NHỮNG XU HƯỚNG TÂM LÝ HỌC NGHIÊN CỨU
VỀ VĂN HÓA. Ý NGHĨA TRONG XÂY DỰNG NỀN
VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY
Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới nhưng không thể tách
rời cội nguồn. Con người là nhân tố có vai trò quan trọng và là không thể thiếu
trong sự phát triển kinh tế xã hội. Văn hóa có khả năng tiếp thu và cải biên những
yếu tố văn hóa ngoại sinh để biến thành nội lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Văn hóa sẽ giải phóng và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người trong
mọi lĩnh vực đời sống xã hội mà trước hết là kinh tế. “Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh” Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020: Xác
định : “phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu
và là mục tiêu của sự phát triển”. Phát triển phải hướng tới mục tiêu văn hóa - xã
hội mới đảm bảo được sự bền vững và trường tồn cho sự giàu mạnh của Tổ quốc.
Văn hóa mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình
cảm cao đẹp cho con người, cho nhân dân Việt Nam lý tưởng độc lập dân tộc gắn
với chủ nghĩa xã hội Văn hóa bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống
tốt đẹp, lành mạnh. Hướng con người đến chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân.
Từ lâu văn hóa đã là một vấn đề trung tâm của khoa học xã hội và nhân văn
và đã thực sự trở thành đối tượng của tâm lý học, đó là Tâm lý học văn hóa. Cùng
với những bước tiến trong nhận thức, các triết gia cũng như các nhà tâm lý học đã
ngày càng hiểu rõ vai trò của văn hóa đối với sự tồn tại và phát triển của con người
và đã có nhiều xu hướng nghiên cứu văn hóa dưới góc độ tâm lý học.
1
1. Khái niệm văn hóa
Từ "văn hoá" có biết bao nhiêu là nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái
niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau,
nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu
chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.
“Văn hóa là biểu hiện, dấu ấn của cộng đồng” (S.Kavirạ, A.L. White, Phan
Ngọc…).
“Văn hóa là hoạt động làm chủ tự nhiên, xã hội và phát triển nhân cách con
người” (Leizig 1980, Từ điển tiếng Việt 1994…).
“Văn hóa là sự tiến bộ của những tiến bộ” (Quan niệm của A. Schweitzer).
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên
được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri
thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa
đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ
thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Từ góc độ tâm lý học, có thể hiểu: Văn hóa là phức hợp tâm lý mang tính
chỉnh thể được hình thành và phát triển cao độ trong hoạt động và giao tiếp của cá
nhân, phản ánh dấu ấn của một cộng đồng và là một nhân tố quan trọng bậc nhất
góp phần hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người.
Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát
triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham
gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn
hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của
3
con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu
hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người
cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
2. Một số xu hướng tâm lý học trong nghiên cứu văn hóa
2.1. Tâm lý học dân tộc
Đây là xu hướng tâm lý học ra đời năm 1860, hai nhà Tâm lý học người Đức
là R.S.Lazarus và H.Steinthal là người sáng lập ra trường phái này.
Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học dân tộc: huyền thoại, đạo đức, ngôn
nói: việc nghiên cứu để phát hiện ra bản sắc dân tộc, hay bản sắc tâm lý dân tộc đã
phát triển và lớn lên cũng chính là để tìm ra cho được những “cái riêng” rất đáng
tự hào của chúng ta với tư cách là một dân tộc. Như vậy, khi nghiên cứu tâm lý học
dân tộc, chúng ta thấy được định kiến dân tộc là gì, đồng nhất dân tộc là gì, đặc
biệt là định hình tâm lý dân tộc: đó là định hình về nước Việt và người Việt, định
hình qua đại từ nhân xưng… và thấy được những phẩm chất, thuộc tính đã được
định hình ở người Việt trong lịch sử cũng như những phẩm chất và các thuộc tính
mới đang được định hình trong con người Việt Nam hiện nay.
