ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC LÃNH TỤ CỦA ĐẢNG
-------------------------------ĐÁP ÁN ĐỀ THI KẾT THÚC MÔN HỌC
DÀNH CHO HỆ CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LỚP: CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN THI: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thời gian làm bài: 150 phút (Không kể thời gian chép đề)
Đáp án Câu 1: Phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và nội dung luận điểm của Hồ
Chí Minh: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác
con đường cách mạng vô sản”. (7 điểm)
Trong hệ thống luận điểm cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có một
luận điểm lớn mang tầm chân lý thời đại mà giá trị và sức sống của nó còn mãi
với tiến trình phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là đối với các dân tộc
thuộc địa. Đó là luận điểm: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Để khái quát được luận
điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải trải qua gần 50 năm hoạt động cách
mạng, trong đó có 30 năm ra nước ngoài tìm đường cứu nước, 18 năm trực tiếp
lãnh đạo cách mạng Việt Nam chống thực dân, phong kiến, giành độc lập cho
dân tộc, tự do cho nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam mới do nhân dân lao
động làm chủ.
Vậy, cách mạng vô sản là gì? tại sao con đường cách mạng vô sản là duy
nhấtđúng? xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nào mà Ngườiđã lựa chọn con
đường đó làm con đường dẫn tới độc lập, hoà bình, ấm no, hạnh phúc của nhân
dân ta? Và nhân dân ta đã vận dụng tư tưởng này làm cơ sở cho quá trình tiến
lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản như thế nào?
1. Cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc
- Về cách mạng vô sản:
Trước hết, theo định nghĩa thì cách mạng vô sản là cuộc cách mạng nhằm
và không tránh khỏi.”
2. Cơ sở lý luận:
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng các dân tộc đang bị
chủ nghĩa thực dân phương Tây áp bức muốn được giải phóng phải đi theo con
đường cách mạng vô sản. (1,0 điểm)
Theo quan điểm của CNMLN, chỉ trên lập trường của giai cấp vô sản,
cách mạng vô sản mới giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc.
Theo Mác -Ăngghen, chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhất được lợi ích
của giai cấp mình với các lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Chỉ
có xoá bỏ áp bức, bóc lột giai cấp thì mới xoá bỏ áp bức dân tộc, đem lại độc lập
thật sự cho dân tộc mình và cho dân tộc khác.
Thời đại Lênin, khi CNĐQ đã trở thành một hệ thống thế giới, cách
mạng giải phóng dân tộc trở thành bộ phận của cách mạng vô sản, Lênin mới
phát triển vấn đề dân tộc thành học thuyết về cách mạng thuộc địa. Lênin cho
rằng, cách mạng vô sản ở chính quốc không thể giành thắng lợi nếu không liên
minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Theo Lênin đã bổ
2
2
sung khẩu hiệu của Mác thành: "vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức,
đoàn kết lại."
- Cơ sở thực tiễn: (2,0 điểm)
+ Sự thất bại của các phong trào yêu nước ở Việt Nam từ nửa sau thế kỷ
XIX đến đầu thế kỷ XX.( 0,5 điểm)
Đến cuối thế kỉ XIX các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần
Vương” do các sĩ phu văn than lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại. Điều này
chứng tỏ hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời trước hoàn cảnh hiệm vụ của lịch
sử. Sự khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã khiến cho xã hội Việt Nam có sư
phân hóa và chuyển biến rõ rệt,giai cấp công nhân,tiểu tư sản và tư sản xuất hiện
2
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga 1917 đã lật đổ nhà nước tư
sản, thiết lâp chính quyền Xô Viết mở ra một kỉ nguyên mới cho lịch sử loài
người và đã thức tỉnh các dân tộc châu Á cũng như toàn thế giới. Thắng lợi của
cách mạng tháng Mười Nga đã dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Xô Viết(1922). Tiếp đó là sự ra đời của quốc tế Cộng sản(3-1919) đã
làm cho phong trào công nhân ở các nước có được mối quan hệ mật thiết với
nhau cùng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc.
