TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
***
Đề tài khoa học
"ĐÁNH GIÁ HỌAT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CỦA TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ VĂN HÓA,
THỂ THAO VÀ DU LỊCH GIAI ĐOẠN 2010 - 2015."
Chủ nhiệm đề tài: Th.s Ma Kiều Ly
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đánh giá là một hoạt động khoa học và là công cụ quan trọng trong
quản lý. Đánh giá chính là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định
tình hình và kết quả công việc giúp cho quá trình lập kế hoạch, ra quyết
định và hành động có kết quả của các nhà quản lý.
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của
trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch. Lãnh đạo nhà trường rất
quan tâm tới việc đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Hàng năm, bên
cạnh những báo cáo hành chính, nhà trường còn tổ chức hội nghị, hội thảo,
nghiên cứu đề tài khoa học nhằm đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động
hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tại trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao
và du lịch:
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ quản lý ngành Văn hóa - Thông tin giai đoạn 2001-2010” do
ông Vũ Hòa, nguyên Hiệu trưởng Nhà trường làm chủ nhiệm (2001).
- Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu nội dung, phương pháp bồi dưỡng cán bộ
quản lý văn hóa thông tin cơ sở” do TS. Hoàng Thị Điệp, nguyên Hiệu trưởng
Nhà trường làm chủ nhiệm (2007-2009).
- Đề tài cấp Trường: “Đổi mới phương pháp giảng dạy và chương trình
đào tạo cán bộ, công chức ngành Văn hóa-Thông tin” do bà Nguyễn Thị
Hoàng Hà, nguyên Phó Hiệu trưởng Nhà trường làm chủ nhiệm (2004).
- Đề tài cấp Trường “ Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
quản lý văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình” do Ths. Quách Hoài Ân, trưởng
Bộ môn Lý luận cơ bản làm chủ nhiệm (2009).
- Đề tài cấp Trường “Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng
ngoại ngữ của Trường Bồi dưỡng cán bộ văn hóa, thể thao và du lịch” do Ths.
Lưu Thị Bích Hồng, Phó hiệu trưởng Nhà trường làm chủ nhiệm (2010).
- Đề tài cấp Trường: Nghiên cứu xây dựng chương trình khung bồi dưỡng
cán bộ văn hóa, thông tin cấp huyện do Ths. Hoàng Thị Bình, Phó trưởng
Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế làm chủ nhiệm ( năm 2012).
- Đề tài cấp Trường: Xây dựng chương trình khung bồi dưỡng cán bộ
quản lý cấp sở ngành văn hóa, thể thao và du lịch theo Nghị định
18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức do Ths. Hoàng Thị Lâm,
Phó trưởng Bộ Khoa Quản lý Văn hóa, thể thao và du lịch làm chủ nhiệm
(năm 2012).
- Đề tài cấp Trường: Nghiên cứu đề xuất xây dựng đề án thành lập
Học viện Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch do PGS.TS. Lê Ngọc Thắng,
Nguyên Trưởng Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế làm chủ
nhiệm (năm 2013).
Một số sản phẩm khoa học ngoài ngành đề cập tới vấn đề nghiên cứu:
học và ngoại ngữ, vì lĩnh vực ngoại ngữ được Ths. Nguyễn Phương Thảo,
giảng viên ngoại ngữ của Trung tâm Ngoại ngữ, Công nghệ truyền thông
nghiên cứu tại đề tài “Hoạt động giảng dạy ngoại ngữ của trường Cán bộ
quản lý văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2010 - 2015”. Và đề tài
“………….” do Ths. Nguyễn Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Ngoại ngữ,
Công nghệ truyền thông nghiên cứu, được nghiệm thu năm 2015 đã bàn
thấu đáo về nội dung bồi dưỡng tin học.
- Phạm vi thời gian: Từ 2010 - 2015
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4
Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp kế thừa: Sưu tầm, xử lý tài liệu thứ cấp, Kế thừa các
công trình nghiên cứu tài liệu, báo cáo, ấn phẩm có nội dung liên quan đến
đề tài.
