CHƯƠNG I
VỊ TRÍ , ĐỐI TƯNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ CHỨC NĂNG
CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
I. VỊ TRÍ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Các nhà sáng lập ra chủ nghóa Mác-Lênin đã sử dụng hai
thuật ngữ “chủ nghóa xã hội khoa học” hoặc “chủ nghóa cộng sản
khoa học”. Hai thuật ngữ này về cơ bản là thống nhất về ý nghóa.
Hiện nay chúng ta sử dụng thuật ngữ “chủ nghóa xã hội khoa học
“
1. Khái niệm chủ nghóa xã hội khoa học
“Chủ nghiã xã hội khoa học” xét về mặt lý luận nó nằm
trong khái niệm “chủ nghóa xã hội”. Là một trong ba bộ phận hợp
thành chủ nghóa Mác-Lênin, “Chủ nghiã xã hội khoa học” có
những đặc điểm sau :
Một là : Chủ nghóa xã hội khoa học dựa vào những cơ sở
khoa học chỉ rõ con đường, điều kiện, biện pháp, để thủ tiêu tình
trạng người bóc lột người, xây dựng một xã hội mới, tốt đẹp hơn
so với Chủ nghóa tư bản.
Hai là : Chủ nghiã xã hội khoa học dựa vào những kết luận
của Triết học và Kinh tế học chính trò Mác-Lênin để luận giải
những quy luậât chính trò - xã hội của quá trình chuyển biến từ chủ
nghóa tư bản, từ các chế độ tư hữu lên chủ nghóa xã hội, chủ nghóa
cộng sản.
Ba là : Chủ nghiã xã hội khoa học là thế giới quan, là hệ tư
tưởng chính trò của giai câùp công nhân, biểu hiện lợi ích của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động trong quá trình xây dựng xã hội
mới.
1
Bốn là : Chủ nghiã xã hội khoa học là khoa học tổng kết
kinh nghiệm đâùu tranh của giai cấp công nhân, cách mạng xã hội
chủ nghóa, phong trào dân chủ của quần chúng, cách mạng dân
tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghóa và xây dựng hình
thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghóa, mà người lãnh đạo, tổ
chức thực hiện sự nghiệp cách mạng ấy là giai cấp công nhân
hiện đại, thông qua chính Đảng của nó. Trong ba bộ phận hợp
thành chủ nghóa Mác-Lênin, chủ nghóa xã hội khoa học là bộ
phận trực tiếp luận giải về giai cấp công nhân và chính Đảng của
nó, luận giải về “sứ mệnh lòch sử của giai cấp công nhân”. Với ý
nghóa như vậy, cho nên có thể hiểu chủ nghóa xã hội khoa học là
chủ nghóa Mác (hay chủ nghóa Mác-Lênin). Lê nin đã xác đònh :
“bộ tư bản – tác phẩm chủ yếu và cơ bản ấy trình bày chủ nghóa
xã hội khoa học…những yếu tố từ đó nảy sinh ra chế độ tương lai”.
Vì vậy, khi nghiên cứu giảng dạy, học tập Triết học, Kinh tế
học chính trò Mác-Lênin mà không luận chứng cuối cùng dẫn
đến sứ mệnh lòch sử của giai cấp công nhân, dẫn đến chủ nghóa xã
hội, chủ nghóa cộng sản là biểu hiện của sự chệch hướng trong
quá trình giáo dục Chủ nghóa Mác-Lênin.
II. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI KHẢO SÁT,
ỨNG DỤNG CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
1. Triết học và kinh tế học chính trò Mác - Lênin là cơ sở lý
luận của chủ nghóa xã hội khoa học
Triết học Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứu là những quy
luật chung nhất của tự nhiên - xã hội và tư duy, của các hình thái
kinh tế – xã hội. Nó là thế giới quan, nhân sinh quan của giai cấp
công nhân hiện đại. Vì thế nó trở thành cơ sở lý luận và phương
pháp luận chung cho chủ nghóa xã hội khoa học.
3
Kinh tế học chính trò Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứu là
những quy luật kinh têù – xã hội, hình thành, phát triển trong quá
trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất, trong quá trình
phân phối, trao đổi, tiêu dùng những của cải đó. Đặc biệt là những
giai cấp công nhân, sứ mệnh lòch sử của giai cấp công nhân (gắn
với Đảng Cộng sản); hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghóa
(đặc biệt là giai đoạn chủ nghóa xã hội); cách mạng xã hội chủ
nghóa; nền dân chủ xã hội chủ nghóa và nhà nước xã hội chủ
nghóa; liên minh công nông và các tầng lớp lao động; vấn đề dân
tộc, tôn giáo, gia đình. . .