- Nội dung: (4,0 điểm)
Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách
mạng có xu hướng tư sản đương thời, Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết cách
mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Từ
đó, Người quyết tâm đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường đó. Con đường
cách mạng vô sản, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, bao hàm những nội dung
chủ yếu sau:
+ Con đường cách mạng Việt Nam nhằm thực hiện độc lập dân tộc
và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1,0 điểm).
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng chính là mục tiêu cao cả, bất
biến của toàn Đảng, toàn dân ta. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được khát
vọng của toàn dân tộc: độc lập cho dân tộc, dân chủ cho nhân dân, cơm no áo
ấm cho mọi người dân Việt Nam. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực
hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc
lập dân tộc. Hồ Chí Minh đã vạch ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt
Nam là độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc
mới bền vững, hạnh phúc tự do của nhân dân mới đạt được thực sự, người lao
động mới được hoàn toàn giải phóng.
+ Trước hết phải tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc (1,0
điểm).
rộng rãi đó, Người nhắc nhở không được quên cái cốt của nó là công – nông.
Phải nhớ: “Công nông là người chủ cách mệnh… Công nông là gốc cách mệnh”
Nghiên cứu điều kiện thực tiễn của Việt Nam, một nước thuộc địa nữa
phong kiến,với dân số hơn 95% nông dân. Nông dân là những người chịu nhiều
tầng áp bức, bị bần cùng hóa, nên họ luôn có ý thức phản kháng, sẵn sàng tham
gia cách mạng. Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc phải có sự tham gia của
giai cấp nông dân.
Đánh giá cao vai trò, sứ mệnh của giai cấp nông dân, nhưng trước sau Hồ
Chí Minh vẫn luôn khẳng định rằng, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo
cách mạng, Đảng phải lãnh đạo xây dựng khối liên minh công nông làm nòng
cốt cho Mặt trận dân tộc thống nhất.
Cùng với việc xây dựng liên minh công nông, Hồ Chí Minh chủ trương
vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân Việt Nam, những người dân
mất nước, đang bị làm nô lệ, vào Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, nhằm huy
động sức mạnh của toàn dân vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do. Người viết:
“Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân
Việt, v.v… để kéo học vào phe vô sản giai cấp”
Đáp án Câu 2: Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng
giải phóng dân tộc trong giai đoạn hiện nay (3 điểm)
Luận điểm "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường
nào khác con đường cách mạng vô sản" là một luận điểm nền tảng của cách
mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; định
hướng phương hướng, đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Ngay khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2 năm
5
2
1930, trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, Đảng đã đề ra quan điểm "làm tư
Nam. Người khẳng định: “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Cách mạng giải phóng
dân tộc phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
Đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã
tạo nên sức mạnh tổng hợp và phát huy tác dụng, đưa tới những thắng lợi rực
rõ của cách mạng nước ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc được hình thành
và phát triển trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đó là sự sáng tạo của Hồ Chí
Minh, mang tinh thần cách mạng và khoa học, được kiểm chứng trong thực tiễn
cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Tuyệt nhiên đó không
6
2
phải là sự vay mượn, chắp vá hay “nhập khẩu cách mạng”. Những quan điểm
của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc thấm đượm khát vọng của
nhân dân Việt Nam về độc lập, tự do, công bằng, văn minh, ấm no, hạnh phúc.
Đó là đòi hỏi chính đáng của tất cả các dân tộc trong đó có Việt Nam.