- Phương pháp chuyên gia: Tọa đàm trao đổi với sự tham gia của các
chuyên gia, các nhà khoa học, cán bộ quản lý am hiểu về lĩnh hoạt động
đào tạo, bồi dưỡng.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Gặp gỡ học viên đã từng học tại
trường xin ý kiến đánh giá thông qua phiếu hỏi.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Từ những thông tin thu
thập được nhóm nghiên cứu tiến hành tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích, so
sánh từ đó rút ra những nhận xét, tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải
pháp cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường trong thời gian tới.
6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu các nội dung sau:
Chương 1: Khái quát cơ sở lý luận
Chương 2: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của trường Cán bộ quản lý
văn hóa, thể thao và du lịch (2010-2015)
chung Đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con
người một cách có hệ thống thông qua việc học tập. Việc học tập này có
được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và lĩnh hội kinh
nghiệm một cách có kế hoạch hay nó là một quá trình tác động đến con
người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo…một cách có hệ thống nhằm cho người ta trở thành người có năng lực
theo những tiêu chuẩn nhất định.
Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2005.
Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng công
chức.
1
2
6
* Khái niệm Bồi dưỡng
Theo nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2010 của
Chính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Bồi dưỡng được hiểu “là hoạt
động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. Bồi dưỡng
theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương
trình quy định cho ngạch công chức. Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang
bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc
được giao”3. Hay nói cách khác, khái niệm Bồi dưỡng được dùng với nghĩa
là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu
biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức
chuyên ngành, mang tính ứng dụng.
Như vậy, Đào tạo, Bồi dưỡng chính là việc tổ chức ra những cơ hội
cho người ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng
việc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản. Đào
1.1.2. Đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
* Khái niệm Đánh giá
Đánh giá chính là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định
tình hình và kết quả công việc giúp cho quá trình lập kế hoạch, ra quyết
định và hành động có kết quả của các nhà quản lý.
* Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là tất cả các công việc liên quan đến
quá trình tổ chức một khóa đào tạo, bồi dưỡng nhằm mục đích hình thành
tri thức, phát triển kỹ năng cho người học.
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Trường Cán bộ quản lý văn hóa,
thể thao và du lịch bao gồm: Xây dựng kế hoạch, triển khai kế hoạch; Tổ
chức quản lý lớp học; Xây dựng nội dung chương trình; Phát triển đội ngũ
giảng viên; Nguồn kinh phí; Đối tượng học viên; cơ sở vật chất và trang
thiết bị giảng dạy; …
Vậy, đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chính là quá trình thu
thập xử lý thông tin về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để xác định hiệu quả
của các công việc nhằm giúp Lãnh đạo có những quyết định khả thi và hiệu
quả trong quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
1.2. Vai trò của đánh giá trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 20112020 đề ra mục tiêu đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có
số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ
nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước. Để thực hiện được mục tiêu của
chương trình, Đảng và Chính phủ đã coi hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích
cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng
và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, viên chức; hướng tới mục tiêu là
tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn.
Xuất phát từ quan điểm này, trong thời gian qua, công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức ở các cấp, các ngành, các địa phương đã có
chuyển biến tích cực, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Báo
trình khoá học và đánh giá hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Khi tiến hành đánh giá chương trình, khoá học phải xác định xem
chương trình, khoá học và các hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cán bộ đã
đáp ứng được các nhu cầu mà các cơ quan hay tổ chức cử cán bộ đi học đặt
ra hay chưa; xem xét các quy trình, công đoạn tiến hành đào tạo và bồi
dưỡng có hợp lý không; người cán bộ được cử đi học tiếp thu được những
cái gì sau khoá học; đánh giá sự tác động của chương trình, khoá học đối
với các đơn vị hoặc nhóm cán bộ.
Đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức là một
công việc phức tạp. Để đat được sự chuẩn xác và toàn diện khi đánh giá,
Nguyễn Thị La “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trong quá trình cải cách hành chính” tạp chí Cộng
sản ngày 4/9/2015.
