Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu đặc điểm của đồng thoại của vân thanh, lại nói về truyện đồng thoại viết cho thiếu nhi của võ quảng - Pdf 41

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................2

1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong đời sống con người xưa nay, văn học đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Với

tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một loại hình nghệ thuật, văn học làm phong phú hơn hiểu
biết của con người, góp phần hình thành nhân cách, đúng như M.Gorki đã từng nói “ Văn học là
nhân học”.
Ở Việt Nam, trong sự phát triển của nền văn học dân tộc, mỗi đối tượng, mỗi lứa tuổi, cũng
có những sáng tác văn học phù hợp. Trong đó, văn học thiếu nhi là một bộ phận quan trọng góp
phần làm nên diện mạo của văn học nước nhà. “Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống”. Đó
là những bức tranh muôn màu về cuộc sống, về thế giới tâm hồn đáng yêu, hồn nhiên và trong
sáng của lứa tuổi ấu thơ.
Và với bất kì ai, tuổi thơ là quãng thời gian đáng nhớ, quãng thời đẹp, quãng thời gắn bó với
những cảm xúc, suy nghĩ hồn nhiên, sống động. Những lời hát ru, những câu chuyện cổ tích thời
thơ ấu sẽ theo chúng ta suốt cuộc đời và trở thành kỉ niệm khó quên của tuổi thiếu niên. Lớn lên,
khi bắt đầu biết đọc những con chữ các em lại tiếp tục tìm những câu chuyện phù hơp sở thích,
để thỏa mãn trí tưởng tượng phong phú của mình. Văn học thiếu nhi, vì vậy đã trở thành một bộ
phận không thể thiếu của bất kì nên văn học nào.
Khi nhắc đến văn học thiếu nhi thì chúng ta không khỏi không nhớ đến Tô Hoài một nhà
văn được xem là người có công đặt viên gạch đầu tiên dựng nên ngôi nhà văn học thiếu nhi Việt
Nam hiện đại. Nhà văn Tô Hoài là một nhà văn tài năng và là tấm gương sáng về lao động nghệ
thuật. Nhà văn đã có nhiều tác phẩm dành nhiều cho thiếu nhi. Từ những câu chuyện nhỏ hằng
ngày, từ những cốt truyện khai thác từ truyện cổ tích, truyền thuyết trong dân gian, từ chuyện
viết về những loài vật gần gũi, đáng yêu đến những loài cây cối xanh tươi…tác giả dành phần
lớn sự nghiệp cầm bút viết nên những tác phẩm hay dành tặng lứa tuổi thiếu nhi. Thông qua hình
tượng nhân vật, tác giả đã giúp các em có nền tảng tốt đẹp để cảm nhận và thấu hiểu điều hay lẽ
phải ở đời.

thơ, tham gia rất sớm vào quá trình hình thành nhân cách của mỗi con người. Khi nói về đặc
trưng của truyện đồng thọai, các tác giả trên cũng bàn đến vấn đề nhân vật. Theo họ, hệ thống
nhân vật của truyện đồng thoại rất đa dạng, nhưng trọng tâm vẫn là loài vật, và chúng được miêu
tả theo một số nguyên tắc nhất định: nhân cách hóa, cách điệu hóa… Nhân vật của đồng thoại
không chỉ là người mà còn đủ các loài vật, loài có xương sống hoặc không có xương, biết nhảy,
biết bay, biết bơi lội (…), là các loài cây cỏ hoa quả mọc ở bất cứ khí hậu nào. Cả từ cây kim sợi
chỉ cho đến đoàn tàu, chiếc cầu sắt, đều có thể biến thành nhân vật của đồng thoại.
Nhà văn Tô Hoài là người có nhiều sáng tác hay dành cho thiếu nhi được cả người lớn yêu
thích. Nhiều nhà nguyên cứu, phê bình đã quan tâm đến những sáng tác cho thiếu nhi của Tô
Hoài, trong đó có mảng truyện đồng thoại.
Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (quyển IV, Nxb Tân Dân, H. 1944)
nhận xét: “Truyện ngắn của Tô Hoài không những đặc biệt về lời văn, cách quan sát, về lối kết
cấu, mà còn đặc biệt cả về những đặc biệt cả về những đầu đề do ông lựa chọn nữa”. “Truyện
của ông có những tính chất nửa tâm lý, nửa triết lý, mà các vai lại là loài vật. Mới nghe tưởng
như những truyện ngụ ngôn, nhưng thật không có tính cách ngụ ngôn chút nào: Ông không phải
một nhà luận lý, truyện của ông không để răn đời. Nó là những truyện tả chân về loài vật, về
2


cuộc sống của loài vật, tuy bề ngoài có vẻ lặng lẽ, nhưng bên trong có lắm cái “Ồn ào”, vui cũng
có mà buồn cũng có” [Theo Phong Lê – Vân Thanh, sđd.59].
Tác giả Phan Cự Đệ trong cuốn Nhà văn Việt Nam 1945-1975 (Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp H.1975) nói về đặc điểm truyện đồng thoại của Tô Hoài như sau: “Trong các
truyện đồng thoại (Con mèo lười, Chim chích lạc rừng, Cá đi ăn thề), Tô Hoài đã phát huy nhân
tố tưởng tượng, phần phong phú nhất trong tư duy các em nhỏ. Truyện đồng thoại của Tô Hoài
cũng là sự kết hợp giữa khả năng quan sát loài vật rất tinh tế với một bút pháp miêu tả giàu chất
trữ tình và chất thơ. Thiên nhiên ở đây màu sắc rực rỡ, âm thanh náo nức và luôn chuyển động
rộn rang, tươi vui đúng như thị hiếu hàng ngày của tuổi thơ” [Theo Phong Lê – Vân Thanh, sđd,
tr.94].
Tác giả Trần Hữu Tá trong Văn học Việt Nam 1945-1975, tập 2 (Nxb Giáo dục 1990) đã