3. Phạm vi khảo sát và vận dụng của chủ nghóa xã hội khoa
học
Phạm vi khảo sát của chủ nghóa xã hội khoa học là những tư
liệu thực tiễn, thực tế. Do đó khi khảo sát, vận dụng nguyên lý
của chủ nghóa xã hội khoa học phải gắn với thực tế, thực tiễn một
cách chủ động, sáng tạo. Những vấn đề chính trò - xã hội giữa các
giai cấp, tầng lớp, giữa các quốc gia, dân tộc…thường là phức tạp
hơn nhiều so với những vấn đề của các khoa học xã hội khác.
Phạm vi khảo sát của chủ nghóa xã hội khoa học là những
vấn đề cơ bản sau :
Những thành tựu và sai lầm trong quá trình xây dựng chủ
nghóa xã hội; quá trình cải tổ, cải cách dẫn tới sụp đổ chủ nghóa
xã hội ở Liên Xô, Đông Âu; quá trình cải cách, đổi mới thắng lợi
ở một số nước xã hội chủ nghóa …từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm, khái quát thành lý luận về con đường xây dựng chủ nghóa
xã hội ở mỗi nước, qua đó bổ sung làm sáng tỏ hơn nữa những
nguyên lý của chủ nghóa xã hội khoa học.
1
C. Mác và Ph. ngghen : Toàn Tập. NXB. Chính Trò Quốc Gia, HN. 1995,
T.4, Trang 399.
5
Đảng ta nhấn mạnh phải “Vận dụng sáng tạo lý luận,
phương pháp luận của chủ nghóa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh để nghiên cứu phát triển chủ nghóa xã hội khoa học”
các công nghệ, tri thức, cũng như các nguồn lực, các lợi ích…đều
có nhân tố chính trò chi phối, nhưng lại có vẻ như đứng ngoài,
“đứng đằng sau” các quan hệ và sự kiện đó. Nếu không có sự
nhạy bén và bản lónh chính trò vững vàng, khoa học thì người
nghiên cứu, khảo sát dễ mơ hồ, lầm lẫn dẫn đến những hậu quả
khôn lường.
Thứ ba : Các phương pháp có tính liên ngành : Khi nghiên cứu
chủ nghóa xã hội khoa học phải biết sử dụng nhiều phương pháp
cụ thể của các khoa học xã hội khác như : Phân tích, tổng hợp,
thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát, thăm dò dư luận, sơ đồ hoá,
mô hình hoá....để nghiên cứu những khía cạnh chính trò - xã hội.
Có như vậy thì những khái quát lý luận của chủ nghóa xã hội khoa
học mới có cơ sở vững chắc.
Thứ tư : Phương pháp tổng kết lý luận từ thực tiễn. Khi nghiên
cứu, khảo sát chủ nghóa xã hội khoa học cần sử dụng thực tiễn về
chính trò – xã hội. Chỉ có trên cơ sở tổng kết thực tiễn , rút ra
những bài học kinh nghiệm thành cơng, cũng như khơng thành cơng
mới có thể bổ sung, làm giàu thêm cho kho tàng lý luận của chủ
nghóa xã hội khoa học.
IV. CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
1. Chức năng của chủ nghóa xã hội khoa học
Một là, trang bò hệ thống lý luận chính trò - xã hội và
phương pháp luận của chủ nghóa Mác-Lênin để luận giải tính tất
yếu lòch sử dẫn đến sự hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã
hội cộng sản chủ nghóa, nhằm giải phóng giai cấp công nhân, giải
phóng xã hội, giải phóng con người. Chức năng này thống nhất
với chức năng của Triết học và Kinh tế học chính trò Mác-Lênin,
7
nhưng chủ nghóa xã hội khoa học là bộ phận luận giải trực tiếp
chủ nghóa xã hội khoa học nói riêng, chủ nghóa Mác-Lênin nói
chung được coi là “Vũ khí lý luận” của giai cấp công nhân, để
thực hiện sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã
hội.
- Nghiên cứu, học tập chủ nghóa xã hội khoa học không chỉ
để nhận thức và giải thích thếâ giới, mà điều quan trọng là nhằm
góp phần cải tạo thế giới. Nếu chỉ thuần tuý chú trọng về kinh tế,
khoa học và công nghệ sẽ dễ mơ hồ về mặt chính trò - xã hội. Như
vậy sẽ hạn chế khả năng đóng góp, thậm chí vô tình cản trở sự
nghiệp đổi mới của đất nước.