4
9
chúng ta cần tiến hành một cách có hệ thống, thừờng xuyên, liên tục, khoa
học và phản ánh đúng thực tế chất lượng của việc đào tạo và bồi dưỡng.
Quá trình đánh giá này có thể được coi là một quá trình kĩ thuật nhằm phân
tích thông tin và tính toán hai mặt “đầu tư” và lợi ích của việc đào tạo và
bồi dưỡng, để từ đó có những điều chỉnh hợp lý giúp cho việc đào tạo và
bồi dưỡng đạt được những mục tiêu và yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.
Tóm lại, Đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giúp phát hiện những
mặt tốt, mặt chưa tốt, khó khăn, vướng mắc và xác định nguyên nhân để đề
ra các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng.
1.3. Quan điểm của Đảng, nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
1.3.1. Chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng
Hiệu lực hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung, của hệ thống
chế, hướng dẫn của Trung ương. Trong thực hiện đã gắn chặt các khâu để
tạo ra sự đổi mới đồng bộ trong công tác cán bộ. Bắt đầu từ Nghị quyết
Trung ương 3 (khóa VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã có riêng một nghị quyết về chiến
lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đến
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, là một chặng
đường đổi mới cả về nội dung và cách làm. Nhiều chủ trương, quan điểm,
giải pháp lớn về công tác cán bộ trong đó đào tạo được thể chế hóa, cụ thể
hóa thành các quy định, quy chế, hướng dẫn để thực hiện, đạt nhiều chuyển
biến tích cực và có hiệu quả trong thực tiễn.
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng trong công tác cán bộ ngày càng được đề
cập đến một cách cụ thể hơn trong các văn kiện Đại hội Đảng. Kết luận số
37-KL/TW của Hội nghị Trung ương 9 (khóa X) về “Tiếp tục đẩy mạnh
thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 nêu rõ “Cần tạo chuyển
biến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo
tiêu chuẩn chức danh cán bộ, chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới
cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong
thực hiện Chiến lược cán bộ trong giai đoạn mới. Củng cố, nâng cao chất
lượng về mọi mặt của hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Huy
động mọi nguồn lực và tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước cho việc đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ cả trong và ngoài nước, trong và ngoài Đảng, trong và
ngoài khu vực nhà nước. Xây dựng chương trình quốc gia về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, chiến lược quốc gia về nhân tài đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy
mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và chủ động hội nhập quốc tế.”5
Văn kiện Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là Cương lĩnh và Chiến lược
đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tổ chức và chất lượng cán bộ, đặt công
tác này ở vị trí chiến lược trên quan điểm coi con người là chủ thể, là trung
tâm của phát triển, là mục tiêu và động lực của đổi mới. Đó là đầu tư để
phát triển con người và đội ngũ cán bộ đòi hỏi phải đầu tư cho giáo dục đào tạo. Coi phát triển giáo dục - đào tạo cũng như phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đây là đầu tư theo chiều sâu, đầu tư cho
1.3.2. Một số chính sách, văn bản của nhà nước về
đào tạo, bồi dưỡng
Nhìn lại công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong thời
gian qua, Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức gồm có: Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
các bộ ngành trung ương, trường chính trị các tỉnh thành phố, trung tâm
chính trị các quận huyện được củng cố và phát triển. Công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống thể
chế và các chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
được bổ sung và hoàn thiện. Nhiều văn bản của nhà nước được ban hành.
Sau quyết định 874/QĐ-TTg, ngày 05 tháng 4 năm 1997, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành chỉ thị về việc cử Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân, Chủ
tịch Hội đồng Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thủ
trưởng các bộ và cấp tương đương tham gia khoá bồi dưỡng kiến thức quản
lý hành chính nhà nước tại Học viện Hành chính Quốc gia.
6
Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng.
12
Để nâng cao chất lượng và đưa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức đi vào nề nếp theo những quy định pháp lý thống nhất, ngày 04
tháng 8 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số161/2003/QĐTTg ban hành quy chế đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là văn bản quan
trọng, giải quyết mối quan hệ phát sinh trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức từ việc xác định hệ thống quản lý, hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức đến việc phân công, phân cấp đào tạo, bồi dưỡng.