2.2.Tâm lý học nhóm
Một số nhà tâm lý học xã hội ở Pháp như G.Lebon (1841 - 1931), G.Tarde
(1843 - 1904), ở Mỹ như W.James đã nghiên cứu các cơ chế tâm lý của sự tương
tác của con người trong những nền văn hóa khác nhau cũng như những biến đổi
văn hóa có liên quan đến ngôn ngữ, tôn giáo, tình cảm, tư tưởng, chính trị.
Trong nghiên cứu về tâm lý học nhóm, chúng ta còn có thể nhắc đến
K.Lewin (1890 - 1947), ông đã đưa ra khái niệm trung tâm là “không gian sống”,
mô tả toàn bộ những gì quy định hành vi con người.
Trong tâm lý học nhóm, thường xảy ra các cơ chế sau:
5
Bắt chước thể hiện trong việc tái tạo, sao chép lại các khuôn mẫu vận động
trong quá trình chiếm lĩnh văn hóa từ thời thơ ấu. Bắt chước là nền tảng của sự
học và khả năng truyền đạt truyền thống văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Sự lây lan tâm lý thường biểu hiện ở các hành động nhắc lại một cách vô
thức trong tập thể người, hoặc đơn giản là trong chỗ đông người
Ám thị là những hình thức rất khác nhau đưa vào ý thức con người (tiềm
thức hoặc vô thức) những quan điểm, quy tắc, chuẩn mực xác định nhằm điều
chỉnh hành vi trong văn hóa.
Những công trình của họ đã được vận dụng trong nghiên cứu văn hóa thế kỷ
năng, trung tâm của nó là năng lượng libido. Cái Nó là hạt nhân quan trọng của
nhân cách, những yếu tố còn lại được xây dựng trên đó. Cái Nó là cái phi đạo đức,
cái nguyên thủy theo thời gian, không bị kiểm duyệt từ bên trong, được điều khiển
bởi nguyên tắc khoái lạc.
Cái Tôi làm cho các ước muốn của cái Nó phù hợp với thực tại tương ứng
của thế giới bên ngoài. Cái tôi là lĩnh vực thuộc về ý thức, là kẻ môi giới giữa
những say mê vô thức của con người với thực tế bên ngoài (văn hóa và sinh học ).
Nó trì hoãn các ham muốn bản năng, xác lập những hành vi văn hóa được xã hội
chấp nhận. Cái Tôi hoạt động theo nguyên tắc thực tế.
Siêu tôi là lĩnh vực của bổn phận, của luân lý, của đạo đức, là những chuẩn
mực được xác định trong văn hóa. Nó ngăn không cho cái tôi thực hiện những sai
trái, ham muốn mà cái nó thúc giục. Siêu tôi là chiếc cầu nối giữa văn hóa với các
tầng bên trong của nhân cách. Cái Siêu Tôi là sự tiếp thu của cá nhân từ xã hội.
Sơ đồ cấu trúc này là phương thức phổ biến để giải thích về hành vi của con
người thuộc văn hóa hiện đại, cổ đại; người bình thường và mất trí. Những bộ
phận, yếu tố của văn hóa như tôn giáo, nghệ thuật, khoa học chỉ là sự thăng hoa
của những xung đột ẩn ức trong vô thức, trong các hình thái xã hội- văn hóa.
7
Sau này Carl Jung (1875 - 1961) không thừa nhận thuyết tính dục của Freud
và cách giải thích tính dục về mọi hiện tượng văn hóa. Với Freud, văn hóa ghi
nhận cái siêu tôi đứng độc lập với cái nó. Với Carl Jung, hai cái đó bổ sung cho
nhau và đều là ngọn nguồn của văn hóa.
Ông chủ trương nghiên cứu vô thức tập thể, là ký ức thị tộc của loài người,
là kết quả của đời sống thị tộc, nó có ở trong mọi người, được truyền đạt theo di
truyền và là cơ sở của tâm trạng cá nhân và văn hóa.
