch rõ: T bản cho vay là loại t bản mà
quyền sở hữu và quyền sử dụng tách ra thành những chủ thể khác nhau.
Hay nói cách khác đó là t bản tài sản tách rời t bản chức năng. Cho vay,
thực chất là việc ngời này bán quyền sử dụng số tiền của mình cho ngời kia
trong một thời gian nhất định. ở đây, cùng một t bản, nhng đối với ngời
cho vay nó là t bản sở hữu, vì sau một thời gian nhất định số tiền cho vay sẽ
đợc hoàn trả lại cho ngời chủ của nó và kèm theo một khoản lợi tức; Còn
đối với ngời đi vay thì nó là t bản hoạt động, vì nó đợc ngời đi vay sử dụng
vào sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận này không phải do
t bản của anh ta sinh ra, mà do anh ta sử dụng t bản của ngời khác, do đó
anh ta phải trích một phần lợi nhuận thu đợc trả cho ngời cho vay dới hình
thức lợi tức. Lợi tức đợc coi nh giá cả của hàng hoá t bản cho vay.
Từ sự phân tích trên cho thấy: Khi kinh tế hàng hoá phát triển đến
một trình độ nhất định, tự nó làm nảy sinh những mâu thuẫn trong sự vận
động của vốn dới hình thái tiền tệ. Từ đó đòi hỏi một cách khách quan sự ra
đời của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng đợc thực hiện thông qua
vai trò trung gian của ngân hàng. Đó là việc ngân hàng đứng ra huy động
mọi nguồn vốn nhàn rỗi và phân tán trong nền kinh tế; rồi bằng nguốn vốn
đó và nguồn vốn tự có của mình tiến hành cho các tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội và cá nhân vay để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, nhằm mục
tiêu thơng mại.
14
Nh vậy, tín dụng ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thực
hiện chức năng mua tiền tức là đi vay và bán tiền tức là cho vay để thu lợi
nhuận. Lợi tức gửi tiền ( Z
ng
) là giá cả mua tiền, còn lợi tức cho vay (Z
Số hợp tác xã tín dụng ở nớc ta, hiện nay còn ít, mới có 64 cái.
Sắp tới sẽ có một số loại hình tín dụng khác ra đời nh: Công ty đầu t
kinh doanh ngoại tệ, ngân hàng đầu t chứng khoán, ngân hàng địa ốc, công
ty cất giữ, mua bán chuyển nhợng, quản lý, giấy tờ có giá v.v
Các loại hình tín dụng nói trên đều đặt dới sự kiểm soát của ngân
hàng Nhà nớc Việt Nam và thực hiện theo pháp lệnh ngân hàng.
Việc đa dạng hoá các loại hình tín dụng ở nớc ta là xu hớng tất yếu
của nền kinh thị trờng. ở một số nớc trong khu vực khi chúng tôi có dịp
đến nghiên cứu và khảo sát, thì lợi nhuận của các ngân hàng thu đợc qua
hình thức tín dụng cho vay vốn chỉ có 60%, còn 40% là thu từ các loại hình
tín dụng khác. Nhng ở Việt Nam hiện nay các loại hình tín dụng khác nhau
15
cha phát triển, nên hoạt động tín dụng của các ngân hàng thơng mại đan
xen với với hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và hợp tác xã tín
dụng là chủ yếu.
1.2.2 Tính chất đa dạng hoá các hoạt động tín dụng ngân hàng.
Các ngân hàng thơng mại quốc doanh này tuy mang tên ngân hàng
chuyên doanh, ví dụ: Ngân hàng Công thơng, Ngân hàng Ngoại thơng,
Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Đầu t v.v nhng hoạt động tín dụng
của các ngân hàng này và các ngân hàng cổ phần đều kinh doanh và dịch
vụ đa dạng. Tuỳ theo năng lực nghiệp vụ và kỹ thuật nghiệp vụ công nghệ
của từng ngân hàng mà đi theo hớng chuyên doanh một số nghiệp vụ hay
kinh doanh tổng hợp, bao gồm: Cho vay cả ngắn hạn, cho vay dài hạn, cho
vay ngoại tệ, nội tệ, hoạt động đối nội và đối ngoại v.v Chỉ riêng ngân
hàng nớc ngoài cha đợc phép kinh doanh nội tệ nh ngân hàng trong nớc.