Mặt khác để công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được
tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết) 7.
Nghị định cũng nhấn mạnh vào yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng với những quy định bắt buộc về phương pháp giảng dạy “Đào tạo,
bồi dưỡng bằng phương pháp tích cực, phát huy tính tự giác, chủ động và
tư duy sáng tạo của người học, tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức và
kinh nghiệm giữa giảng viên với học viên và giữa các học viên”.8
Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Bộ
Nội vụ về Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐCP ngày 5 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng công
chức: thông tư đã cụ thể hóa một số điểm về việc thực hiện chế độ đào tạo,
bồi dưỡng và biên soạn chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện
chế độ bồi dưỡng hàng năm là một yêu cầu bắt buộc đối với công chức.
Cách tính thời gian tham gia các khóa bồi dưỡng được nêu rất rõ rang trong
Thông tư này.
Nhằm triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng XII về đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 163/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2016 về Phê duyệt đề án đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025. Mục
tiêu của Đề án nhằm “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu
quả đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng
yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhập
quốc tế.” và “phấn đấu đến năm 2020, 100% cán bộ, công chức ở Trung
ương, cấp tỉnh, huyện đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn quy định trước khi bổ
nhiệm ngạch, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, 80% cán bộ, công chức
được cập nhật kiến thức pháp luật, đạo đức công vụ, 70% được bồi dưỡng
cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực thi công vụ. Đối với cán bộ,
công chức cấp xã đến năm 2020, 100% có trình độ chuyên môn từ Trung
cấp trở lên, 90% có trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí đảm nhiệm”.
bộ, công chức, viên chức. Các văn bản là cơ sở quan trọng cho Ngành Văn
hóa, Thể thao và Du lịch cũng như Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể
thao và du lịch triển khai nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực của Ngành trong tình hình mới hiện nay.
1.4. Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng của một số
nước trên thế giới
Việc phát triển, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực phục
vụ cho nền hành chính công vụ có vị trí đặc biệt quan trọng và trở thành
chiến lược của nhiều nước trên thế giới. Mỗi nước có những cách tiếp cận
khác nhau về tuyển chọn đội ngũ cán bộ,công chức và chính sách đào tạo,
bồi dưỡng với mục đích cuối cùng là làm sao để có được một đội ngũ nhân
lực có năng lực thực sự, có đạo đức nghề nghiệp vào làm việc trong các cơ
quan của chính quyền. Trong phạm vi Đề tài này, nhóm nghiên cứu tập
trung nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức viên chức ở
04 quốc gia có nền công vụ phát triển và mang tính đại diện cho các nền
kinh tế, các khu vực khác nhau trên thế giới gồm Singapore, Trung Quốc
và Hoa Kỳ.
1.4.1. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Singapore
Có diện tích nhỏ, dân số ít, tài nguyên thiên nhiên không có gì, nhưng
quốc đảo này là một hình mẫu phát triển kinh tế đầy năng động trong nhiều
năm qua và cũng được coi là “một con hổ” của châu Á. Năm 1991,
Singapore đã khởi động chương trình cải cách mang tên “Nền công vụ thế
15
kỷ 21” nhằm xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực với lực lượng công
chức liêm chính, tận tuỵ, có năng suất lao động và chất lượng dịch vụ cao.
Một số biện pháp đồng bộ đã được áp dụng, đó là:
- Áp dụng bộ quy chuẩn ISO 9000 trong BMHC, coi đó vừa là công cụ
cải tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức.
báo STRAITIMEShttp://www.straitstimes.com, Parliament: Singapore's public sector workforce
expected to grow 2.5% a year, 20/1/2015, Charisa Yong.