- Nghiên cứu, học tập chủ nghóa xã hội khoa học để chúng
ta có căn cứ khoa học đấu tranh chống lại các nhận thức sai lệch
về chủ nghóa xã hội và sự tuyên truyền chống phá của các thế lực
thù đòch.
b. Về mặt thực tiễn
Chủ nghóa xã hội khoa học, cũng như các khoa học xã hội
khác, bao giờ cũng có khoảng cách nhất đònh so với thực tiễn,
nhất là những dự báo khoa học có tính quy luật. Nghiên cứu chủ
nghóa xã hội khoa học để thấy được tính tất yếu của khoảng cách
đó. Đặc biệt, trong lúc chưa có nước nào xây dựng chủ nghóa xã
hội hoàn chỉnh thì hiện tượng chủ nghóa xã hội ở Liên Xô và
Đông Âu sụp đổ đã tác động không nhỏ đến nhận thức của một bộ
phận nhân dân. Vì vậy, việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập chủ
nghóa xã hội khoa học càng trở nên khó khăn, đồng thời cũng
càng có ý nghóa chính trò cấp bách, bởi vì :
- Nghiên cứu chủ nghóa xã hội khoa học một cách bình tónh,
sáng suốt, chủ động, mới thấy được những thành tựu to lớn mà
chủ nghóa xã hội trước đây đã đạt được, cũng như mới tìm ra được
nguyên nhân cơ bản và bản chất của những sai lầm, khuyết điểm,
9
tưởng nào cũng do điều kiện sinh hoạt vật chất, do chế độ xã hội
quy đònh và là sự phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của
chế độ xã hội nhất đònh. Vì vậy, tư tưởng xã hội chủ nghóa được
đònh nghóa như sau :
Tư tưởng xã hội chủ nghóa là hệ thống những quan niệm phản
ánh nhu cầu, hoạt động thực tiễn và ước mơ của các giai cấp lao
động bò thống trò; phản ánh về con đường, cách thức, phương pháp
đấu tranh nhằm xây dựng một xã hội trong đó không có áp bức,
bóc lột, bất công, mọi người đều bình đẳng về mọi mặt, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, văn minh.
Chính sự xuất hiện chế độ tư hữu là tiền đề kinh tế – xã hội
cho sự xuất hiện tư tưởng xã hội chủ nghóa và phong trào xã hội
chủ nghóa của nhân dân lao động
b. Biểu hiện cơ bản của tư tưởng xã hội chủ nghóa
- Tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về mọi thành viên, thuộc về
toàn xã hội;
- Ai cũng có việc làm, ai cũng lao động,
- Mọi người bình đẳng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc;
11
- Ai cũng có điều kiện cống hiến, hưởng thụ và phát triển toàn
diện .
2 . Phân loại tư tưởng xã hội chủ nghóa
a. Phân loại theo lòch đại là cách chia lòch sử tư tưởng xã hội
chủ nghóa thành các giai đoạn, tương ứng với các giai đoạn phát
triển của xã hội loài người như: tư tưởng xã hội chủ nghóa thời kỳ
cổ đại và trung đại; tư tưởng xã hội chủ nghóa thời kỳ phục hưng;
tư tưởng xã hội chủ nghóa thời kỳ cận đại; tư tưởng xã hội chủ
nghóa thời kỳ hiện đại.
b. Phân loại theo trình độ phát triển của tư tưởng xã hội chủ
nghóa: chủ nghóa xã hội sơ khai; chủ nghóa xã hội không tưởng;
truyện truyền miệng, trong các áng văn chương để cổ vũ cho các
phong trào đấu tranh của những người nô lệ.
Những ước mơ, khát vọng ấy chỉ mới dừng lại ở lòng khao
khát được quay về với “ thời đại hoàng kim” mà sau này được các
thánh kinh gọi là “ giang sơn ngàn năm của chúa”, tức là muốn
quay về với những giá trò của chế độ cộng sản nguyên thủy như:
không có tư hữu, giai cấp, không có áp bức, bóc lột, mọi người
bình đẳng, tự do v.v.
