Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn tại Trường Đoàn Lý TựTrọng, TP.HCM - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ, có đủ năng lực, trình độ, có bản lĩnh chính trị vững
vàng là yêu cầu cấp bách trước mắt và lâu dài của tổ chức Đoàn các cấp. Xây dựng đội ngũ cán
bộ Đoàn nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong
giai đoạn mới, là nhân tố quyết định sự vững mạnh của các tổ chức Đoàn, Hội, Đội, đồng thời
tích cực tham
gia xây dựng Đảng và chính quyền trong thời kỳ mới. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
có vị trí rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng CBĐ; do đặc thù luân chuyển nhanh, là
cán bộ trẻ, kinh nghiệm thực tiễn và thời gian công tác còn ít, vì vậy CBĐ cần phải được đào
tạo, bồi dưỡng thường xuyên, kịp thời về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ công tác
thanh vận.
Trong quá
trình phát triển và lớn mạnh của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cả nước
nói chung và TP.HCM nói riêng có phần đóng góp rất quan trọng của công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ CBĐ các cấp của Trường Đoàn Lý Tự Trọng. Kể từ năm 1973 cho đến nay, qua
hơn 30 năm hoạt động và trưởng thành, Trường Đoàn Lý Tự Trọng đã đào tạo, bồi dưỡng hơn
70.000 CBĐ cho phong trào tha
nh thiếu nhi thành phố, cung cấp nhiều lớp cán bộ trẻ xuất sắc
cho Đảng và chính quyền các cấp. Những CBĐ được đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Đoàn Lý
Tự Trọng phần lớn đã phát huy vai trò hạt nhân nòng cốt trong công tác Đoàn và phong trào
thanh thiếu nhi thành phố.
Tuy nhiên, trước sự đổi thay của đất nước, trước sự chuyển biến và lớn mạnh của công
tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, chất lượng đào tạo của Trường Đoàn Lý Tự Trọng hiện
nay còn nhiều vấn đề cần phải xem
xét, đánh giá lại để có hướng điều chỉnh và nâng tầm cho
phù hợp với thực tế. Tính chất, phương thức hoạt động Đoàn trong thời kỳ mới thay đổi, đòi hỏi
nội dung đào tạo phải thay đổi, do đó phải đổi mới cách thức quản lý, cách thức tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng. Các chủ trương về công tác Đoà
n được phát triển và bổ sung, do đó cần nghiên
cứu thực trạng và tìm kiếm giải pháp mới để quản lý và tổ chức đào tạo hiệu quả hơn, thiết thực

- Cán bộ, Giáo viên Trường Đoàn Lý Tự Trọng
- Cán bộ Thành Đoàn, Cán bộ các cơ sở Đoàn (Nơi sử dụng học viên trường Đoàn ra
trường)
- Học viên
đã và đang học tại Trường Đoàn Lý Tự Trọng
Có 80 học viên và 80 cựu học viên được tham khảo ý kiến
Bảng 1: Khách thể chính
Khách thể Frequency Percent Valid Percent
Cumulative
Percent
Học vin 80 50.0 50.0 50.0
Cựu học vin 80 50.0 50.0 100.0
Valid
Total 160 100.0 100.0
4. Giả thuyết nghiên cứu
Trường Đoàn Lý Tự Trọng chậm được củng cố tổ chức lại, chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng chưa cao. Công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với tiêu chuẩn và quy hoạch sử
dụng; nội dung, chương trình, hình thức đào tạo chưa thật sự phù hợp với từng đối tượng. Đặc
biệt việc quản lý mục tiêu và quản lý nội
dung chương trình chưa được thực hiện đồng bộ và
hiệu quả chưa cao.
Nếu đánh giá đúng tình trạng, phân tích cặn kẽ và chính xác các nguyên nhân, tìm ra
được những giải pháp quản lý hợp lý và thực hiện nghiêm túc các giải pháp quản lý này hữu
hiệu, thì có thể nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBĐ, đáp ứng yêu cầu công tác
CBĐ trong thời kỳ mới.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận của đề tài.
- Tìm
hiểu thực trạng hoạt động đào tạo và quản lý đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBĐ tại
Trường Đoàn Lý Tự Trọng.