16
Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức theo hướng mỗi người đều cần
được phát triển tài năng riêng; tạo thói quen học tập suốt đời, liên tục học hỏi
để mỗi công chức đều có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ phục vụ tốt
cho nền công vụ. Singapore xây dựng chiến lược cán bộ thể hiện bằng kế
hoạch đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo kế nhiệm, bài bản, từ xa. Thời gian
đào tạo tối thiểu bắt buộc là 100 giờ trong một năm đối với mỗi công chức.
Trong đó 60% nội dung đào tạo về chuyên môn, 40% nội dung đào tạo liên
quan đến phát triển. Có nhiều khóa học khác nhau dành cho các đối tượng.
Hàng năm, Singapore dành 4% ngân sách cho đào tạo, bồi dưỡng.
Công chức được đi học sau đại học bằng học bổng của Chính phủ với điều
kiện sau khi học phải phục vụ Chính phủ từ 3 đến 5 năm, nếu không thực
hiện cam kết như vậy thì phải trả lại tiền đào tạo. Trước khi đi học, người
học ký cam kết và phải có hai người có đủ khả năng tài chính bảo lãnh để
đảm bảo tiền của Chính phủ không bị thất thoát.
Đối với Singapore, đào tạo công chức trẻ sau khi tuyển dụng phải
đảm bảo nguyên tắc hữu ích và kế thừa (đào tạo, bồi dưỡng phải phục vụ
dài lâu cho công việc), khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin để đa
dạng hóa hình thức đào tạo, tăng cường tính tự giác của người học (mỗi
công chức ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp phải xây dựng kế hoạch học tập cá
nhân (Bản đồ đào tạo cá nhân), và kiên trì nguyên tắc “Muộn còn hơn
không” và nhất là nguyên tắc đào tạo song hành chuyên môn với các kỹ
năng mềm (Quản lý sự thay đổi, phương pháp học tập của người trưởng
thành (Adult Learning) và phát triển nhân cách.
Quá trình đào tạo và bồi dưỡng của Singapore qua 5 công đoạn chính:
những người tham mưu, hoạch định chính sách ở khu vực nhà nước và khu
vực tư nhân, với mục tiêu là hướng tới sự thịnh vượng và phát triển của các
quốc gia.
Tóm lại, công tác đào tạo và bồi dưỡng ở Singapore luôn hướng tới mục
tiêu để mỗi cá nhân có thể phát huy cao độ tiềm lực cá nhân cho phát triển.
1.4.2. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Trung Quốc
Nhằm xây dựng một đội ngũ công chức chuyên nghiệp và có chất
lượng cao,Trung Quốc đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ chính trị, phẩm
chất, năng lực chuyên môn cho đội ngũ công chức
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức của Trung Quốc tập trung
vào: lý luận xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc và chiến lược phát
triển; quản lý hành chính nhà nước trong nền kinh tế thị trường; quản lý vĩ
mô nhà nước với những nội dung cụ thể như thể chế hành chính, quyết sách
hành chính, đào tạo và phát triển nhân tài.
Nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng được phân thành 3 loại:
+ Đào tạo để nhận nhiệm vụ, áp dụng cho những đối tượng chuẩn bị
đi làm ở cơ quan nhà nước
+ Đào tạo cho những người đang công tác trong cơ quan nhà nước,
chuẩn bị được đề bạt vào vị trí quản lý.
+ Bồi dưỡng các chức danh chuyên môn
18
Một khóa học của công chức thường được tiến hành theo mô hình "cơ
bản + chuyên môn",nghĩa là bao gồm khóa học cơ bản và khóa học chuyên
môn. Tỷ lệ của các khóa học thường được sắp xếp là 30% cơ bản và 70%
chuyên môn. Khóa học cơ bản đi sâu vào các nội dung như: về học thuyết
chính trị, về luật hành chính, về hành chính công, về phát triển kinh tế - xã
hội..; khóa học chuyên môn thường được thiết kế dựa vào các nhu cầu khác
một số quan chức của Chính phủ và cán bộ từ các ủy ban của Đảng hoặc
thuê giáo sư nước ngoài giảng dạy.