2. Tư tưởng xã hội chủ nghóa thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
a. Hoàn cảnh lòch sử
Từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, loài người có bước
tiến dài trong đời sống kinh tế – xã hội: Sự phân công lao động
trong công trường thủ công, đã tạo ra một tổ chức lao động xã hội
nhất đònh và cùng vời điều đó thì nó cũng đồng thời phát triển
một sức sản xuất mới, có tính chất xã hội, của lao động; quá trình
tích lũy nguyên thũy của chủ nghóa tư bản; phát kiến đòa lý; sự
phát triển của nền công nghiệp tư bản làm xuất hiện những thành
13
phần đầu tiên của giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; những cuộc
chiến tranh xâm lược của các nước tư bản đối với các nước còn
lại làm cho thò trường tư bản chủ nghóa được mở rộng; Cách mạng
tư sản nổ ra và giành thắng lợi ở Hà Lan, Anh, Pháp, Hoa Kỳ…
chế độ tư bản chủ nghóa dần dần thay thế chế độ phong kiến ở
phần lớn châu Âu và Bắc Mỹ. Sự tích tụ và tập trung tư bản diễn
ra mạnh mẽ, xung đột giai cấp diễn ra gay gắt… Những điều kiện
và tiền đề ấy, đã làm tư tưởng xã hội chủ nghóa phát triển sang
một thời kỳ mới, với một trình độ mới, qua công lao và đóng góp
của nhiều nhà tư tưởng vó đại.
b. Các đại biểu xuất sắc và những tư tưởng xã hội chủ nghóa
chủ yếu
Sau thắng lợi của Cách mạng tư sản Anh (1640), chủ nghóa
tư bản có điều kiện phát triển mạnh. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh
giành quyền lực giữa phái “Bảo hoàng” và phái “Nghò viện” vẫn
còn gay gắt. Xung đột giữa giai cấp bò áp bức với giai cấp thống
trò diễn ra quyết liệt. Tác phẩm tiêu biểu là cuốn “Luật tự do”.
Trong đó đòi sự bình đẳng cho người lao động trên mọi phương
diện, cả trong kinh tế -xã hội - chính trò; đòi thủ tiêu chế độ tư hữu
về ruộng đất, xây dựng chế độ cộng hòa, trong đó ruộng đất và
sản phẩm lao động làm ra phải là tài sản chung của toàn xã hội.
- Tư tưởng xã hội chủ nghóa không tưởng thế kỷ XVIII
Giăng Mêliê ( 1664 – 1729 )
Sinh ra trong gia đình thợ dệt, học trong các trường dòng. Ông
nghiên cứu sâu tác phẩm triết học của Đềcác. Năm 23 tuổi đïc
phong linh mục,
Tác phẩm nổi bật của ông là cuốn luận văn “Những di chúc
của tôi”. Trong đó nổi lên hai nội dung quan trọng có tính chất xã
hội chủ nghóa. Ông coi hiện tượng bất bình đẳng trong xã hội
15
không phải là cái tự nhiên ban phát mà là do con người tạo ra, do
đó con người có thể xóa bỏ được nó. Ông cho rằng người nông
dân có thể tự giải phóng bằng đấu tranh cách mạng lật đổ chế độ
phong kiến .
Giắccơ Babớp (1760 -1797)
Trong không khí sục sôi của Cách mạng tư sản Pháp (1789),
nhiều nhà tư tưởng tiểu tư sản có khuynh hướng xã hội chủ nghóa
tham gia vào cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến. Giai cấp
vô sản đã xuất hiện thành một lực lượng và bắt đầu có nhu cầu
tách khỏi khối quần chúng nghèo khổ mà từ đó nó đã sinh ra. Đại
biểu xuất sắc và là một lãnh tụ của lực lượng chính trò mới này là
Giắccơ Babớp. Với sự ra đời của phài G. Babớp, lần đầu tiên
Ông là người Pháp, sinh ra trong một gia đình quý tộc, từ
nhỏ đã có tính cách đặc biệt. Ông đã tham gia cùng nhân dân Mỹ
chống thực dân Anh và được phong hàm đại tá. Ông viết nhiều tác
phẩm đề cập đến những nội dung có tính chất xã hội chủ nghóa.
Trước hết, ông phê phán tính chất thiếu triệt để của cách mạng tư
sản Pháp (1789) và chỉ ra những bất hợp lý đang tồn tại trong xã
hội tư bản; lý giải sự xuất hiện giai cấp và xung đột giai cấp; nêu
được ý tưởng về sự tiêu vong nhà nước. Ông chủ trương cải tạo xã
hội bằng con đường ôn hòa, chưa biết đến vai trò của giai cấp Vô
sản.