Theo G.Rôhêm (1891- 1953), văn hóa là một tổng thể của những cái làm
cho xã hội vượt qua trình độ động vật, văn hóa được xây dựng trên cơ sở sinh dục,
nền văn hóa lý tưởng cho phép con người triển khai được hết những khả năng vốn
có của mình. Nền văn hóa được tạo ra bởi những người có phẩm chất đặc biệt mà
nét chủ yếu của họ là khát vọng hoàn thiện bản thân.
Ông phân tích những hiện tượng văn hóa ít được nghiên cứu như: sự sáng
tạo, tình yêu, trò chơi, óc hài hước, sự chân thành khả ái, những trạng thái khoái
cảm, những giá trị làm cho bản chất con người trở nên cao cả. Ông cũng đặt ra vấn
đề hiểu nhau giữa những con người cùng chung sống trong một cộng đồng và giữa
những nền văn hóa khác nhau.
Nhà tâm lý học Mỹ này đưa ra hệ thống các nhu cầu cơ bản ở con người và
ông coi khát vọng giao tiếp giữa con người với nhau, khát vọng tình yêu là phẩm
chất không thể tách rời con người. Sự thiếu vắng những nhu cầu như vậy sẽ là
bệnh lý:“Ai dám nói rằng sự không đủ tình yêu kém quan trọng hơn sự không đủ
vitamin”. Cũng theo ông, tình yêu không đồng nghĩa với tình dục, ông liệt tính dục
vào các nhu cầu sinh lý. Nhu cầu cao nhất là hướng tới sự sáng tạo và cái đẹp.
Những tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng đối với sự hoàn thiện nhân cách,
thực hiện một đường lối giáo dục chân chính, thậm chí, như có người đã nói, trở
thành nền tảng cho các quan niệm phát triển kinh tế như ở Nhật vào những năm 70,
80 của thế kỷ XX.
9
2.5.Tâm lý học so sánh văn hóa (tâm lý học xuyên văn hóa)
Những nghiên cứu so sánh các đại diện của những nền văn hóa khác nhau
được tiến hành từ 100 năm trước. Năm 1972, hiệp hội tâm lý học xuyên văn hóa
được thành lập. Tờ tạp chí đầu tiên của hiệp hội ra đời từ những năm 1970, đã có
những bài báo trình bày điểm giống và khác nhau giữa các nền văn hóa.
Tâm lý học so sánh văn hóa hay tâm lý học xuyên văn hóa được các nhà tâm
lý học như W.D.Ftoehlich, A.J.Marsella, H.C.Triandis quan niệm như một phân
ngành tâm lý học ra đời trên cơ sở của tâm lý học văn hóa và tâm lý học các dân
tộc trước đây. Phạm vi nghiên cứu của nó là những chức năng nhận thức cơ bản
mỗi quốc gia.
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đảy sự phát trển kinh tế xã hội. Các giá trị văn hóa tạo nên nền tảng vững chắc
của xã hội đó là nền tảng tinh thần. Cái nền tảng đó tạo nên giá trị làm người…
* Những đặc điểm của văn hóa:
Xét từ góc độ tâm lý học, văn hóa có những đặc điểm cơ bản sau:
Văn hóa là một nhân tố quan trọng bậc nhất tạo ra con người và sự phát triển
tâm lý ở trình độ cao. Sự phát triển đó được coi như kết quả của những sự tương
tác giữa kiểu gen, văn hóa và môi trường hoạt động của con người.
Văn hóa luôn mang tính chất kép, tiềm ẩn và tường minh: (tiềm ẩn với người
khác, tường minh với mình). tùy thuộc vào sự phát hiện, tiếp thu những giá trị của
nó. Có thể nói khác đi như M.Herskovits: Văn hóa tồn tại không phụ thuộc vào con
người và VH không phải là gì khác, mà là một hiện thực tâm lý tồn tại trong đâu óc
của mỗi cá nhân.