19
Để xác định được hiệu quả của quá trình đào tạo, bồi dưỡng đối với
việc thực thi công vụ của công chức, Trung Quốc chú trọng đánh giá quá
trình đào tạo, bồi dưỡng của họ. Có hai cách thức đánh giá chủ yếu là đánh
giá thái độ học tập và kết quả học tập. Việc đánh giá thái độ học tập dựa
vào việc học viên tham gia đầy đủ thời gian đào tạo theo quy định và việc
chấp hành kỷ luật nghiêm túc. Nội dung đánh giá bao gồm cả tỷ lệ tham gia
các giờ học trên lớp, các sáng kiến hội thảo và các quan điểm đúng đắn.
Kết quả học tập được đánh giá dựa trên số điểm của các bài kiểm tra, tiểu
luận, đề tài. Việc đánh giá học viên trong trường được thực hiện dưới hình
thức "Mẫu đăng ký đánh giá đào tạo công chức", đó là những thông tin
phản hồi tới cơ quan, đơn vị mà học viên đang công tác. Đây là một trong
những cơ sở cho quy trình kiểm tra và đánh giá hàng năm của các bộ phận
tổ chức nhân sự.
Tóm lại, hình thức và nội dung đào tạo bồi dưỡng tại Trung Quôc khá
linh hoạt và coi trọng hiệu quả thiết thực Nhờ đó, Trung Quốc đã tiến hành
tương đối thành công nhiều cuộc cải cách hành chính kể khi thực hiện đường
lối mở cửa vào năm 1978.
1.4.4. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Mỹ
Ở Hoa Kỳ nguyên tắc chính yếu của đào tạo, bồi dưỡng công chức
phục vụ trong nền công vụ tập trung nhấn mạnh vào tính chủ động và thực
tiễn. Nguyên tắc đào tạo của Hoa Kỳ tập trung nhấn mạnh đào tạo gắn với
nhu cầu. Nguyên tắc này thể hiện tính chủ động của cơ quan, đơn vị trong
quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong nhiều khâu, trong đó thể hiện cụ
thể trong đào tạo và bồi dưỡng.
Nội dung đào tạo tập trung vào các kỹ năng lãnh đạo cho công chức,
chức này.
Đối với Hoa Kỳ, các cơ sở đào tạo công chức mới tuyển dụng rất đa
dạng. Đối với công chức mới tuyển dụng vào các vị trí cấp cao, họ thường
được Chính phủ gửi đến các khóa định hướng ngắn hạn tại Viện Điều hành
Liên bang hoặc trường Kennedy. Đối với công chức mới tuyển dụng vào
các vị trí khác, Chính phủ gửi họ đến đào tạo tại trường Kennedy hoặc các
trường Đại học. Bản thân mỗi Bộ cũng có các đơn vị đào tạo riêng hoặc các
trường trực thuộc để đào tạo nguồn nhân lực nội ngành sau khi tuyển dụng.
Đại diện cho loại hình cơ sở đào tạo độc lập dành cho công chức là Trường
Đại học Havard Kennedy. Trường Harvard Kennedy có mối quan hệ chặt
chẽ với Chính phủ và cung cấp thông tin, cố vấn cho Chính phủ. Một số
giảng viên của Trường chính là Công chức cố vấn cao cấp của Chính phủ.
Chính vị thế trong mối quan hệ với Chính phủ và nguồn giảng viên độc đáo
đã tạo ra lợi thế tuyệt đối cho Trường trong công tác giảng dạy về ra quyết
định ở tầm cao và quản trị Chính phủ. Trường Harvard Kennedy có khoảng
30 cơ sở nghiên cứu bao trùm nhiều lĩnh vực từ nhà ở, thông tin đại chúng,
chính quyền địa phương, các vấn đề quốc tế, tổ chức phi chính phủ đến các
cơ quan nghiên cứu về nhân quyền. Lợi thế nghiên cứu đã hỗ trợ đáng kể
cho chất lượng và hiệu quả đào tạo của Trường. Ngoài Trường Havard
Kennedy, xét về cơ sở đào tạo công chức còn phải kể đến Viện Điều hành
Liên bang. Viện thành lập năm 1968, chuyên trách đào tạo công chức cao
cấp cho Chính phủ. Hình thức đào tạo chủ yếu là đào tạo ngắn hạn. Viện
đào tạo cho các công chức mới tuyển dụng vào các vị trí cao cấp trong
Chính phủ. Viện có 4 cơ sở đào tạo chính dành cho công chức tại Hoa Kỳ
đặt tại California, New York, Tennessee và Delaware.