ợc góp ý
- Tháng 2/2009: Báo cáo và chỉnh sửa lần chót. Nộp luận văn cho Phòng KHCN-SĐH
- Quý 1/2009: Bảo vệ luận văn theo kế hoạch của trường.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng giáo dục và
xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc giáo dục. Việc quan tâm đến sự nghiệp giáo dục
không chỉ là vấn đề của các nhà trường, của ngành giáo dục - đào tạo mà là sự nghiệp chung
của toàn xã hội. Hệ thống giáo dục hiện nay được xây dựng và phân cấp theo chiều dọc và
chiều ngang; tạo thành mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục ngày càng đa dạng, phong phú. Số
lượng người dạy và người học ngày càng nhiều; các hình thức tổ chức dạy học và giáo dục
đang được xác định đúng đắn, phù hợp hơn.
Để thực hiện tốt công tác giáo dục của quốc gia nói chung và
của các cơ sở GD-ĐT nói
riêng, hoạt động quản lý GD-ĐT không thể thiếu các công như: kế hoạch hóa công tác giáo
dục dài hạn, trung hạn, ngắn hạn; tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục và phát triển giáo dục;
chỉ đạo các lực lượng tham
gia quản lý và thực hiện công tác giáo dục; kiểm tra, đánh kết quả
hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Chính vì thế khi nói đến việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của một trường hay
một cơ sở giáo dục, một trong những nội dung quan trọng là các biện pháp QLGD. Đã có nhiều
đề tài nghiên cứu về các biện pháp quản lý nhằm n
âng cao chất lượng đào tạo trong các cơ sở đào
tạo. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, vấn đề sử dụng các biện pháp QLGD hiệu quả để nâng
cao chất lượng đào tạo ở trong nhà trường và trong các cơ sở giáo dục đã đư
ợc nhiều học giả
quan tâm đến. Trong những năm gần đây, có rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề
nâng cao chất lượng đào tạo. Các công trình nghiên cứu, các bài báo thường tập trung vào 3
khuynh hướng chính sau:
- Khuynh hướng thứ nhất: Về thực trạng công tác QLGD:

tài NCKH cụ thể) và chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực tế hoạt động của Trường Đoàn Lý
Tự Trọng.
1.2. Các quan điểm của Đảng, Nhà nước, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn nói riêng
Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Ngay
lúc còn ở Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1924 - 1927, Nguyễn Ái Quốc đã tập trung thời
gian mở những lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ, đào tạo họ trở thành những hạt giống chuẩn
bị cho
việc thành lập Đảng. Những lớp học trò do Người giảng dạy về sau này đ trở thành những
cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng. Không chỉ trực tiếp mở lớp đào tạo, Người còn viết thư khẩn
thiết đề nghị Quốc tế cộng sản tích cực giúp đỡ trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt cho
cách mạng Việt Nam, vì Người nhận thấy một thực tế sau ngày thành lập Đảng trong đội ngũ cán
bộ cách mạng tuy có nhiều người dũng cảm, dày dặn thực tiễn nhưng còn yếu về lý luận.
Cho
đến trước lúc đi xa Người còn căn dặn trong Di chúc: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau
là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [12, tr.46].
Quán triệt Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, qua các
thời kỳ hoạt động cũng như qua tổng kết lý luận và thực tiễn cách mạng, Đảng ta rút ra được
những kinh nghiệm về xây dựng, đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ. Vấn đề đào tạo cán bộ
trong mọi thời kỳ cách mạng có tầm quan trọng rất lớn. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước, y
êu cầu đào tạo cán bộ càng được chú trọng. Đảng ta đã nhận thức sâu sắc về tầm quan
trọng của công tác đào tạo cán bộ. Bước vào lãnh đạo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã khẳng định vai trò tầm quan
trọng của công tác đào tạo cán bộ. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng Cộng sản
Việt Nam nhấn mạnh: “Dành kinh phí
thỏa đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ
sở, chú ý kiện toàn và tăng cường đội ngũ cốt cán” [16, tr.520]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
BCH Trung ương Đảng (Khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển GD-ĐT trong t