Việc Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vì,
như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế
giới khỏi ách nô lệ. Bằng việc nêu lên luận điểm mang tầm chân lý thời đại, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã làm phong phú lý luận Mác - Lênin về cách mạng vô sản ở
các nước thuộc địa, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên phổ biến đối với mọi
dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng con người. Trong bài “Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh”,
nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Trường Đảng Êtiôpia Têshôm
Kêbêđe đã viết: “Những tư tưởng của Hồ Chí Minh có ảnh hưởng to lớn trong
việc khuyến khích và cung cấp tri thức cho các lãnh tụ của giai cấp công nhân và
các nhà cách mạng ở Á, Phi và Mỹ Latinh giải quyết một cách triệt để vấn đề
Do bản chất của mình, ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn không từ
bỏ chính sách thực dân xâm lược với nhiều biến tướng mới rất tinh vi và xảo
quyệt nhằm bóc lột các nước kém phát triển, chậm phát triển. Những cuộc chiến
tranh và can thiệp quân sự của các nước phương Tây vào các quốc gia độc lập
có chủ quyền trong những thập niên 90 của thế kỷ XX và thập niên đầu của thế
kỷ XXI, đặc biệt gần đây, cuộc tấn công quân sự của Liên quân do NATO lãnh
đạo chống Libi, cho dù cố che đậy với những lý do gì, thì về thực chất vẫn là các
cuộc xâm lược nhằm mục đích phân chia lại thị trường thế giới, giành giật tài
nguyên, môi trường, duy trì hoặc áp đặt ảnh hưởng của họ lên các nước đang lựa
chọn con đường phát triển của dân tộc mình, ngăn cản quá trình vận động, phát
triển lên chủ nghĩa xã hội của các quốc gia đã giành được độc lập, buộc các quốc
gia này phải phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản.
Bài học lịch sử trong thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI cảnh tỉnh
chúng ta rằng, còn chủ nghĩa tư bản là còn nguy cơ bị xâm lược; độc lập dân tộc,
chủ quyền quốc gia, sự thống nhất đất nước còn bị đe dọa. Do đó, chủ nghĩa tư
bản quyết không phải là sự lựa chọn của nhân loại trong thời đại ngày nay. Chỉ
có đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã
hội thì độc lập dân tộc mới được giữ vững, nhân dân lao động mới được giải
phóng thực sự. Đó cũng chính là chân lý thời đại mà cách đây 100 năm, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hội được ở chủ nghĩa Mác - Lênin trên hành trình đi
tìm đường cứu nước, cứu dân của mình.
Trước hết phải xác định rõ các nguồn lực và nhấn mạnh phải phát huy
tối đa các nguồn nội lực. Nội lực, hiểu một cách toàn diện, bao gồm con
người, trí tuệ, truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng, đất đai, tài
nguyên, vốn liếng… nhưng tựu trung lại, yếu tố quan trọng nhất, quyết định
nhất vẫn là nguồn lực con người với tất cả sức mạnh thể chất và tinh thần của
nó. Chủ nghĩa yêu nước là nguồn lực mạnh mẽ nhất, trong hai cuộc kháng
chiến thần thánh của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tinh thần yêu nước ấy đã được phát huy cao độ, biến thành chủ nghĩa
VIỆN TRƯỞNG
Lý Việt Quang
Phạm Ngọc Anh
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 2
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC LÃNH TỤ CỦA ĐẢNG
-------------------------------ĐÁP ÁN ĐỀ THI KẾT THÚC MÔN HỌC
DÀNH CHO HỆ CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LỚP: CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN THI: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể thời gian chép đề)
9
2
Đáp án Câu 1: Trình bày nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách
mạng giải phóng dân tộc. (7 điểm)
Trong toàn bộ di sản tinh thần mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta, tư
tưởng của Người về cách mạng giải phóng dân tộc giữ vị trí, vai trò hết sức quan
trọng. Hơn 80 năm qua, dưới ánh sáng tư tưởng của HCM về CMGPDT, Đảng
là lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cách mạng Cách mạng Tháng 8 .1945 thắng
lợi, khai sinh ra nước VNDCCH, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, đem lại hòa hình, thống nhất cho cả dân tộc và bước đầu giành những
thắng lợi quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước. Có nói thể tư tưởng của
HCM về cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành ngọn đuốc soi sáng con
đường CMVN.
nghĩa đế quốc”, chứ chưa phải là cuộc cách mạng xoá bỏ sự tư hữu, sự bóc lột
nói chung.
Mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa là mâu thuẫn dân tộc, quy định tính chất
và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng ở thuộc địa là giải phóng dân tộc. Trong
“Đường kách mệnh”, Người phân loại thành 3 cuộc cách mạng: CMTS, CMVS
và CMGPDT. Ở đó Người nhấn mạnh tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt
Nam là cách mạng giải phóng dân tộc. Trong “Cương lĩnh chính trị đầu tiên”
của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo xác định những nhiệm vụ chính trị,
kinh tế, văn hoá - xã hội, nhưng nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ chống đế quốc
giành độc lập dân tộc, nó đã bao hàm một phần công cuộc giải phóng giai cấp,
giải phóng con người. Hội nghị TW8 (5/1941) do Hồ Chí Minh chủ trì kiên
quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhấn mạnh đó là “nhiệm vụ bức
thiết nhất”, chủ trương tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” và chỉ tiến
hành nhiệm vụ đó ở một mức độ thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giải
phóng dân tộc. Trong nhiều bài viết, bài nói thời kỳ kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ, Người tiếp tục khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc. “Trường kỳ
kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công”.
+ Tính chất: giải phóng dân tộc. (0,5 điểm)
Phân tích thực tiễn xã hội thuộc địa Hồ Chí Minh nhận thấy, sự phân hoá
giai cấp ở các nước thuộc địa phương Đông không giống như ở các nước tư bản
phương Tây. Các giai cấp ở thuộc địa có sự khác nhau ít nhiều nhưng đều có
chung số phận là người nô lệ mất nước. Mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu trong xã
hội thuộc địa phương Đông là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa
thực dân xâm lược và tay sai của chúng. Do vậy, cuộc đấu tranh giai cấp cũng
không diễn ra giống như ở phương Tây. Nếu ở các nước TBCN phải tiến hành
đấu tranh giai cấp, thì các nước thuộc địa trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc.
Để thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ của cuộc CMGPDT trong
Theo HCM, CMVN muốn giành thắng lợi, trước hết phải có một đảng
chân chính lãnh đạo. Người chỉ rõ : “Cách mệnh trước hết phải có đảng cách
mệnh…Đảng có vững cách mệnh mới thành công…Đảng muốn vững thì phải có
chủ nghĩa làm nòng cốt…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ
nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là CN Lênin”. Để đảm
bảo sau khi CM thành công, đất nước có nền độc lập hoàn toàn, đa số nhân dân
lao động được hưởng ấm no hạnh phúc thì CM phải do ĐCS lãnh đạo. Đảg đó
phải được XD theo các nguyên tắc Đảng kiểu mới của Lệnin, được vũ trang
băng CN Mác – lênin.
Thứ ba, CMGPDT là sự nghiệp đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên
minh công nông làm nòng cốt.
Trên cơ sở kế thừa, vận dụng quan điểm của CN Mác – Lênin vào đk thực
tiễn VN, HCM xác định: CMGPDT là sự nghiệp chúng cả dân chúng chứ không
phải việc một hai người”, vì vậy phải đoàn kết toàn dân, “ sĩ, nông, công, thương
đều nhất trí chống lại cường quyền”. Nhưng trong sự tập hợp rộng rãi đó,
Người nhắc nhở không được quên cái cốt của nó là công – nông. Phải nhớ:
“Công nông là người chủ cách mệnh…Công nông là gốc cách mệnh”.
Trong điều kiện, hoàn cảnh của các nước thuộc địa, cụ thể như Việt Nam,
một nước thuộc địa nữa phong kiến, với hơn 95% dân là nông dân thì cuộc
CMGPDT phải có sự tham gia của giai cấp nông dân, và là sự nghiệp của toàn
dân.
HCM chỉ ra rằng; bộ phận trung tâm của lực lượng CMGPDT là công
nhân, nông dân và khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.
HCM phát hiện, đánh giá cao vai trò, sứ mệnh và khả năng thực thi nhiệm vụ
CMGPDT của giai cấp nông dân ở các thuộc địa nói chung và g/c nông dân Việt
Nam nói riêng. Mặc dù đánh giá cao vai trò, sứ mệnh của g/c nông dân song
trước sau HCM vẫn luôn khẳng định rằng, g/c côngnhân là g/c lãnh đạo CM,
Đảng phải lãnh đạo XD khối liên minh công nông làm nòng cốt cho Mặt trận
dân tộc thống nhất.
Cùng với việc XD liên minh công nông, xác định: “Công nông là người
HCM khẳng định: CM thuộc địa không những không fụ thuộc vào CM vô sản ở
chính quốc mà còn có thể giành thắng lợi trước.