21
Bên cạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức trẻ, Mỹ
còn đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực đào tạo, bôi dưỡng cho các lãnh đạo.
- Về nội dung chương trình: Bên cạnh các khóa học về quản lý hành
chính công, kỹ năng cần thiết cho các vị trí việc làm, các khóa học về phát
triển nhân cách, xây dựng kỹ năng cá nhân được quan tâm đáng kể.
- Việc đánh giá chất lượng đào tào, bồi dưỡng do các đơn vị đào tạo
tiến hành theo 2 tiêu chí: Thái độ học tập và kết quả học tập.
22
Chương 2
HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CỦA TRƯỜNG CÁN BỘ
QUẢN LÝ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH (2010-2015)
2.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch
2.1.1. Giai đoạn từ 2010 - 2013
Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch được thành lập
năm 1997, là đơn vị duy nhất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chức
năng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức pháp luật và kỹ năng
quản lý Nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch cán sự và tương đương, ngạch
chuyên viên và tương đương, ngạch chuyên viên chính và tương đương, kiến
thức và kỹ năng theo vị trí việc làm cho cán bộ, công chức, viên chức ngành
văn hóa, thể thao và du lịch. Sau nhiều lần thay đổi tên gọi, đến năm 2007,
Bộ Văn hóa - Thông tin tách lĩnh vực Thông tin sang Bộ Thông tin và
Truyền thông. Sáp nhập Ủy ban Thể dục Thể thao, Tổng cục Du lịch, lĩnh
vực gia đình của Ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế thành
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ngày 10 tháng 04 năm 2008 Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 1605/QĐ-BVHTTDL
quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trường. Trường được đổi
tên thành Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch là
đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Giai đoạn 2010 - 2013 chức năng, nhiệm vụ của Trường được xây
5. Liên kết, phối hợp với các cơ quan trong và ngoài Bộ tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phù hợp với chức năng nhiệm vụ của trường
theo kế hoạch được lãnh đạo Bộ phê duyệt và nhu cầu xã hội.
6. Tham gia điều tra, khảo sát, tổng kết nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, viên chức của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Nghiên cứu đề xuất phương hướng, quy trình và phương pháp đào tạo, bồi
dưỡng mới phù hợp với đặc điểm, tình hình của ngành Văn hóa, Thể thao
và Du lịch.
7. Hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế để nâng cao chuyên
môn, nghiệp vụ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của Nhà nước và Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch…
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường gồm: Hiệu trưởng, các Phó hiệu
trưởng và các phòng chức năng, các Bộ môn và tổ chức trực thuộc:
+ Phòng Tổ chức - Hành chính.
+ Phòng Tài chính - Kế toán.
+ Phòng Đào tạo - Bồi dưỡng.
+ Phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế.
Các Bộ môn và tổ chức trực thuộc:
+ Bộ môn Lý luận cơ bản.
+ Bộ môn Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch.
+ Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học.
24
Như vậy, tại Quyết định số 1605/QĐ-BVHTTDL đánh dấu sự thay
đổi và khẳng định bước phát triển lớn của Trường. Trước hết về tên gọi,
chuyển từ tên Trường Cán bộ quản lý Văn hóa - Thông tin thành Trường
Bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch. Tên Trường đã phần
nào phản ánh chức năng, nhiệm vụ và những lĩnh vực chuyên ngành mới
Nhà trường phải triển khai trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Thứ hai, về
và du lịch”. Như vậy, đã bỏ từ “bồi dưỡng”, việc bỏ từ này tạo điều kiện cho
25