.
Văn kiện Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ IX (2007 – 2012) nêu rõ: “Xây dựng
đội ngũ CBĐ đáp ứng yêu cầu của công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong giai đoạn
hiện nay là quá trình tạo dựng đội ngũ cán bộ trẻ, giỏi, thực sự là những người bạn, có khả năng
hướng dẫn, tổ chức hoạt động thanh thiếu niên, tư vấn cho thanh niên và đối thoại với thanh
niên” [30, tr.100]
.
Văn kiện Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh TP.HCM lần thứ VII (2001 – 2007) nêu rõ:
“Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng cán bộ theo
hướng gắn liền với tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ; đào tạo theo chức danh, đào tạo cán bộ đặc
thù. Đa dạng hóa hình thức đào tạo để đội ngũ CBĐ có điều kiện học tập nâng cao trình độ
nghiệp vụ” [31, tr.68].
1.3. Lý luận về quản lý hoat động đào tạo, bồi dưỡng
1.3.1. Quản lý
Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động c
hung. Từ khi xã
hội hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành. Cùng với sự phát triển
của xã hội loài người, trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên và phát triển theo. C.

Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt
động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế
sản xuất... Một người độc tấu vĩ cầm tự m
ình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng” [10, tr.24].
Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục
đích chung. Như vậy, trong lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính
đặc thù là tổ chức - điều khiển con người với các hoạt động t
heo những yêu cầu nhất định; dạng
lao động đó được gọi là quản lý.

sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực
(nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức
(chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [ 5,
tr.15].
- “Quản lý là: phải biết đào tạo, bồi dưỡng, chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn và phải biết
ủy quyền” [8, tr.5
].
- “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức” [9, tr.9].
- “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp
hoạt động của họ trong quá trình lao động” [14, tr15].
Dù tiếp cận cách nào cũng cần xem xét bản chất của chức năng lao động đặc biệt này.
Bản chất của hoạt động quản lý là tổ chức, chỉ huy và điều khiển phù hợp quy luật của chủ thể
quản lý nhằm t
hực hiện có hiệu quả những mục tiêu của tổ chức (đơn vị) đã đề ra.
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên, có thể hiểu quản lý là tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng
quản lý trong một tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ
chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức
vận hành (hoạt động) có hiệu quả.
Với định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sa
u: Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra
các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các
khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản l
ý. Tác động có thể liên tục nhiều
lần.
Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể
quản lý. Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng. Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác
động và phải biết tác động. Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách

Quản lý là một hoạt động khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng của xã hội
loài người. Nhờ có quản lý mà có thể tạo ra sự thống nhất ý chí trong tổ chức (các thành viên
của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa những người bị quản lý với người
quản lý), từ đó mới có thể đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất.
Quản lý còn có tác dụng định hướng sự phát triển của tổ chức tr
ên cơ sở xác định mục
tiêu và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu chung đó. Tổ chức, điều
hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm
đạt mục tiêu quản lý đã xác định. Tạo ra động lực cho hoạt động bằng cách kích thích, đánh gi
á,
khen thưởng, trách phạt, tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân và tổ
chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và có hiệu quả.
1.3.2. Giao dục, đào tạo, bồi dưỡng
1.3.2.1. Giáo dục
Thuật ngữ “giáo dục” được hiểu theo hai mức độ rộng, hẹp khác nhau và tùy nhận thức
của mỗi lĩnh vực khoa học.
Theo nghĩa chung nhất, rộng nhất, “giá
o dục” là dạy dỗ, bảo ban, nuôi nấng, chăm sóc
con người để con người khôn lớn, trưởng thành. Theo nghĩa này, giáo dục diễn ra trong suốt đời
người, và diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau: gia đình, nhà trường, xã hội.
Cũng theo nghĩa rộng, trong khi xã hội học coi giáo dục là quá trình truyền thụ kinh
nghiệm lịch sử, xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bước v
ào cuộc sống xã hội, lao
động sản xuất, thì giáo dục học lại coi giáo dục là quá trình hình thành con người dưới ảnh hưởng
của những tác động bởi nhà giáo dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục chuyên biệt nhằm hình
thành con người phát triển toàn diện (có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp…)
Theo nghĩa hẹp, giáo dục học quan niệm, giáo dục là hoạt động chuyên biệt của nhà giáo
dục nhằm bồi dưỡng cho người được giáo dục (học sinh, học viên, sinh viên) những quan niệm,
phẩm chất, tri thức, hiểu biết về thế giới tự nhiên và xã hội loài người.
Dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa, thì giáo dục là một quá trình trang bị và nâng cao