Sáclơ Phuriê ( 1772 – 1837 )
Sinh ra trong gia đình buôn bán ở nùc Pháp, không được
học hành nhiều nhưng lại có trí thông minh tuyệt vời. Ông nắm rất
vững phép biện chứng trong quan sát và phân tích vấn đề. Ông đã
phát hiện ra tình trạng vô chính phủ của nền công nghiệp tư bản,
trong đó “sự nghèo khổ được sinh ra từ chính sự thừa thãi”. Theo
ông, xã hội loài người trải qua bốn giai đoạn phát triển: mông
muội, dã man, gia trưởng, văn minh. Ông dự đoán xã hội tư bản
17
nhất đònh sẽ bò thay thế bằng một xã hội mới. Ông phản đối dùng
bạo lực và cũng không biết đến vai trò của giai cấp Vô sản.
Rôbớt Ôoen ( 1771-1858 )
Trong những năm 30 của thế kỷ XIX, ở nước Anh nổ ra
phong trào đấu tranh đòi cải cách tuyển cử có sự tham gia của
đông đảo công nhân và nhân dân lao động Anh. Trong bối cảnh
ấy xuất hiện một nhà cải cách có khuynh hướng cộng sản chủ
nghóa, nhà cải càch ấy là R. oen.
R. oen không chỉ đề xướng và kiến nghò những tư tưởng có
tính chất xã hội chủ nghóa, mà còn đề ra tổ chức thực hiện tinh
thần được nêu trong “ Luật lao động nhân đạo” trong công xưởng
về xóa bỏ sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về
sự nghiệp giải phóng phụ nữ; về vai trò lòch sử của nhà nước,v.v..
- Các nhà xã hội chủ nghóa không tưởng không chỉ đơn
thuần phản ánh về mặt tư tưởng, mà một số ông đã thực sự “xả
thân” hoạt động trong thực tiễn để thức tỉnh giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, từ đó quan sát, phát hiện ra nhiều những giá
trò tư tưởng mới .
b. Hạn chế lòch sử của chủ nghóa xã hội không tưởng
- Do ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghóa duy lý và chân lý
vónh cửu, nên hầu hết các nhà xã hội chủ nghóa không tưởng đều
chưa thoát khỏi quan niệm duy tâm về lòch sử. Các ông cho rằng,
chân lý vónh cửu (tức xã hội tốt đẹp) đã có sẵn và đang tồn tại ở
đâu đó, chỉ cần người tài ba phát hiện và thuyết phục mọi người
là xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp.
- Hầu hết các nhà xã hội chủ nghóa không tưởng đều có
khuynh hướng cải tạo xã hội bằng con đường ôn hòa như tuyên
truyền pháp luật, thực nghiệm xã hội, thậm chí có ông còn hy
19
vọng vào sự “từ tâm” - “từ thiện” của người giàu và những kẻ
đang nắm trong tay quyền lực. Một số ông có chủ trương khởi
nghóa nhưng chưa phải là quá trình chuẩn bò thật sự tự giác, nên
đều đi đến thất bại.
- Các ông đều không giải thích được bản chất của chế độ nô
lệ làm thuê tư bản, không phát hiện được những quy luật nội tại
chi phối con đường, cách thức cho những chuyển biến tiếp theo
của xã hội.
- Các ông đều không phát hiện ra lực lượng xã hội tiên
phong có thể thực hiện được sự chuyển biến cách mạng từ chủ
nghóa tư bản lên chủ nghóa xã hội và chủ nghóa cộng sản, mặc dù
lực lượng ấy đã được sinh ra và lớn lên cùng với nền đại công
Chính điều kiện kinh tế - xã hội ấy đòi hỏi cần có lý luận tiên
phong để dẫn đường - điều mà các nhà xã hội chủ nghóa không
tưởng đương thời đã không thể đảm đương được. Đồng thời, điều
kiện kinh tế - xã hội không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư
tưởng của giai cấp công nhân, mà còn là mảnh đất hiện thực để
các ông nghiên cứu, khái quát hình thành nên hệ thống lý luận
mới để hướng dẫn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
- Tiền đề văn hóa và tư tưởng.
Đến đầu thế kỷ XIX nhân loại đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn trên lónh vực khoa học, văn hóa và tư tưởng :
Trong khoa học tự nhiên có ba phát minh quan trọng: đònh
luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; học thuyết tế bào; học
thuyết tiến hóa của Đác Uyn. Những phát minh này đã tạo cơ sở
để C.Mác – Ph.Ăngghen khẳng đònh quan điểm duy vật của mình
khi phân tích, giải thích những vấn đề của tự nhiên, xã hội và tư
duy.