Văn hóa là hệ thống những giá trị chung tồn tại khách quan trong cộng đồng.
Mỗi cá nhân, nhóm tiếp thu các giá trị đó thông qua hoạt động và giao tiếp.
11
Các giá trị văn hóa có thể là tường minh hoặc tiềm ẩn đối với cá nhân hoặc
nhóm.
Tính hệ thống:Chỉnh thể, thống nhất, đan xen trên nhiều lĩnh vực
Mọi sự kiện hiện tượng thuộc một nền văn hóa đều có liên quan mật thiết
với nhau. Nếu biết một dân tộc sống ở đâu, ăn như thế nào, có thể nói được
rằng dân tộc đó mặc và ở ra sao, suy nghĩ và ứng xử như thế nào? Văn hóa
thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương
tiện để đối phó với môi trường tự nhiên và xã hội.
Tính giá trị:
Văn hóa là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người. Văn hóa
người khác, chúng ta đều dựa vào nền văn hóa của bản thân .
3.2. Ý nghĩa trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay.
Quán triệt mục tiêu chung: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc,
nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững
chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh.
Có quan điểm đúng về văn hóa: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là
mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước; Xây dựng và phát triển văn hóa
Việt Nam chính là quá trình thực hiện chiến lược con người
Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng
tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo
chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt
Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc.
13
Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh: Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ
quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo
dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Gắn kết xây dựng môi trường văn
hóa với bảo vệ môi trường sinh thái. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người,
đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội.
Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động văn hóa. Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện
thị trường văn hóa. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh
vực văn hóa: Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xác định xây dựng và phát triển vǎn
hóa, con người Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng trong suốt thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đấu tranh với các biểu hiện phi văn hóa, phản văn hóa trong……
Mỗi cá nhân cần thường xuyên nâng cao nhận thức về văn h óa, học tập, rèn
luyện để trở thành người có văn hóa. Tích cực tham gia vào việc giữ gìn, phát huy
và truyền thụ nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc…
15
KẾT LUẬN
Văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc mất
nước thì có thể lấy lại được, mất văn hóa là mất tất cả. Trong thời đại ngày nay,
biên giới về văn hóa gần như bị xóa nhòa, trong khi chúng ta hội nhập để tiếp thu
cái hay, cái đẹp, làm phong phú, đa dạng hơn văn hóa dân tộc nhưng cũng cần phải
giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn nghệ, đất nước con người Việt Nam đến cộng
đồng quốc tế, vì vậy trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định “Xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” là một trong tám đặc
trưng về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng.
Vấn đề văn hóa bao giờ cũng gắn liền với vấn đề con người. Con người là
tinh hoa của văn hóa và sáng tạo ra văn hóa. Vì vậy, vấn đề phát triển văn hóa gắn
liền với vấn đề phát triển đa dạng của từng người, từng nhóm người, cộng đồng
người, giới… Theo tinh thần đổi mới (từ năm 1986 đến nay) Việt Nam chú trọng
tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội nhằm nâng cao mức sống và chất lượng
cuộc sống, thúc đẩy văn hóa, văn minh lên đỉnh cao mới, nâng lên đáng kể chỉ số
phát triển con người bền vững. Phát triển con người bền vững là đa dạng hóa cá
nhân, động viên tiềm năng của từng cá thể người, đa dạng trong lối sống, trong tư
duy, trong khiếu thẩm mỹ… của từng người cũng như đa dạng trong ăn uống, mặc,
ở, sinh hoạt của các cộng đồng. Tất nhiên, điều đó phải dựa trên cơ sở tinh thần
công dân và tôn trọng một hệ thống giá trị cơ bản chung, định hướng giá trị chung,
chia sẻ các giá trị của sự thống nhất, hòa bình, hợp tác, đồng thuận xã hội. Đó cũng