].
QLGD là việc đảm bảo sự hoạt động của tổ chức trong điều kiện có sự biến đổi liên tục
của hệ thống giáo dục và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn
cảnh mới.
QLGD là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau
trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu giáo dục đã định.
QLGD là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QLGD đến khách thể quản lý
trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
QLGD là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng
các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
* Quản lý giáo dục gồm:
-
Chủ thể quản lý: Bộ máy QLGD các cấp, trong đó vai trò quan trọng là các cán bộ quản
lý, những người điều hành toàn bộ hoạt động giáo dục.
- Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học, người dạy, người học.
- Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy; quan hệ giữa
người quản lý với người dạy, người học; quan hệ người dạy - người học
; quan hệ giữa giáo giới
- cộng đồng... Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động
của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục.
QLGD bao giờ cũng phải được định hướng tới những mục đích, mục tiêu nhất định.

Người quản lý phải trả lời được câu hỏi: Quản lý để làm gì? Đạt đến cái đích nào? Đích phải
đến của từng chặng đường là mục tiêu; đích ở xa hoặc cuối cùng gọi là mục đích. Mục đích
tổng quát của sự nghiệp giáo dục chính là mục đích tổng quát nhất của QLGD. QLGD trong xã
hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Ở cấp
độ nhân cách, QLGD là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách.
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quản lý hoặc của một số yếu
tố cấu thành của nó.


QUẢN LÝ GD
MỤC

TIU
PHƯƠNG
PHP
Tóm lại: QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách
thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống gi
áo dục đạt được kết quả mong
muốn (mục tiêu) một cách có hiệu quả nhất.
1.3.4. Quản lý nhà trường
Trường học là bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc
dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm
của nhà trường, mọi hoạt động đa dạng, phức
tạp khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này. Do vậy, quản lý trường học thực chất là:
Quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng t
hái
khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục.
Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động
học của học sinh, hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ, nhân viên trong trường.
Mục tiêu của công tác quản lý nhà trường:
- Bảo đảm kế hoạch phát triển giáo dục:
- Bảo đảm chất lượng và hiệu quả giảng dạy, giáo dục
- Xây dựng đội ngũ giáo viên của trường c
ó đủ phẩm chất, năng lực để đảm bảo giảng
dạy, giáo dục học viên đạt chất lượng cao. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ thích hợp, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ GD-ĐT của nhà trường.
- Từng bước hoàn thiện CSVC-KT phục vụ thiết thực cho giảng dạy và giáo dục.
- Thường xuyên cải tiến công tác quản lý, lãnh đạo nhà trường theo tinh thần dân chủ hóa


- Phân tích thông tin, nắm được xu hướng phát triển xác lập chính xác mục tiêu chiến
lược GD-ĐT.
- Xác lập các chuẩn mực, quy trình theo mục tiêu đào tạo, tạo điều kiện và duy trì các cơ
chế thực h
iện các chuẩn mực đã đề ra.
- Đưa mọi hoạt động GD-ĐT vào kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi rõ ràng.
- Hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với sứ mệnh, phù hợp với nhiệm vụ chính
trị và thực hiện một quy trình đào tạo thích ứng với khả năng và nguồn lực của mình.
Quản lý q
uá trình đào tạo là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố, có mối liên hệ tương tác
khá phức tạp. Nội dung quản lý quá trình đào tạo vì thế cũng rất đa dạng và rộng lớn. Có 2 cách
tiếp cận nội dung quản lý đào tạo, bồi dưỡng; đó là: theo chức năng quản lý và theo cơ cấu của
hoạt động quản lý.
1.3.5.1. Theo chức năng quản lý
Chức năng của quản lý là các dạng khác nhau, các hoạt động khác nhau của hoạt động
quản lý thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu
quản lý. Quản lý có các chức năng chính sau:
* Kế hoạch hóa trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng
Một tập thể lao động, trong đó mọi người liên kết với nhau hoạt động thực hiện nhiệm vụ
của tập thể m
ình và của bản thân mình. Nhiệm vụ cốt yếu của người quản lý là làm thế nào để
mọi người biết nhiệm vụ của mình, biết phương pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả
mục tiêu của tổ chức. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động,

xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của
cả hệ thống quản lý và bị quản lý.
* Tổ chức trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng:
Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm t
hực hiện có hiệu quả mục tiêu cần
phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác, đó

của người lãnh đạo, còn ngược lại thì sẽ làm
giảm uy tín. Nguồn thu thập thông tin quan trọng
đó là kiểm tra, kiểm kê, thanh tra, đánh giá.
* Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng:
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Lãnh đạo mà không kiểm
tra thì coi như không lãnh đạo. Theo lý thuyết hệ thống kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ
ngược trong quản lý. Kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm t
hực hiện ba chức
năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích. Nhờ có kiểm tra mà người cán bộ quản lý có được
thông tin để đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách
đúng hướng nhằm đạt mục tiêu.
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoá
n về kết quả của công việc trên
cơ sở những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất
những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả
công việc.
Các chức năng trên của quản lý đào tạo, bồi dưỡng có mối quan hệ mật thiết trong chu
trình quản lý.
1.3.5.2. Theo cơ cấu hoạt động quản lý
* Quản lý mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng
Nhiệm vụ của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tà
i, góp
phần tạo ra động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện CNH, HĐH đất nước
nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn m
inh.
Vậy quản lý mục tiêu giáo dục là quản lý việc đào tạo con người, hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đào tạo những con người lao động phát
triển toàn diện, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức, sức
khỏe, học vấn và nghề nghiệp, có ý thức cộng đồng, năng động và sáng tạo, có ý thức giữ gì
n

hức trong việc
giảng dạy và học tập.
Quản lý nội dung đào tạo, bồi dưỡng là quản lý việc lập kế hoạch đào tạo và nội dung
chương trình giảng dạy.
* Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý tổ chức đào tạo, quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình dạy của giáo
viên và quá trình học của học viên. Đây là hai quá trình gắn bó hữu cơ. Quá trình dạy và học là
tập hợp những hành động liên tiếp của giáo viên và của học viên được giáo vi
ên hướng dẫn.
Những hành động này nhằm làm cho học viên tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo và trong quá trình đó phát triển năng lực nhận thức, nắm được các yếu tố của văn hóa
lao động trí óc và chân tay, hình thành cơ sở của những thế giới quan đúng đắn.
Hành động quản lý (điều khiển hoạt động dạy và học) của Hiệu trưởng, của cán bộ quản
lý các đơn vị đào tạo chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy, và là trực tiếp với thầy,
gián tiếp với trò; thông qua hoạt động dạy của thầy, quản lý hoạt động của trò.
- Quản lý hoạt đong dạy của giáo viên
Quản lý hoạt động dạy của giáo viên trước hết là quản lý việc thực hiện chương t
rình đào
tạo, bồi dưỡng, tức là quản lý việc thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của trường.
Hiệu trưởng, cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo điều khiển hoạt động dạy và học theo chương
trình. Do đó, việc nắm vững chương trình đào tạo, bồi dưỡng là một tiền đề đảm bảo cho hiệu
quả quản lý dạy và học. Về lý thuyết, Hiệu trưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo càng
nắm vững, nắm chắc, nắm s
âu, nắm rộng chương trình đào tạo càng tốt. Tuy nhiên, trong thực
tế điều này chưa có được. Do đó, chỉ yêu cầu Hiệu trưởng, cán bộ quản lý các cơ sở đào tạo
nắm vững chương trình ở mức độ giới hạn cần thiết như: những nguyê
n tắc cấu tạo chương
trình dạy học của từng hệ đào tạo, bồi dưỡng; những nguyên tắc cấu tạo chương trình dạy học
môn học, nội dung phạm vi kiến thức của từng môn học; phương pháp dạy học đặc trưng của
từng m

của Hiệu trưởng để đảm bảo có sự hiệp đồng thống nhất trong các giáo viên. Hiệu trưởng cần
kết hợp với các đoàn thể trong trường như Công đoàn, Đoàn thanh niên nhằm tạo phong trào
quần chúng rộng rãi trong nhà trường.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên

Hiệu trưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo cần phải nắm được tình hình của giáo
viên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh với những nội dung sau:
+ Có lịch kiểm tra hàng tháng và cả học kỳ.
+ Thực hiện đúng chế độ kiểm tra, cho điểm theo quy định.
+ Chấm và trả bài đúng thời hạn.
+ Báo cáo tình hình kiểm tra theo quy định của nhà trường.
- Quản lý hoạt động học tập của học viên