Có thể thấy, khi nghiên cứu truyện thiếu nhi, trong đó có mảng đồng thoại của nhà văn Tô
Hoài, các tác giả đã đề cập tới những khía cạnh khác nhau, song vẫn còn những vấn đề khoa học
cho khóa luận của em nghiên cứu. Đặc biệt, việc tìm hiểu truyện đồng thoại của Tô Hoài qua
Tuyển tập Văn học thiếu nhi ( 2001) cũng là việc làm có ý nghĩa. Dù khả năng còn rất hạn chế,
tác giả khóa luận đã cố gắng tìm hiểu các tài liệu có liên quan, kế thừa những kết quả nghiên cứu
trước đó để mở rộng và phát huy những đặc điểm trong truyện đồng thoại của Tô Hoài. Hy vọng
đây sẽ là đề tài có ý nghĩa với những ai quan tâm tới truyện đồng thoại nói chung và đồng thoại
Tô Hoài nói riêng.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu đặc điểm truyện đồng thoại viết cho thiếu nhi của Tô Hoài qua tài liệu khảo sát. Thông
qua những đặc điểm ấy thấy được tác dụng của truyện đồng thoại của Tô Hoài đối với việc giúp
trẻ năng cao khả năng cảm thụ văn học.
4.
4.1.
4.2.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm truyện đồng thoại viết cho thiếu nhi của Tô Hoài.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu những tác phẩm thể loại truyện đồng thoại trong
Tuyển tập Văn học thiếu nhi của Tô Hoài ( NXB Hà Nội, 2001).

5.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các tác phẩm đồng thoại trong Tuyển tập Văn
học thiếu nhi của Tô Hoài ( NXB Hà Nội, 2001) để thấy được đặc sắc về nhân vật, ngôn ngữ, cốt
truyện và kết cấu của thể loại truyện đồng thoại, từ đó tổng hợp, khái quát lại và đưa ra kết luận
chung.

thiếu nhi, câu chuyện về các món ăn tinh thần cho thiếu nhi chúng ta bàn hôm nay và ở đây
không thể xem là một câu chuyện nhỏ, ngoài lề mà là câu chuyện nghiêm trang của tất cả mọi
người lớn, của bậc cha mẹ, của các thầy cô, và cố nhân, của những ai viết cho thiếu nhi, của tất
cả những ai quan tâm và có trách nhiệm đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu nhi”.
Văn học thiếu nhi có nhiệm vụ chính yếu, đó là giáo dục trẻ em trở thành người tốt. Văn học
thiếu nhi phải tải đạo. Nhưng tuyệt nhiên ở đây không phải là lời giáo huấn giá lạnh, khô khan,
hoặc ngược lại, đây cũng không phải là chuyện bạo lực, giật gân để làm cho thiếu nhi bị thu hút.
Văn học thiếu nhi được gọi là hay, là tốt, thường có bên trong một sức mạnh. Đó là sức mạnh
của cái đẹp, sức mạnh của văn chương nghệ thuật. Sức mạnh đó sẽ đánh thức trong các em tình
cảm và ý nghĩa tốt đẹp, làm cho các em biết tôn trọng, yêu thương, thấy những nghĩa vụ cần làm,

5


sống có tình nhân ái, biết sống một cách tốt đẹp. Đã có nhiều thông tin trong và ngoài nước nói
về tác dụng cực kì to lớn của sách tốt, sách hay đối với thiếu nhi.
Kinh nghiệm trong và ngoài nước cho thấy đề tài viết cho thiếu nhi rất rộng mở. Từ những
chuyện người thực việc thực, những chuyện của đời thường cho đến chuyện cổ tích, thần thoại,
truyện khoa học viễn tưởng, những chuyện có đủ mọi phép thần thông biến hóa đều có thể đến
với các lứa tuổi thiếu nhi. Trẻ em thích những truyện có nhiều tưởng ượng, dí dỏm, tươi vui.
Nhưng trong mọi sang tác được gọi là hay cho thiếu nhi đều phải mang vẻ đẹp của một sáng tác
văn học chân chính. Ở đó câu chuyện thường có tính điển hình, đúng đối tượng. Ở đó mọi tình
tiết xảy ra đều gắn bó theo qui luật cuộc sống và tình cảm của con người. Đặc biệt nhất ở đây
mọi hình tượng hiện lên sinh động chân thật như hơi thở có nhịp đạp, có máu thịt. Đó là tính
chân thật hiểu theo nghĩa rộng. Ở đậy mọi tưởng tượng hòa với cái có thật, hiện lên như “ thật ”,
trong lúc ở những sang tác dở, lắm lúc cái thật lại hiện lên cái giả tạo.
Văn học thiếu nhi rất kị cái giả tạo, vì nó sẽ làm trẻ em hiểu sai bản chất sự sống. [48,tr.37]
Mọi tiếp nhận văn học của thiếu nhi từng lúc, từng nơi cũng có những biến động, đổi mới,
nên mọi sang tác văn học cho thiếu nhi cần phải nhìn thấy điều đó. Mặt khác cũng phải thấy rõ,
mỗi sang tác tốt và hay cho thiếu nhi đều có sức mạnh của cái đẹp. Chính nhờ sức mạnh của cái