Tín dụng ngân hàng Việt Nam tuy đã phát triển theo hớng đa dạng
hoá các hoạt động kinh doanh, kinh doanh tổng hợp, nhng sự phát triển các
hình thức tín dụng còn chậm. Hớng tới bên cạnh các hình thức tín dụng
truyền thống sẽ mở ra các hình thức tín dụng mới nh: Chiết khấu, tái chiết
khấu và chuyển nhợng giấy tờ có giá, tài trợ mua bán hàng trả góp, đấu
lợt hộ đói nghèo vay (Báo Nhân dân ngày 8 - 8- 2000).
Các loại cho vay nói trên còn mang nội dung bao cấp qua tín dụng.
Vì cho vay không lấy lãi hoặc mức lãi suất rất thấp. Nh vậy các ngân
hàng thơng mại quốc doanh vừa phải hoạt động bình đẳng trong cơ chế thị
trờng vừa phải thể hiện rõ định hớng xã hội chủ nghĩa và vị trí chủ đạo của
mình trong các tổ chức tín dụng.
Nội dung kinh doanh tín dụng của các ngân hàng thơng mại quốc
doanh ở nớc ta không chỉ vì mục tiêu lợi nhuận mà còn phải thực hiện mục
tiêu xã hội, tức là vừa phải tuân thủ các quy luật của cơ chế thị trờng, vừa
phải hớng hoạt động phục vụ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
1.3. Vai trò của tín dung ngân hàng đối với sự hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lu thông hàng hoá, tín dụng
ngân hàng ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói
riêng.
1.3.1. Tín dụng ngân hàng là một công cụ tích tụ và tập trung vốn
để hỗ trợ cho các doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và
theo chiều sâu.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng, việc mở rộng sản xuất theo
chiều rộng và theo chiều sâu là yêu cầu khách quan của việc tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp. Nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thực hiện yêu cầu ấy, nếu chỉ dựa vào sự tích luỹ lợi nhuận thu đợc
trong nội bộ từng doanh nghiệp thì rất lâu, không phải doanh nghiệp nào
cũng làm đợc. Nhng nếu thông qua sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng thì
việc đó có thể thực hiện một cách nhanh chóng.
ở nớc ta hiện nay, tuy đã qua 10 năm đổi mới, các doanh nghiệp Nhà
nớc cũng nh các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác vẫn còn
đang trong quá trình tổ chức và tổ chức lại. Một số doanh nghiệp quy mô
17
môi trờng kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp.
Việc hoạch định chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội, cũng nh việc
điều tiết kinh tế vĩ mô, bao giờ Nhà nớc cũng phải sử dụng một cách có
hiệu quả các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng, ngân hàng.
Vì rằng muốn khai thác tốt nhất lao động tài nguyên, ngành nghề
trên phạm vi cả nớc cũng nh từng địa phơng, từng cơ sở thì phải tiến hành
phân công lại lao động, phân bổ lại dân c, tổ chức lại sản xuất, đổi mới
quản lý. Tất cả những việc đó, chỉ có thể thực hiện đợc với điều kiện là phải
có nguồn vốn tơng ứng.
18
Giải quyết vốn cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nớc ta hiện
nay, có nhiều nguồn, nhiều kênh. Nhng do bản chất của tín dụng ngân hàng
là vay bảo đảm hoàn trả kèm theo lãi cho ngời vay nên nó có thể huy động
đợc một khối lợng lớn vốn nhàn rỗi rất lớn.