HCM cho rằng, thực hiện thắng lợi CMGPDT ở thuộc địa, không chỉ giải
phóng nhân dân khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân mà còn tạo đk cho cuộc
CM vô sản ở chính quốc. Người nói : “ Trong khi thủ tiêu 1 trong những điều
kiện tồn tại của CNTB là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh
em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải fóng hoàn toàn.
Đây là 1 luận điểm sáng tạo của HCM, có giá trị lýluận và thực tiễn to lớn
đối với phong trào cách mạng thế giới và là sự bổ súng kịp thời vào kho tang
lýluận của CN Mác - Lênin. Đặc biệt đối với CMVN, luận điểm của HCM đã
được vận dụng một cách chủ động, sáng tạo trong tiến trình vận động CMGPDT.
Thắng lợi của CM tháng Tám 1945 ở VN, làm một minh chứng khẳng định luận
điểm của HCM hoàn toàn đúng đắn.
Thứ năm, CMGPDT phải được thực hiện bằng con đường bạo lực,
kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang; khởi
nghĩa từng fần, tiến tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn.
Căn cứ vào thực tiễn tình hình CM thế giới và thực tiễn VN; nghiên cứu
lý luận về CM vô sản, HCM khẳng định, để cứu nước, giải fóng dân tộc, CMVN
fải tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực: kết hợp khởi nghĩa vũ trang
với đấu tranh chính trị của quần chúng
13
2
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Các phong trào yêu nước VN diễn ra
theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau. Với phương châm “Pháp Việt đề
huề” Phan Châu Trinh chủ trương dựa vào Pháp để tăng cường tiềm lực đất
nước, , chủ yếu sử dụng hình thức đấu tranh hợp pháp, đấu tranh bằng con
đường hòa bình để giành độc lập dân tộc ở VN. Nhưng đó chỉ là phương fáp
mang tính ảo tưởng, thiếu thực tế và đã thất bại. Vì bản chất của thực dân, đế
chiến lược, sách lược và phương fáp tiến hành CMGPDT ở thuộc địa.
Thắng lợi của CM T8/1945 và 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ đã cho thấy tính khoa học đúng đắn sáng tạo của tư tưởng HCM về
CMGPDT ở VN.
Những sáng tạo về lý luận của HCM được thể hiện ở những điểm sau:
- CMVN là 1 bộ phận của CM thế giới, trong thời đại mới fải đi theo quỹ
đạo CM vô sản.
14
2
- CMGPDT có thể nổ ra và giành thắng lợi trước CM vô sản ở chính
quốc, đồng thời tạo đk thuận lợi cho CM vô sản ở chính quốc giành thắng lợi
- Trong đk 1 nước thuộc địa nửa phong kiến như ở nước ta, việc chuẩn bị
về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời của ĐCS, việc truyền bá lý luận của
CN Mác, sự kết hợp nhuần nhuyền giữa CN Mác – Lênin, phong trào công nhân
và phong trào yêu nước, thành lập ĐCSVN là một sáng tạo to lớn và quan trọng
của HCM
- Vấn đề XD lực lượng CM, HCM khẳng định, CM là sự nghiệp của toàn
dân. Do đó phải vận động, giác ngộ tất cả các thành phần DT, không phân biệt
đảng fái, g/c, tôn giáo…tham gia CM.
Những sáng tạo về phương fáp: Bằng phương pháp sử dụng CM bạo lực:
Kết hợp khởi nghĩa vũ trang với đấu tranh chính trị của quần chúng; phương
pháp tập hợp rộng rãi lực lượng dân tộc tham gia tổ chức Mặt trận dân tộc thống
nhất; phương fáp XD căn cứ địa CM; phương pháp khởi nghĩa từng phần tiến tới
tổng khởi nghĩa…, HCM đã làm phong phú kho tàng lý luận của phương pháp
CM trong CMGPDT, vì vậy HCM đã được thế giới tôn vinh Anh hùng GPDT.