ái? Đó là vấn đề hoàn toàn không đơn giản. Viết cho các em, phải là tình bạn, không phải chúng
tahaj mình cúi xuống mà thực sự hòa nhập vào cuộc sống trẻ thơ và được các em chấp nhận về
mặt tình cảm. [48,tr.39]
Văn học thiếu nhi không chỉ có vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc mà còn có vai trò
đặc biệt quan trọng trong đời sống trẻ thơ. Nhiều nghiên cứu cho thấy văn học thiếu nhi đã góp
phần không nhỏ vào việc rèn luyện tư duy; kích thích khả năng tưởng tượng và sáng tạo của trẻ,
cung cấp cho các em những trải nghiệm cuộc sống. Văn học thiếu nhi quan trọng với trẻ em ngay
cả trước và sau khi đến trường. Đối với lứa tuổi mầm non và tiểu học, văn học thiếu nhi còn giúp
cho các em học đọc, học viết. Thông qua các tác phẩm văn học, các em không những tích lũy
được vốn từ phong phú, hiểu được nghĩa của từ ngữ nghệ thuật mà còn biết nâng cao khả năng
biểu đạt trong lời nói. Văn học thiếu nhi cũng giúp cho trẻ em học cách giao tiếp, thấy được
những niềm vui, nỗi bất hạnh của con người trong cuộc đời để biết cảm thông và chia sẻ.
Trong tham luận “ Văn học và trẻ em”, Vân Thanh – một trong những chuyên gia đầu ngành
về văn học thiếu nhi đã trình bày một vấn đề không mới nhưng không bao giờ cũ, đó là mối
quan hệ giữa văn học và trẻ em, cái làm nên giá trị của một tác phẩm viết cho trẻ em.
Lã Thị Bắc Lí trong “ Nhận diện Văn học thiếu nhi Việt Nam từ thời kì đổi mới” đã trình
bày một các khái quát sự vận động và những thành tự nổi bật của văn học cho trẻ em ở Việt Nam
từ năm 1986 đến nay. Tác giả đã khẳng định: “ Văn học thiếu nhi Việt Nam từ thời kì đổi mới và
hội nhập quốc tế đã phát triển khá phong phú, đa dạng trong cách khai thác đề tài, chủ đề, mở ra
khả năng bao quát những bức tranh sinh động về đời sống trẻ em. Không chỉ là tiếp cận trẻ em ở
phương diện” con ngoan, trò giỏi “ kiểu truyền thống mà tiếp cận, khám phá trẻ thơ như những
số phận, những nhân cách được tác động từ nhiều hướng, nhiều chiều…” Sự gay gắt của những
chuyển biến kinh tế, xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới văn học, đặc biệt là văn học thiếu nhi… ảnh
hưởng trực tiếp tới đời sống tâm hồn và sự phát triển nhân cách của trẻ thơ…”. [32,tr.10]
Cùng mang cái nhìn tổng quát, tác giả Lê Hằng ( CĐSP Hà Nội ) hướng tới đánh giá sự hội
nhập của văn học thiếu nhi Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa. Tác giả băn khoăn về vấn đề:
Quán tính của văn học thiếu nhi thời chiến quá lớn hay sự lo lắng thái quá về nguy cơ “ diễn biến
7



Tham luận “ Sách học cho trẻ em thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế - đôi điều suy nghĩ”
của Phùng Ngọc Kiến (ĐHSP Hà Nội), từ việc nêu lên một số nhận xét về thực trạng sáng tác
văn học cho trẻ em, phân tích cả hai phương diện “cầu” và “cung”, chia sẻ những suy nghĩ về
tình trạng “thừa” và “thiếu” của văn học thiếu nhi hiện nay, tác giả đã bước đầu đề xuất những ý
tưởng trả lời câu hỏi: làm thế nào để văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển?
8