Thông qua giáo viên, Hiệu trưởng hay cán bộ quản lý các đơn vị đào tạo quản lý hoạt
động học tập của học viên. Hoạt động đó xảy ra ở lớp, ngoài lớp, ngoài trường… và được thể
hiện qua nhiều hình thức: học trên lớp, thực hành, lao động, tự học ở nhà…
Hoạt động học tập là quá trì
nh hoạt động tự giác, tích cực của học viên nhằm lĩnh hội tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách của bản thân. Như
vậy, học tập là nhằm biến đổi những yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất và năng lực
của cá nhân. Học tập là một hình thức cá thể muốn đạt được kết quả trước hết phải phát huy va
i
trò chủ thể của học viên.
Tính tự giác của học viên phải dựa trên cơ sở giác ngộ sâu sắc về mục đích và nhiệm vụ
học tập. Tính tích cực là thước đo trình độ tự giác của học viên, được biểu hiện ở sự say mê
hứng thú học tập, tinh thần chịu khó miệt mài, khắc phục khó khăn để tìm kiếm tri thức, nỗ lực
rèn luyện nhằm nắm vững kỹ năng, kỹ xảo. Tính chủ động học tập là
phát huy vai trò năng
động của học viên tự mình làm chủ đối với việc học tập của mình.
Quản lý hoạt động học tập của học viên là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập,

Để quản lý tốt đội ngũ giáo vi
ên, cần phải có chính sách chăm lo đời sống vật chất và
tinh thần của đội ngũ giáo viên, tôn vinh nghề dạy học và các giáo viên dạy giỏi, nhà giáo nhân
dân, nhà giáo ưu tú,
Thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với giáo viên, khuyến khích
người giỏi làm nghề dạy học. Kết hợp đào tạo giáo viên mới và bồi dưỡng thường xuyên những

giáo viên đang giảng dạy.
* Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cưu thực tiễn của giáo viên
Nhiệm vụ chủ yếu của các trường là giảng dạy và NCKH, hai nhiệm vụ này có tác động
tương hỗ cho nhau và cùng nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo. Có thể nói rằng không
thể có chất lượng đào tạo nếu không tăng cường NCKH (NCKH là đòn bẩy, là động lực để
nâng cao chất lượng đào tạo). Chính vì vậy, nhà trường cần phải tạo những điều kiện cho giáo
viên và học viên được rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo.
Với ý nghĩa chung thì NCKH là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, đó là quá trình
sáng tạo, phát hiện chân lý, phát hiện những quy luật của thế giới, nhằm vận dụng những hiểu
biết ấy vào cuộc sống. Mục đích của NCKH là tìm
tòi, khám phá bản chất và các qui luật vận
động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất vật chất hay tạo ra
những giá trị tinh thần, để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống con người. NCKH không chỉ là nhận
thức thế giới mà còn cải tạo thế giới, khoa học đích thực luôn vì cuộc sống của con người.
Cuộc cách mạng công nghệ thông ti
n, cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh
mẽ làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của cuộc sống. Giáo dục càng được khẳng định là chìa khóa
để mở cửa tiến vào tương lai, nguồn lực con người là tài sản quý báu nhất của xã hội, của đất
nước, là động lực của sự phát triển thì sự nghiệp và vai trò của nhà giáo cũng được đặt trước
những t
hách thức và áp lực lớn. Nhà giáo phải trực tiếp đối diện với xã hội thông tin đầy biến
động. Muốn đào tạo được những người công dân tương lai có khả năng thích ứng và sáng tạo
để tham gia cuộc sống xã hội, thì trước hết đòi hỏi bản thân nhà giáo phải biết tự thích ứng và

trường xác định phương hướng, mục tiêu NCKH của đơn vị mình. Đồng thời phải xem xét điều
kiện về nguồn lực hiện có của trường (đội ngũ giáo viên, CSVC-KT, kinh phí,...) đảm bảo cho
hoạt động NCKH
có hiệu quả cao. Muốn vậy, chủ thể quản lý cần xác định nội dung và biện
pháp cụ thể để từng bước thực hiện mục tiêu NCKH của trường.
+ Quản lý việc tổ chức triển khai kế hoạch NCKH: Kế hoạch NCKH phải được hiện thực
hóa thông qua việc tổ chức, triển khai. Tổ chức, triển khai kế hoạch NCKH bao gồm việc xây