Tín dụng ngân hàng, bằng các hình thức huy động vốn linh hoạt, áp
dụng nhiều phơng thức nhận gửi, chi trả cho khách hàng nhanh chóng,
thuận tiện; có một hệ thống kinh doanh tiền tệ bao gồm các quỹ tiết kiệm,
các phòng giao dịch, các trụ sở ngân hàng rộng khắp, nên có khả năng huy
động đợc mọi khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, để đa vào sản
xuất lu thông có mục tiêu, có trọng điểm. Qua đó, tín dụng ngân hàng góp
phần đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh tế quốc dân, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế quốc dân hợp lý, có hiệu
quả.
Ưu thế nổi bật của hoạt động tín dụng ngân hàng là không làm tăng
khối lợng tiền mặt trong lu thông. Với chức năng đi vay, tín dụng ngân
hàng hút tiền thừa trong lu thông; và với chức năng cho vay, tín dụng
ngân hàng đẩy tiền ra lu thông, khi lu thông thiếu tiền.
Nh vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà
lu thông tiền tệ làm cho quan hệ tiền hàng cân đối với nhau. Chính vì lý do
trong những nguyên nhân của tình hình là trong thời gian này, chúng ta sử
dụng giải pháp tình thế bằng cách phát hành tiền để giải quyết bội chi ngân
sách Nhà nớc. Nhng từ năm 1996 đến nay, tình trạng này đã đợc chấm dứt.
Bội chi ngân sách đã đợc giải quyết chủ yếu thông qua tín dụng ngân hàng,
thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong lu thông. Do đó chỉ số tăng giá đã
giảm từ 67,4% năm 1995 xuống còn 12,7% năm 1999.
Kiềm chế đợc lạm phát, giữ chỉ số tăng giá ở mức thấp một cách hợp
lý có ý nghĩa tích cực đối với sức mua của đồng tiền Việt Nam, ổn định
tình hình kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, chẳng những tạo cơ hội thuận
lợi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, mà
còn có lợi cho ngời tiêu dùng, nhất là đối với ngời lao động có thu nhập
thấp.
1.3.3. Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc
tự do di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác.
Trong cơ chế thị trờng Mác đã chỉ rõ: việc sản xuất kinh doanh vì
động cơ lợi nhuận tất yếu sẽ dẫn đến sự cạnh tranh trong nội bộ ngành và
cạnh tranh giữa các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
hoạt động sản xuất kinh doanh trong cùng một ngành, sản xuất ra cùng một
loại hàng hoá. Mục đích của cạnh tranh là giành u thế trong sản xuất để có
u thế trong tiêu thụ, nhằm thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Điều kiện để giành
thắng lợi trong cuộc cạnh tranh này là doanh nghiệp phải có vốn khá lớn để
đổi mới kỹ thuật và công nghệ, cải tiến tổ chức và quản lý, nâng cao năng
20
suất lao động, tăng số lợng và chất lợng hàng hoá, giảm chi phí sản xuất,
làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá do doanh nghiệp của mình sản xuất ra
thấp hơn giá thị trờng. Thực hiện yêu cầu này, các doanh nghiệp, nhất là
những doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ đợc sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng
mà chúng tôi đã trình bày ở điểm 1.3.1. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là
cơ sở của cạnh tranh giữa các ngành. Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nh đã trình
bày ở trên, phát huy tác dụng đến mức nào tuỳ thuộc vào chính sách lãi
suất đợc quy định trong từng thời gian nhất định.
21
Lãi suất tín dụng ngân hàng là một công cụ rất nhạy cảm trong việc
điều hành chính sách tiền tệ - tín dụng của các ngân hàng trung ơng. Nó có
tác dụng tích cực đối với việc huy động vốn và cho vay vốn của các ngân
hàng thơng mại.