Ba bản tham luận: “ Tô Hoài và truyện ngắn thiếu nhi” ( Nguyễn Đặng Mạnh –ĐHSP Hà
Nội), “ Văn chương của sự nhẹ nhõm, sấu xa” ( Nhã Thuyên), “ Thằng quỉ nhỏ” của Nguyễn
Nhật Ánh. “ Từ nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi” ( Trần Văn Toàn
– ĐHSP Hà Nội) đã thể hiện những băn khoăn, lo lắng cho chất lượng của văn học trẻ em hôm
nay, và đưa ra những yếu cầu mang tính gợi mở đối với công việc sáng tác văn học cho trẻ em
thời kì đổi mới và hội nhập quốc tế.
Trong quá trình hội nhập hôm nay, trẻ em Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ tiếp cận văn
hóa xâm nhập không qua thử thách của thời gian, sự kiểm soát của chính quyền, sự lựa chọn của
thiết chế tổ chức giáo dục. Để giúp các em đủ bản lĩnh tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa
nhân loại, làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam mà vẫn “ đề kháng” “ miễn dịch” trước làn
sóng “ xâm lăng”phản văn hóa đang diễn ra mạnh mẽ, chúng ta phải xây dựng cho các em được
“ Nhân cách” người Việt – cái làm nên sức sống và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Đối với
việc hình thành và phát triển nhân cách thiếu nhi, không gì hơn là tác động vào văn học thiếu
nhi. Trước yêu cầu của thời đại, văn học viết cho thiếu nhi cần tích cực vận động cho phù hợp
với yêu cầu giáo dục và thị hiếu trẻ em thời kì toàn cầu hóa…”[32,tr.66]
Tác động của văn học thiếu nhi đối với trẻ em không chỉ bó hẹp trong các sáng tác văn học
Việt Nam mà còn là những sáng tác văn học nước ngoài. Qua các tham luận: Các tác phẩm văn
học nước ngoài trong chương trình THCS và vấn đề giáo dục nhân cách cho học sinh ( PGS.TS
Lê Nguyên Cẩn – ĐHSP Hà Nội Đôremon truyện tranh Nhật Bản trong thời toàn cầu hóa ( TS
Đào Thu Hằng – ĐHSP Hà Nội); Andecxen “ Cô bé bán diêm” và những câu chuyện muôn thuở
( PGS.TS Lê Huy Bắc – ĐHSP Hà Nội); Tagore nhà sư phạm lớn ( TS Nguyễn Thị Mai Liên –
ĐHSP Hà Nội ); Sức hấp dẫn văn học viết thiếu nhi qua hình tượng “ Nhóc Nicolas ( PGS.TS

Theo Hoàng Vân Sinh, “ từ đồng thoại ở Trung văn được du nhập từ Nhật Bản, xuất hiện ở
Trung Quốc vào cuối nhà Thanh” [17,tr.1]. Ở Nhật, những truyện kể cho trẻ em được gọi là
Dowa, dịch sang Hán ngữ là “ đồng thoại ”.
Ban đầu, đồng thoại được hiểu theo nghĩa rộng, gồm tất cả mọi tác phẩm có tính kể chuyện
cho trẻ em. Về sau, đồng thoại được hiểu “ là văn học huyễn tưởng có tính đặc thù, trở thành một
thể loại độc lập” [ Hoàng Vân Sinh, 2001, Nhi đồng văn học khái luận,tr.1], có địa vị quan trọng
trong văn học nhi đồng.
Theo lí thuyết Trung Hoa, đồng thoại nảy sinh từ trong dân gian và được tiếp nối trong thời
hiện đại. Do vậy, kho tàng đồng thoại dân gian là những sáng tác của quần chúng nhân dân, phản
ánh những nhu cầu bức thiết của nhân dân muốn thoát khỏi ách bốc lột, mong ước về tự do, hạnh
phúc. Đồng thoại hiện đại là những sáng tác của các nhà văn dựa tên cơ sở của đồng thoại dân
gian, hoặc là chất liệu, hoặc là nguyên tắc nghệ thuật. Có thể thấy, trong cách hiểu của người
Trung Hoa, đồng thoại thực chất là truyện cổ tích.
1.2.2 Khái niệm truyện đồng thoại ở Việt Nam.
Danh từ đồng thoại xuất hiện trong Việt ngữ được ghi nhận lần đầu tiên bởi công trình Hán –
Việt từ điển của Đào Duy Anh ( Quan Hải tùng thư xuất bản, 1932).
Theo kết quả khảo sát, hầu hết các bộ Từ điển Hán – Việt, Từ điển Tiếng Việt đều có mục từ
“ đồng thoại ”.
10


Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh và nhiều từ điển khác định nghĩa đồng thoại là “ truyện
chép cho trẻ em ”.
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học lại xem đồng thoại là một thể loại văn học: “
Đồng thoại: thể truyện cho trẻ em, trong đó loài vật và các vật vô tri được nhân cách hóa, tạo nên
một thế giới thần kì thích hợp với trí tưởng tượng của các em” ( Viện Ngôn ngữ học, 2001, Từ
điển Tiếng Việt, tr.344).
Trong bài viết “ Tìm hiểu đặc điểm của đồng thoại ”, Vân Thanh đã đưa ra định nghĩa như
sau: “ đồng thoại là một thể loại đặc biệt của văn học, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện
thực và mở tưởng. Ở đây, các tác giả thường dùng nhân vật chính là động vật, thực vật và những