Đáp án Câu 2: Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng
giải phóng dân tộc trong giai đoạn hiện nay (3 điểm)
Luận điểm "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường
cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác
với các nước trên thế giới”.
- Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách
mạng giải phóng dân tộc. (1.0 đ).
Đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong quỹ đạo
của cách mạng vô sản và là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt
Nam. Người khẳng định: “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Cách mạng giải phóng
dân tộc phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
Đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã
tạo nên sức mạnh tổng hợp và phát huy tác dụng, đưa tới những thắng lợi rực
rõ của cách mạng nước ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc được hình thành
và phát triển trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đó là sự sáng tạo của Hồ Chí
Minh, mang tinh thần cách mạng và khoa học, được kiểm chứng trong thực tiễn
cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Tuyệt nhiên đó không
phải là sự vay mượn, chắp vá hay “nhập khẩu cách mạng”. Những quan điểm
của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc thấm đượm khát vọng của
nhân dân Việt Nam về độc lập, tự do, công bằng, văn minh, ấm no, hạnh phúc.
Đó là đòi hỏi chính đáng của tất cả các dân tộc trong đó có Việt Nam.
Việc Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vì,
như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế
giới khỏi ách nô lệ. Bằng việc nêu lên luận điểm mang tầm chân lý thời đại, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã làm phong phú lý luận Mác - Lênin về cách mạng vô sản ở
các nước thuộc địa, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên phổ biến đối với mọi
dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai
quốc, chúng ta cần nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan
hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội nhằm tạo ra những nguồn lực mới, đưa sự nghiệp đổi mới vững bước
tiến lên những thắng lợi mới. Phải khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước
và tinh thần dân tộc, tạo điều kiện và phát huy mọi nguồn lực để xây dựng và
bảo vệ đất nước (cả nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài; dân tộc và
quốc tế).
Do bản chất của mình, ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn không từ
bỏ chính sách thực dân xâm lược với nhiều biến tướng mới rất tinh vi và xảo
quyệt nhằm bóc lột các nước kém phát triển, chậm phát triển. Những cuộc chiến
tranh và can thiệp quân sự của các nước phương Tây vào các quốc gia độc lập
có chủ quyền trong những thập niên 90 của thế kỷ XX và thập niên đầu của thế
kỷ XXI, đặc biệt gần đây, cuộc tấn công quân sự của Liên quân do NATO lãnh
đạo chống Libi, cho dù cố che đậy với những lý do gì, thì về thực chất vẫn là các
cuộc xâm lược nhằm mục đích phân chia lại thị trường thế giới, giành giật tài
nguyên, môi trường, duy trì hoặc áp đặt ảnh hưởng của họ lên các nước đang lựa
chọn con đường phát triển của dân tộc mình, ngăn cản quá trình vận động, phát
triển lên chủ nghĩa xã hội của các quốc gia đã giành được độc lập, buộc các quốc
gia này phải phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản.
Bài học lịch sử trong thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI cảnh tỉnh
chúng ta rằng, còn chủ nghĩa tư bản là còn nguy cơ bị xâm lược; độc lập dân tộc,
chủ quyền quốc gia, sự thống nhất đất nước còn bị đe dọa. Do đó, chủ nghĩa tư
bản quyết không phải là sự lựa chọn của nhân loại trong thời đại ngày nay. Chỉ
có đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã
17
2
hội thì độc lập dân tộc mới được giữ vững, nhân dân lao động mới được giải
phóng thực sự. Đó cũng chính là chân lý thời đại mà cách đây 100 năm, Chủ
khối đoàn kết toàn dân tộc, trên cơ sở củng cố khối liên minh công – nông – trí.