Kết quả đáng ghi nhận trong việc đổi mới chính sách tiền tệ - tín
dụng ở nớc ta là: vào đầu năm 1993, Chính phủ đã quyết định thay đổi một
cách cơ bản chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng. Quyết định số 55/CT
ngày 10/03/1993 của HĐBT cho phép Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc quy
định mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân c phù hợp với sự biến động của
giá cả thị trờng xã hội. Sau đó quyết định 39 của HĐBT ngày 10 - 3 - 1993
đã đa ra các nguyên tắc cơ bản để xác định lãi suất tiền gửi và tiền vay của
ngân hàng. Nội dung cơ bản của các nguyên tắc đó nh sau:
1. Mức lãi suất nhận gửi của tín dụng ngân hàng phải đủ bảo tồn
vốn và có lãi cho ngời gửi. Hay nói cách khác lãi suất nhận gửi của tín
dụng ngân hàng phải bằng chỉ số trợt giá cộng với lãi suất cơ bản. Nguyên
tắc này nhằm khuyến khích những ngời có tiền cha dùng đến đem gửi vào
ngân hàng. Vì đây là việc làm vừa ích nớc vừa lợi nhà.
2. Chính sách lãi suất áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh
tế, nhằm tạo ra môi trờng cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế, thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của
Đảng và Nhà nớc, triệt để khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế -
xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
3. Mức lãi suất cho vay của tín dụng ngân hàng phải lớn hơn mức lãi
suất nhận gửi nhằm bù đắp đợc chi phí hợp lý nghiệp vụ ngân hàng và chỉ
số trợt giá của hàng hoá trên thị trờng xã hội. Nguyên tắc này nhằm xoá bỏ
bao cấp qua tín dụng ngân hàng.
2.9
1.9
1.4
1.3
1.4
4.3
3.5
2.5
1.8
1.6
1.7
Trên đây, chúng ta mới nói đến việc xác định lãi suất nhận gửi và lãi
suất cho vay tín dụng của ngân hàng sao cho cả ngời cho vay và ngời nhận
gửi đều thu đợc một lợi nhuận nhất định. Còn về phía các doanh nghiệp với
t cách là những ngời đi vay, thì lãi suất cho vay của tín dụng ngân hàng là
bao nhiêu để họ có thể chấp nhận đợc, thì chúng ta cha bàn kỹ.
Các doanh nghiệp vay tiền của tín dụng ngân hàng là để sản xuất
kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Do đó, họ chỉ vay tiền khi mức sinh lợi
của nó phải cao hơn lãi suất tiền vay phải trả cho ngân hàng thơng mại.
Vấn đề này Mác đã phân tích trong học thuyết t bản cho vay của mình
rằng: Tỷ suất lợi tức (z) phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân (
p
).
Trong điều kiện bình thờng, giới hạn trên của nó là
p
, giới hạn dới của nó
không xác định đợc, nhng bao giờ cũng phải lớn hơn số 0.
0 < z
p
Trong giới hạn đó, tỷ suất lợi tức lên xuống tuỳ thuộc vào sự biến
của các chủ thể có quan hệ tín dụng với nhau, tức là bảo đảm sao cho ngời
có tiền cho vay, ngời nhận gửi - tín dụng ngân hàng và ngời đi vay để sản
xuất kinh doanh - các doanh nghiệp đều cảm thấy cùng có lợi.
24
Chơng 2:
THực trạng tín dụng tại ngân hàng công thơng Ba Đình trong
việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta
2.1.Thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1.1. Sự hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - thành tựu
và hạn chế.
1. Những thành tựu đạt đợc của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Một là: ý thức đợc vị trí và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, nên những năm qua, Đảng và
Nhà nớc đã có nhiều chủ trơng chính sách, luật pháp để tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta phát triển và ngày càng khẳng định
chỗ đứng của nó trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.
Hai là: Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là thực hiện
nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại doanh nghiệp mà các thành phần
kinh tế nhất là kinh tế ngoài quốc doanh ở nớc ta có nhiều điều kiện thuận
lợi để thành lập.
Dới đây là biểu thống kê số lợng các loại doanh nghiệp và số vốn
hoạt động của chúng từ năm 1998 - 2001.
Biểu 2: Số lợng các doanh nghiệp đã đợc cấp đăng ký kinh doanh
(Đơn vị tính: Tỷ đồng)
Tổng số Từ 1998 đến 2000 Năm 2001
DN Vốn DN Vốn DN Vốn
Tổng số 26.282 56.331 18.854 40.080 7.428 16.250
- DN t nhân 13.772 2.000 8.684 1.321 5.088 679