đồng thoại được gán tính cách như con người phù hợp với điểm thực của mỗi loài vật trong cuộc
sống. Qua tấm gương các nhân vật đó mà trẻ em cảm nhận và phân biệt được điều gì đúng, điều
gì sai, việc nên làm và không nên làm. Nghệ thuật nhân hóa đã giúp truyện đồng thoại mang đậm
ý nghĩa nhân sinh.
1.3 Truyện đồng thoại của Tô Hoài
1.3.1 Vài nét về tiểu sử nhà văn Tô Hoài
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 – 9 - 1920 tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy - Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ
công. Ông còn có nhiều bút danh khác như: Mai Trung, Duy Phương, Mắt Biển, Hồng Hoa, Vũ
Đột Kích,…
Quê quán : xã Kim An - huyện Thanh Oai - tỉnh Hà Tây.
Tuổi thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như : dạy học tư,
bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn, … Năm 1938, ông chịu ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân
và tham gia hoạt động trong tổ chức Hội ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội.
Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và bắt đầu viết bài cho báo Cứu
quốc và Cờ giải phóng.
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo “Cứu quốc”. Ông là một trong số
những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số chiến dịch ở mặt trận phía Nam (Nha Trang,
Tây Nguyên…). Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng.
Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ năm 1957 đến năm 1980, Tô
Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn như : Uûy viên Đảng Đoàn, Phó
Tổng thư kí, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi.
Đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm ba mươi cho đến nay, Tô Hoài đã
sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ (hơn một trăm năm mươi đầu sách) ở nhiều thể loại
khác nhau như : tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Với những đóng
góp to lớn cho nền văn học nước nhà, vào năm 1996 ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí
Minh.

* Tác phẩm của Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám :
-


1.3.2 Những chặng đường sáng tác của nhà văn Tô Hoài.
1.3.2.1 Trước cách mạng tháng Tám

Tô Hoài đến với nghề văn ở tuổi mười bảy, mười tám. Những sáng tác đầu tay
của ông được đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ bảy. Tuy xuất hiện ở
giai đoạn cuối của thời kì 1930 - 1945 nhưng Tô Hoài đã sớm khẳng định được vị
trí của mình trong đội ngũ nhà văn thời kì này bằng một loạt tác phẩm độc đáo, đặc
13


sắc như : Dế mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941), O chuột (1942), Trăng
thề (1943) Nhà nghèo (1944 ). Từ các tác phẩm này, người đọc dễ nhận thấy sức
sung mãn dồi dào trong lao động nghệ thuật của ông. Sau này, Tô Hoài đã bộc
bạch chân thành qua Tự truyện về việc ông đến với nghề văn, ông viết : “Tôi vào
nghề văn có trong ngoài ba năm trước Cách mạng tháng Tám, 1945 mà tôi viết như
chạy thi được năm truyện dài, truyện vừa, ba tập truyện ngắn, còn truyện thiếu nhi
như Dế mèn thì mấy chục truyện, cái in, cái chưa in, vương vãi lung tung tôi không
nhớ hết. Cũng chẳng có gì lạ. Viết để kiếm miếng sống lúc ấy tất phải cuốc khỏe
như vậy đấy”.
Tác phẩm của Tô Hoài trước cách mạng có thể phân thành hai loại chính là :
truyện về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo.
Qua những truyện về loài vật tiêu biểu như : O chuột, Gã chuột bạch, Tuổi trẻ,
Đôi ghi đá, Một cuộc bể dâu, Mụ ngan, Đực..., người đọc nhận thấy, nhà văn
thường viết về cái tốt đẹp, khẳng định cái thiện trong cuộc sống, bày tỏ mong
muốn một cuộc sống hạnh phúc, bình yên trong xã hội, một cuộc sống tốt đẹp
mang tính không tưởng.
Trước hết, với Dế Mèn phiêu lưu kí, tài năng nghệ thuật của Tô Hoài được bộc
lộ ở nhiều phương diện. Bằng cách quan sát, cái nhìn tinh tế về loài vật, kết hợp
với những nhận xét thông minh, hóm hỉnh, nhà văn đã lôi cuốn các em vào thế giới
loài vật bé nhỏ gần gũi, hấp dẫn và kì thú qua hình ảnh của: Dế Mèn, Dế Trũi như

đang lâm vào cảnh sống đó.
Nhiều loài vật khác qua cách miêu tả của Tô Hoài tạo cho người đọc dấu ấn
lâu bền. Đó là gã mèo mướp “lừ đừ nghiêm nghị tựa một thầy dòng, trên mình có
khoác bộ áo thâm. Hắn có cái cốt cách quý phái và trưởng giả. Lúc nào cũng nghĩ
ngợi như sắp mưu toan một việc gì ghê gớm lắm”. Đó là cậu gà trống gi “bé nhỏ
sống côi cút một thân, một mình” thuở nhỏ, nhưng khi lớn lại có “bộ mặt khinh
khỉnh ta đây” và cũng rất đa tình, “có tật mê gái, như cái tính chung của loài gà cả của loài người - khi mới lớn lên”, bỏ nhà ra đi vì ái tình, hay dễ quên đi ái tình
cũ để “lần mò đi tìm một vài ái tình khác”. Với chàng gà chọi “nhất sinh chỉ có
một nghề đi đánh lẫn nhau cho người ta xem”, “lúc nào cũng chỉ ngứa ngáy chân
tay”, quả không đủ chữ nghĩa để “tả cái oai lẫm liệt của chàng”. Chàng ta không
thiết gì đến con cái, trong đầu “chỉ đen những ý tình ma chuột”, hay “đi ve gái”,
thế mà khi Một cuộc bể dâu xuất hiện, họ nhà gà chết dần, chết mòn, chàng gà chọi
15