Chính vì thế, chúng ta đã phát huy được tiềm năng trí tuệ của đông đảo các tầng
lớp nhân dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
NGƯỜI RA ĐỀ THI
VIỆN TRƯỞNG
18
2
Lý Việt Quang
Phạm Ngọc Anh
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 3
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC LÃNH TỤ CỦA ĐẢNG
---------------ĐÁP ÁN ĐỀ THI KẾT THÚC MÔN HỌC
DÀNH CHO HỆ CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LỚP: CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN THI: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể thời gian chép đề)
Câu hỏi 1:? (6 điểm)
Đáp án Câu 1: (6 điểm)
- Đặt vấn đề:
Một trong những bài học quan trọng nhất mà Đại hội VIII của Đảng Cộng
sản Việt Nam rút ra từ quá trình đổi mới là “kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh”. Văn kiện Đại hội IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh:
nào đó của Người cần thiết phải đặt nó trong bối cảnh cụ thể: Nói với ai, nhằm
mục đích gì, do đâu hay vì sai mà nói, viết như thế để không dẫn đến những suy
diễn hay quy kết nhầm lẫn, sai lệch với tư tưởng của Người.
Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến lược gia vĩ đại mà còn là một nhà
chỉ đạo chiến lược, một nhà sách lược tài giỏi. Tùy đối tượng, hoàn cảnh cụ thể
mà Người có cách xử lý linh hoạt, sáng tạo riêng.
Vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh rất cần nắm chắc lịch sử vấn
đề và rất cần so sánh, tìm hiểu các điều kiện ra đời quan điểm tư tưởng đó còn
không? Còn như thế nào để bổ sung và phát triển.
Ba là, quan điểm toàn diện và hệ thống
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống đề cập toàn diện đến các vấn để
của con người và xã hội Việt Nam.
Bản thân Người khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tương, xã hội hay con
người luôn nhìn qua các mối quan hệ nhiều chiều để thấy toàn diện của vấn đề,
đồng thời cũng nhìn toàn diện các vấn đề như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội; quá khứ hiện tại, tương lai; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; cá
nhân, tập thể, cộng đồng; thời, thế, lực; thiên thời, địa lợi, nhân hòa; nhận thức,
tư tưởng, phương pháp, phong cách; tình cảm, đạo đức, nhân cách, lối sống; lý
luận và thực tiễn, nói và làm, quyền lợi vào nghĩa vụ, v.v.
Cán bộ, đảng viên trong công tác, công việc phải có cái nhìn toàn cục,
tránh chủ quan, phiến diện, cục bộ. Vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
trước hết là vận dụng, phát triển cách nhìn toàn diện về mình, về người, về vật,
về việc của Người.
20
2
Hoàn thiện nội dung toàn diện của hệ thống các quan điểm cơ bản của
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bốn là, Quan điểm kế thừa và phát triển
khai thác, kích động, lôi cuốn các dân tộc vào cơn lốc bạo lực mới chưa biết khi
nào chấm dứt. Bên cạnh đó các cường quốc công nghệ đang thực hiện âm mưu
biến các nước chậm phát triển thành bãi thãi công nghệ, hòng kìm hãm các nước
này trong vòng lạc hậu dễ thao túng, bóc lột. Ở ta các thế lực phản động trong và
ngoài nước cấu kết với nhau kích động hận thù và theo đuổi âm mưu xoá bỏ
CNXH. Nền độc lập dân tộc chỉ được bảo vệ vững chắc khi và chỉ khi nước ta
giàu, mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là mục tiêu phản ảnh đầu đủ
quan niệm của HCM và Đảng ta về CNXH ở VN.
21
2
+ Đổi mới là sự nghiệp của toàn dân, do vậy mọi chủ trương, chính sách
phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc:
Xác định đổi mới là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng, mọi chủ trương, chính sách phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, việc gì
có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh.
Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân đẻ ổn định xã hội,
đồng thời cũng là để xây dựng cơ sở cho khối đoàn kết dân tộc, của lien minh
công – nông – trí, nhằm khắc phục và hạn chế khoảng cách giàu nghò, khoảng
cách giữa nông thôn và thành thị.
Mở rộng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc làm cho chiến lược đại đoàn
kết của HCM đạt thắng lợi mới rực rỡ hơn. Mở rộng quan hệ quốc tế, kết hợp
sức mạnh dân tộc với thời đại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở
giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc.