21
Trong khoa học xã hội có ba thành tựu lớn: nền triết học cổ
điển Đức mà người tiêu biểu là Phoiơbắc và Hêghen; của kinh tế
chính trò học cổ điển Anh mà người tiêu biểu là A.Smíth và
Đ.Ricarđô; các học thuyết xã hội chủ nghóa và cộng sản chủ nghóa
không tưởng – phê phán mà người tiêu biểu là H.Xanh Ximông,
S.Phuriê, R.oen. Những thành tựu này đã tạo điều kiện để
C.Mác – Ph.Ăngghen kế thừa những tư tưởng tiến bộ trong quá
trình xây dựng học thuyết của mình.
b . Vai trò của Các Mác và Phriđrích Ăngghen đối với sự
ra đời của chủ nghóa xã hội khoa học
C.Mác (1818-1883), Ph.Ăngghen (1820-1895)
C.Mác và Ph.Ăngghen sinh trưởng trong một quốc gia có
nền triết học phát triển rực rỡ, nổi bật là chủ nghóa duy vật của L.
thức, điều kiện …nhằm giải quyết xung đột giai cấp nhằm đảm
bảo cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đi đến thắng lợi.
2 . Các giai đoạn cơ bản trong sự phát triển của chủ nghóa xã
hội khoa học
a . C.Mác- Ph.ngghen đặt nền móng và phát triển chủ
nghóa xã hội khoa học ( 1844 – 1895 )
Quá trình xây dựng, phát triển Chủ nghóa xã hội khoa học
của C.Mác-Ph.Ăngghen được chia thành ba thời kỳ :
- Thời kỳ thứ nhất từ 1844 đến 1848
Là thời kỳ hai ông chuyển từ chủ nghóa dân chủ cách mạng
sang chủ nghóa xã hội, chuyển từ chủ nghóa duy tâm sang chủ
nghóa duy vật biện chứng. Những tác phẩm tiêu biểu trong thời kỳ
này: Lời nói đầu của Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen; Bản thảo kinh tế – triết học 1844; tình cảnh giai cấp lao
động ở Anh; Hệ tư tưởng Đức; Sự khốn cùng của Triết học …
23
Đặc biệt, sự xuất hiện tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản” 1848 đã đánh dấu sự hình thành cơ bản những nguyên
lý của chủ nghóa xã hội khoa học
- Thời kỳ thứ hai từ 1848 đến 1871
Là thời kỳ diễn ra những sự kiện của cách mạng dân chủ tư
sản ở Tây Âu (1848 – 1851 ); Quốc têù I được thành lập (1864);
Nổi bật là sự ra đời tập I bộ Tư bản của Mác (1867) khẳng đònh
thêm một cách vững chắc đòa vò kinh tế – xã hội và vai trò lòch sử
của giai cấp công nhân.
Từ tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp công nhân,
Mác đã rút ra nhiều kết luận quan trọng như phải đập tan bộ máy
nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước mới; xây dựng học thuyết về
cách mạng không ngừng, về vai trò chính Đảng của giai cấp công
nhân; về liên minh giai cấp …
từ sự phân tích, tổng kết các sự kiện diễn ra trong đời sống kinh tế
- xã hội, Lênin đã bổ sung và phát triển nhiều nguyên lý cơ bản
của chủ nghóa xã hội khoa học như: tri thức về Đảng kiểu mới của
giai cấp công nhân; về nguyên tắc tổ chức, cương lónh, chiến lược,
sách lược trong nội dung hoạt động của Đảng Cộng sản; về cách
mạng xã hội chủ nghóa và chuyên chính vô sản; về vấn đề dân
tộc, tôn giáo; về vấn đề liên minh công nông; về quan hệ quốc
tế …
- Sau Cách mạng Tháng Mười Nga : Do yêu cầu của công
cuộc xây dựng chế độ mới, Lênin đã phân tích làm rõ nội dung,
bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội; xác đònh cương
lónh xây dựng chủ nghóa xã hội; xây dựng và tổ chức thực hiện các
chính sách kinh tế; xác đònh chính sách kinh tế mới nhằm sử dụng
và học tập kinh nghiệm tổ chức, quản lý kinh tế của chủ nghóa tư
bản để cải tạo nền kinh tế tiểu nông lạc hậu của nước Nga Xô
viết…
25