dù anh hùng, lẫm liệt nhưng rồi cũng “tắc thở” để lại “một mình chị mái già, ra lại
vào, ngẩn ngơ”. Với vợ chồng Đôi gi đá “tựa vợ chồng quê mới rủ nhau lên tỉnh.
Họ lờ khờ, ngẩn ngơ, xấu xí - nghĩa là đặc nhà quê”. Chúng cần mẫn xây tổ ấm,
sống hạnh phúc, “bình lặng, chịu khó, ít ồn ã”, chờ ngày đẻ trứng, chờ ngày trứng
nở, chờ những đứa con lớn lên từng ngày... Thế rồi, Tết đến, tiếng pháo nổ đón
xuân về vô tình đã làm tan tác gia đình chúng. Nghe tiếng pháo “kinh khủng nổ
vang động trong cây, cả nhà cuống cuồng bay đi”. Cuộc sống của đôi vợ chồng
chim gi đá rồi sẽ như thế nào trong cảnh tan tác đó đã khiến cho người đọc phải
ngậm ngùi, xót xa. Còn Mụ ngan với “cái tính ngu tối, chậm chạp” đến mức những
đứa con của mình gặp nạn, hay bị chết vẫn vô tình, thản nhiên. Kể cả khi bị đá, bị
đuổi đánh,“bị bỏ tù” thì “chúng vẫn không hiểu chi”. Hơn thế nữa khi “chồng mụ”
bị làm thịt, mụ vẫn “thản nhiên”, mụ ngan chỉ nhớ rõ “khi có hạt ngô đo đỏ, hạt
thóc vàng vàng, tàu lá xanh xanh thì xô đến mà khởi sự ăn”.
Cùng với hình ảnh của những loài vật trên là của chú chó Đực ham vui, “la cà”
với “hàng tá nhân tình” nên bị người ta thiến. Đực “buồn thỉu, buồn thiu, đi lừ khừ

đắng hơn là số phận của bé Gái trong cảnh Nhà nghèo. Nó sinh ra trong gia đình
nghèo khổ, túng thiếu và nhiều lần chứng kiến cảnh cha mẹ cãi nhau. Nó bị rắn cắn
chết trong khi cùng với cha mẹ cố tìm miếng ăn cho gia đình, “Người nó có bao
nhiêu xương sườn, giơ hết ra cả”. Cảnh đó thật xót xa, thê thảm.
Còn biết bao những cảnh đời khác như cảnh Hương Cay trốn nợ trong Khách
nợ, cảnh xung đột của gia đình anh Hối trong Buổi chiều ở trong nhà, cảnh tình
duyên của cô Lụa trong Lụa,... Tất cả cảnh đời của họ đều gợi cho người đọc bao
điều suy ngẫm và nỗi trăn trở về hiện thực cuộc sống nhiều bất hạnh đó.
Đáng chú ý ở thời kì này, Tô Hoài cũng có những khát vọng thoát khỏi bế tắc,
thoát khỏi cuộc sống nhàm chán buồn tẻ và vô vị, hay ước mơ của môt chàng trai
về “một trận mưa rào cho lòng người hả hê và cho trời quang đãng” và hãy cất
bước vào một buổi mai, nhắm về phía “chân trời mới đỏ thắm màu hi vọng”, mặc
dù vì nghèo nên anh không lấy được người mình yêu. “Sự nghiệp anh không có”,
“nhà anh thanh bạch quá”, “bấy nay anh chỉ có một tấm lòng”(Xóm Giếng ngày
xưa ).
Tóm lại, trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đã có khi bế tắc trước cuộc đời
nhưng cuối cùng nhà văn vẫn đứng vững ở vị trí của một nhà văn hiện thực. Tâm
hồn của Tô Hoài bao giờ cũng có được vẻ đẹp trong sáng, đáng trân trọng trong
17


cảnh đời đen tối thời kì này. Ở đề tài nào và đối tượng khám phá nào, thế giới nghệ
thuật của Tô Hoài trước cách mạng đều thấm đượm tính nhân văn và mang dấu ấn
khá sâu đậm về một quãng đời của ông. Ông quan niệm :“ Những sáng tác của tôi
đều miêu tả tâm trạng tôi, gia đình tôi, làng tôi, mọi cái của mình quanh mình.
Những nghèo đói, cùng túng, đau đớn. Phần nào nhẹ nhàng hay xót xa, hay ngịch
ngợm và đá chút khinh bạc là phần nào con người và tư tưởng tiểu tư sản của tôi”
(Một quãng đường).
1.3.2.2 Sau cách mạng tháng tám