+ Tăng cường, cũng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân
tộc làm cho chiến lược đại đoàn két dân tộc HCM đạt thắng lợi rực rở hơn:
Nghiên cứu vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh,
chúng ta thấy, phương pháp đại đoàn kết dân tộc của Người thực sự là khoa học,
là nghệ thuật của sự cảm hoá, thu phục lòng người. Đó là nghệ thuật khơi dậy và
Thấm đượm tinh thần yêu nước truyền thống Việt Nam, trong tư tưởng
Hồ Chí Minh cái quý nhất trên đời là độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân.
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ là tư tưởng mà còn là lẽ sống,
là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh. Vì thế, Người không chỉ được tôn
vinh là “anh hùng giải phóng dân tộc” của Việt Nam mà còn được thừa nhận
là “Người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa
trong thế kỷ XX”.
+ Xây dựng và phát huy động lực cách mạng trong đổi mới (0.5 đ)
Phần lớn cuộc đời Hồ Chí Minh tập trung cho sự nghiệp giải phóng dân
tộc. Khi Hồ Chí Minh qua đời, đất nước vẫn chưa có hoà bình, thống nhất, vì
vậy, những vấn đề về chủ nghĩa xã hội, Người mới chỉ kịp vạch ra trên những
nét cơ bản. Bước vào thời kỳ xây dựng, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta vận dụng một cách sáng tạo, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa đất nước
đi lên vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ: Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội là tất
yếu, nhưng đó là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài giữa xấu và tốt cũ và
mới, lạc hậu và tiến bộ. Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cách
mạng. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh để cách mạng thành công trước hết cần có
đảng vững mạnh. Để cho Đảng vững mạnh, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới thắng
lợi, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh,
+ Học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh (1đ)
Sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
không chỉ ở những nguyên lý, những quan điểm do các ông nêu lên mà còn ở sự
vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển của các thế hệ tiếp theo. Chính sự vận
dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển đó làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh trường tồn, ngày càng có sức mạnh to lớn.
Cũng như vậy, khi tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận
thấy cần thiết phải bổ sung cho chủ nghĩa Mác những tư liệu mà ở thời mình
Mác không thể có được.
Với bản chất cách mạng và khoa học, Đảng ta đã không ngừng chăm lo xây
dựng Đảng, kiên cường lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi gian nan thử thách, đưa
cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, viết tiếp những trang sử vẻ
vang của dân tộc. Có thể nói, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – một Đảng đạo
đức và văn minh, cách mạng và khoa học – là vấn đề có tính nguyên tắc, là quy
luật của cách mạng XHCN, là nhân tố bảo đảm sự phát triển đúng đắn của đất
nước. Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì không thể có độc lập dân tộc
vững chắc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có Nhà nước
của dân, do dân và vì dân theo đúng nghĩa của nó và càng không thể có CNXH.
Do vậy, để xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh thì những người cộng sản
Việt Nam nhất thiết phải nâng mình lên một tầm cao mới về tri thức và văn minh
của thời đại.
- Mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần và thường xuyên trau dồi
đạo đức của người cộng sản.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: đạo đức cách mạng là nền tảng, là
tiêu chuẩn đầu tiên của người cách mạng. Nhìn lại trong những năm qua, chúng
ta đã thu được nhiều thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề để tiếp tục đi
theo con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Đó cũng
là kết quả tốt đẹp của việc rèn luyện đạo đức cách mạng; là quá trình làm mới
đạo đức cách mạng cả về thực tiễn và ý thức, cả trong Đảng và trong dân. Tuy
nhiên vẫn còn “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ
chủ chốt các cấp yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… Thoái hóa biến chất về
chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách
24
2
nhiễu dân… diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… Đó
là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.
Trước tình hình ấy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách
nhiều nguyên nhân, song trước hết do năng lực lãnh đạo của Đảng có những mặt
chưa theo kịp sự phát triển mau lẹ của tình hình. Đảng ta cần nhận thức sâu sắc
nguyên nhân này, chứ không thể đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan về tình
trạng yếu kém trong công tác xây dựng Đảng.
Ngày nay, đất nước ta đang đứng trước thời cơ lớn, đồng thời phải đối
mặt với những thách thức gay gắt, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến
phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Điều đó đặt ra đối với
Đảng nhiều vấn đề mới mẻ cần phải giải quyết. Công tác xây dựng Đảng càng
25
2