dựng bộ máy quản lý hợp lý, ban hành Quy chế hoạt động của bộ máy quản lý, quy định rõ
chức năng của các bộ phận trong trường có liên quan đến hoạt động NCKH và mối quan hệ
công tác giữa các đơn vị trong trường tham gia quản lý (các Phòng, các Khoa, các Tổ bộ
môn...). Điều phối có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, tạo sự phối
hợp đồng bộ, thống nhất trong hoạt động của bộ m
áy quản lý nhằm đạt được mục tiêu NCKH
đã•đề ra.
+ Quản lý việc thực hiện chỉ đạo hoạt động NCKH trong giáo viên: Chỉ đạo hoạt động
NCKH bao gồm việc liên kết, tập hợp, hướng dẫn, điều hành, tác động đến các cá nhân, các
đơn vị tham gia quản lý (các tổ chức đoàn thể, các phòng, khoa, tổ bộ môn…) và giáo viên là
người trực tiếp thực hiện hoạt động NCKH. Công tác chỉ đạo không chỉ được thực hiện sau quá
trình lập kế hoạch và thiết kế bộ m
áy quản lý mà còn phải theo dõi, giám sát và tạo điều kiện
giúp đỡ, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình NCKH.
+ Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả NCKH của giáo viên. Kiểm tra, đánh giá sẽ
giúp cho giáo viên hệ thống, khái quát hóa những tri thức đã có, giúp phát triển tư duy và trí
nhớ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của m
ình với hoạt động NCKH. Như vậy, việc quản lý,
theo dõi, chỉ đạo đánh giá kết quả NCKH của giáo viên là không thể thiếu được. Tuy nhiên, đây
là công việc khó khăn, đòi hỏi người quản lý phải kết hợp nhiều yếu tố, nhiều hình thức mềm
dẻo và linh hoạt thì mới đánh giá đúng, chính xác kết quả nghiên cứu của họ.
* Quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, bồi dưỡng

- Mỗi đơn vị trong hệ thống CSVC-KT trường học có
một cán bộ phụ trách, chịu trách
nhiệm quản lý và bảo quản.
- Hiệu trưởng cần có nhiều biện pháp để tổ chức, quản lý và động viên thi đua để nâng cao
hiệu quả sử dụng hệ thống CSVC-KT trường học, như:
+ Yêu cầu các giáo viên sử dụng hệ thống CSVC-KT trường học vào quá trình dạy học
và giáo dục;
+ Phát động thi đua sử dụng hệ thống CSVC-KT trường học, kết hợp với các phương
pháp dạy học tiên tiến, hiện đại;
+ Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ thuật sử dụng hệ thống CSVC-
KT trường học cho giáo viên qua nhiều hình thức;
+ Xây dựng những quy trình sử dụng hệ thống C
SVC-KT trường học và yêu cầu mọi
người phải thực hiện.
- Hiệu trưởng cần đưa ra quy chế sử dụng hệ thống CSVC-KT trường học, và cần phải xử
phạt những ai không theo đúng quy định.
- Hiệu trưởng cần nắm các thông tin phản hồi từ các báo cáo định kỳ hay đột xuất của các
cán bộ trong cơ cấu quản lý, kiểm tra sổ sách, dự giờ lên lớp và các hoạt động ngoài giờ học,
phỏng vấn học sinh và giáo vi
ên, trực tiếp kiểm tra hệ thống CSVC-KT trường học thường
xuyên và giám sát việc kiểm kê tài sản định kỳ.
Hệ thống CSVC-KT trường học cần phải được thường xuyên đổi mới và hoàn thiện trong
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, cần phải có ý thức sử dụng tích cực
hệ thống CSVC-KT trường học vào quá trình giáo dục học sinh.
Hiệu trưởng phải chỉ đạo bộ phận có trách nhiệm t
hường xuyên nắm vững tình hình số
lượng tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị mà nhà trường có. Trường phải có mục lục tài sản từng
khoản cụ thể và mục lục này phải được ghi đầy đủ, kịp thời và thường xuyên cập nhật mỗi khi có
sự thêm bớt.
Hằng năm, Hiệu trưởng chỉ đạo t


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status