Phải đến Truyện Tây Bắc, Tô Hoài mới có được sự thành công đặc sắc ở
mảng đề tài về miền núi Tây Bắc. Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú
về Tây Bắc, ông đã thể hiện được một cách chân thật, sinh động những nỗi đau
thương, khổ nhục của họ dưới ách áp bức nặng nề của kẻ thù thực dân phong kiến.
Tập Truyện Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng
A Phủ. Hình ảnh người lao động miền núi Tây Bắc nghèo khổ, mà nhất là người
phụ nữ trong tập truyện này được Tô Hoài miêu tả với tất cả niềm cảm thông sâu
sắc. Cảnh đời của Mị, một cô dâu gạt nợ chết dần, chết mòn trong địa ngục trần
gian của nhà thống lí Pá Tra, hay thân phận của cô Aûng, từ cô gái có vẻ đẹp nổi
tiếng ở Mường Cơi bị xem như món đồ chơi qua tay nhiều quan châu, quan lang,
chúa đất cho đến khi tàn tạ trở thành bà lão Ảng ăn mày..., đã để lại cho người đọc
biết bao điều suy nghĩ về cuộc sống đắng cay, tủi nhục của người phụ nữ Tây Bắc
dưới sự đè nén áp bức nặng nề của thực dân và phong kiến ở miền núi. Mặt khác,
qua tập truyện trên, Tô Hoài đã khẳng định, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của
người miền núi Tây Bắc, cũng như lí giải thành công về con đường tất yếu họ phải
tìm đến để thoát khỏi cuộc sống bị đọa đày áp bức đó là con đường cách mạng.
Có thể nói, Truyện Tây Bắc đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trên con
đường sáng tạo nghệ thuật, và bộc lộ sự nhận thức đúng đắn của Tô Hoài về mối
quan hệ giữa nghệ thuật với cách mạng.
Tài năng nghệ thuật của Tô Hoài khi viết về miền núi càng về sau càng được
phát huy và khẳng định qua nhiều tác phẩm khác từ sau 1955 như : Miền Tây, Tuổi
trẻ Hoàng Văn Thụ, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu,... Nhà văn tiếp tục ngợi
ca phẩm chất tốt đẹp của các dân tộc ở miền núi Tây Bắc trong đời sống kháng
chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua những hình ảnh thực như : Hoàng
Văn Thụ (dân tộc Tày), Kim Đồng (dân tộc Nùng), Giàng A Thào, Vừ A Dính (dân
19


tộc Hmông)... Tất cả họ đều thủy chung, gắn bó son sắt với cách mạng và cuộc đời
mới. Nhiều người đã ngã xuống vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho quê hương

Ở Mười năm, còn một số chi tiết có thể gạt bỏ để tác phẩm có thể hoàn thiện
hơn, nhưng điều cần nhận thấy, ở tác phẩm này Tô Hoài với tầm nhận thức mới đã
phát huy được sự sắc sảo trong cách quan sát và bút pháp thể hiện.
Sau tiểu thuyết Mười năm, Tô Hoài còn viết nhiều tác phẩm khác về ngoại
thành Hà Nội như : Quê người, Quê nhà, Những ngõ phố, người đường phố, và
gần đây là Chuyện cũ Hà Nội (hai tập). Điều đó cho thấy vốn sống, nguồn tư liệu,
cũng như nguồn cảm hứng sáng tác của Tô Hoài về Hà Nội vô cùng phong phú đa
dạng. Từ các tác phẩm viết về Hà Nội của ông, người đọc có điều kiện hiểu hơn về
phong tục, nếp sinh hoạt, tên gọi phố phường, con người Hà Nội trải dài suốt cả
thế kỉ XX trong cuộc sống đời thường và cả trong chiến tranh.
Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Tô Hoài còn đạt
được thành tựu đặc sắc ở thể kí. Nhiều tác phẩm kí của ông xuất hiện sau những
chuyến đi lên Tây Bắc như Nhật kí vùng cao, Lên Sùng Đô, hay đi thăm nước bạn
như Tôi thăm Cămpuchia, Thành phố Lênin, Hoa hồng vàng song cửa,... Đặc biệt,
Tô Hoài có các tập hồi kí gắn liền với bao nỗi vui buồn và mơ ước của tuổi thơ,
bao kỉ niệm về những bạn văn, đời văn của ông như Tự truyện, Cát bụi chân ai,
Chiều chiều. Từ các tập hồi kí này, người đọc có điều kiện để hiểu thêm về phong
cách nghệ thuật, thân phận, nhân cách nhà văn trong hành trình văn chương của
ông và một số nhà văn khác. Cách viết hồi kí của Tô Hoài rất linh hoạt biến hóa,
các sự kiện được khai thác theo mạch liên tưởng và đan xen lẫn nhau nên luôn tạo
được sức hấp dẫn đối với người đọc không thua kém gì so với thể loại khác.
Bên cạnh những mảng sáng tác trên, Tô Hoài còn tiếp tục viết khá nhiều tác
phẩm cho thiếu nhi như : Con mèo lười, Vừ A Dính,Đảo hoang, Chuyện nỏ thần,
Nhà Chử,… Ở mảng sáng tác này, ngay cả khi tuổi tác không còn trẻ Tô Hoài vẫn
có được cách cảm nhận và thể hiện đời sống qua trang văn phù hợp với tâm hồn,
nhận thức của tuổi thơ, để cùng các em đến với một thế giới biết bao điều kì thú.
Trên cơ sở đó góp phần bồi đắp vẻ đẹp và sự trong sáng, cao cả cho tâm hồn trẻ
thơ.

21

người Việt Nam như : trọng nghĩa khinh tài, khí tiết, thủy chung,…

22


- Tô Hoài khai thác đề tài lịch sử để ngợi ca phẩm chất cao đẹp của con người
Việt Nam, tiêu biểu là tác phẩm Đảo hoang, Chuyện ông Gióng.
1.3.3.3 Cách quan sát thông minh hóm hỉnh và rất tinh tế.
Cách quan sát thông minh hóm hỉnh và rất tinh tế là khả năng nổi trội của Tô
Hoài trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Khả năng này của ông được biểu hiện rõ
ngay từ trước cách mạng qua những truyện viết về loài vật. Càng về sau càng được
phát huy ở nhiều tác phẩm khác. Những trang văn của Tô Hoài khi miêu tả cảnh
sắc thiên nhiên, phong tục tập quán, lễ hội ở vùng ngoại thành Hà Nội và vùng núi
Tây Bắc đều để lại cho người đọc ấn tượng sâu bền, cũng như luôn mang đến cho
họ nguồn tư liệu rất phong phú về lịch sử, địa lí và đời sống văn hóa tinh thần của
dân tộc. Đặc biệt, khi miêu tả ngoại hình và diễn biến tâm lí của nhân vật, Tô Hoài
đã chọn lựa những chi tiết độc đáo có sức gợi cảm nhằm tác động mãnh liệt đến
tình cảm nhận thức của người đọc về thân phận của nhân vật. Nhà văn còn sử dụng
yếu tố ngoại cảnh để góp phần làm nổi bật hơn nội tâm của nhân vật trong từng
hoàn cảnh, tình huống cụ thể. Chính vì thế, các nhân vật trong tác phẩm của Tô
Hoài thường mang nét riêng và gợi cho người đọc biết bao điều suy ngẫm.
1.3.3.4 Đặc sắc trong cách sử dụng ngôn ngữ.
- Ngôn ngữ trong tác phẩm của Tô Hoài là ngôn ngữ xuất phát từ đời sống
quần chúng. Tô Hoài quan niệm đó là kho của cải vô giá và ông đã biết cách chọn
lựa, nâng cao và nghệ thuật hóa trong các sáng tác của mình để tăng thêm giá trị
của nó. Ông khẳng định: “Mỗi chữ phải là một hạt ngọc buông xuống những trang
bản thảo, hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách văn chương của
mình mà có”…“Câu nói là bộ mặt của ý. Ý không bao giờ lặp lại, cũng như cuộc
sống không bao giờ trở lại giống nhau như đúc thì lời văn cũng phải thế”(Sổ tay
viết văn).

tiết đời thường.
Chim gáy trong Đàn chim gáy trước đây chỉ bay về đồng theo mùa gặt. Xưa có hai vụ nên
“tháng năm chim gáy đi ăn đôi, tháng mười chim gáy về theo đàn”. Từ khi miền Bắc bước vào
phát triển nền kinh tế hợp tác hóa nông nghiệp, “đồng ta lại cầy cấy được nhiều vụ, thì con chim
cũng đổi tính, nó theo đàn ra ăn quanh năm” (Đàn chim gáy). Hình ảnh “con chim béo mượt,
những con chim no ấm của mùa gặt hái quanh năm” không chỉ đại diện cho sự no đủ mà chính là
hình ảnh con người đang vươn lên xây dựng cuộc sống mới; là lời khẳng định tương lai tươi đẹp
đang hình thành.
Trong truyện Cá đi ăn thề, những chú Rô Ron đã bắt gặp điều rất kì lạ khiến chúng cảm thấy
tò mò: Những bác Cá Ngão to lớn, trắng nhoáng ngoài sông vốn “chỉ biết quanh quẩn ao nọ, hồ
kia chứ chẳng đủ can đảm và sức khỏe để giong ruổi đi chơi xuân đường xa” nay lại vào được
24


trong đồng ruộng. Và điều kì lạ ấy được tác giả lý giải: “Máy điện trạm bơm Đan Hoài lấy nước
sông Hồng vào nông giang đã đưa cả cá lên theo”. Nhờ hệ thống thủy lợi được xây dựng mà mỗi
khi tháng ba mưa mới xuống, những đàn cá ngoài sông, đàn cá trong đồng lại được gặp nhau
trong niềm hân hoan của ngày hội. Không khí vui tươi ấy chính là tiếng hát ngợi ca sự phát triển
của ngành nông nghiệp, cũng là sự phát triển của đất nước.
Bước vào thời kỳ đổi mới, nông thôn đang “thay da đổi thịt” hàng ngày, khiến “Mỗi lần
được về quê, chúng tôi lại đem ra tỉnh vô khối cái mới lạ, vô khối chuyện kể” (Ò...ó...o). Việc
những chú gà trống bỗng dưng gáy vào buổi tối được tác giả giải thích: Ánh sáng đèn điện của
nhà máy đã làm gà tưởng trời sáng rồi nên thi nhau gáy báo sáng. Và điều tác giả muốn nhấn
mạnh ở đây là niềm vui của em nhỏ khi đứng ngắm nhìn ánh điện sáng rực cả ngôi làng. Rõ
ràng, nông thôn miền bắc đang có sự chuyển mình đến ngỡ ngàng.
Sự đổi thay ấy cũng diễn ra ở thành thị. Tô Hoài đã dẫn bạn đọc nhỏ tuổi tham gia vào
chuyến đi chơi của chú mèo trong Cậu Miu để thấy thành phố đang từng ngày, từng giờ phát
triển. Theo tầm quan sát của chú mèo con “ở tầng gác mười hai, nhìn xuống một mảnh vườn.
Trước đây không lâu, cả vùng này còn là vườn cỏ. Rồi cái vườn co dần lại, vì những tòa nhà
nhiều tầng cứ mọc dần lên, bây giờ còn mọc. Đứng đây trông sang, thấy trong dãy nhà đương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status