đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc bộ văn hóa,thể thao và du lịch - Pdf 14

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến sự nghiệp
phát triển các lĩnh vực văn hoá, thể thao và du lịch, đã ban hành nhiều chủ
trương, đường lối và văn bản quy phạm pháp luật để định hướng cho ngành
văn hoá, thể thao và du lịch hoạt động và phát triển, gồm: Nghị quyết Hội
nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết
Hội nghị Trung ương sáu khoá X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Luật Di sản văn hoá, Luật Điện ảnh,
Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thể dục, thể thao; Luật Du lịch; Pháp lệnh Quảng
cáo; Pháp lệnh Thư viện…
Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách mới tạo hành lang
pháp lý để ngành văn hoá, thể thao hoạt động và phát triển như: Nghị quyết số
05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá; Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về
chế độ tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp; Nghị định số 43/2006/NĐ-
CP về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ
máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.
Thủ tướng Chính phủ đã có: Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003
về Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá; Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg ngày
23/6/2005 phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm
2020; Quyết định số 271/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 phê duyệt Quy
1
hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở đến năm 2010;
Quyết định số 167/2006/QĐ-TTg ngày 14/7/2006 phê duyệt Đề án “Phát triển
hoạt động văn hoá-thông tin vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010”;
Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg ngày 28/3/2008 phê duyệt Quy hoạch phát
triển Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đến năm 2010.
Các đơn vị sự nghiệp ngành văn hóa, thể thao và du lịch hoạt động chủ
yếu do ngân sách Nhà nước cấp, trên cơ sở kế hoạch công tác, kế hoạch tài

cho diễn viên. Hoạt động gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của các đơn vị
sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch như:
biểu diễn nghệ thuật, thư viện, bảo tàng, chiếu phim, đào tạo nghệ sĩ, diễn
viên, vận động viên, tổ chức thi đấu thể thao và phục vụ phát triển trong
phong trào thể dục, thể thao… là những hoạt động sự nghiệp mang tính đặc
thù, định hướng theo mục tiêu phục vụ chính trị, phục vụ xã hội, nâng cao
mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân theo đường lối, chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước. Những hoạt động này mang lại nguồn thu
cho các đơn vị sự nghiệp, được các đơn vị quản lý sử dụng theo cơ chế tự chủ
tài chính nhằm giảm nhẹ gánh nặng của ngân sách và phần nào cải thiện thu
nhập của văn nghệ sĩ, vận động viên, huấn luyện viên, viên chức và người lao
động tại các đơn vị; bản chất các khoản thu này không nhằm mục đích lợi
nhuận như các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của các tổ chức kinh tế
khác. Vì vậy việc tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đơn vị sự nghiệp
thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần được xem xét lại.
3
Nhiều Trung tâm văn hoá của các tỉnh, thành phố đã được xây dựng có cơ
ngơi phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, phần lớn trang
thiết bị tại các Trung tâm văn hoá (kể cả cấp huyện, thị xã; phường, xã) sau một
thời gian sử dụng đã xuống cấp hoặc lạc hậu; không có kinh phí để sửa chữa,
thay thế, nhiều địa điểm hoạt động của một số Trung tâm văn hoá đang và sẽ bị
chuyển đổi mục đích sử dụng; nhiều thiết chế văn hoá không được cấp đủ diện
tích đất xây dựng trụ sở, khu hoạt động ngoài trời để đáp ứng những yêu cầu
hoạt động sự nghiệp hoặc thu hẹp diện tích đất hoạt động của các thiết chế văn
hoá, hoán đổi, chuyển vị trí các thiết chế văn hoá này ra xa khu vực trung tâm đô
thị, không thuận lợi cho hoạt động, do đó việc thực hiện xã hội hoá đối với các
thiết chế văn hoá gặp nhiều khó khăn và khó thực hiện.
Công tác đào tạo lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao là đào tạo theo
năng khiếu nên quy mô của các trường không lớn. Các trường nghệ thuật đào
tạo nghệ thuật đặc thù như: Múa, Xiếc, Sân khấu truyền thống, nhạc cụ dân

sách ưu đãi về tài chính như: thuế, đất, tín dụng,… để thu hút các đơn vị
thuộc các thành phần kinh tế khác ngoài Nhà nước tham gia cung cấp dịch vụ
công. Tuy nhiên kết quả vẫn còn hạn chế.
Vì vậy, để đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của xã hội và nhân
dân về số lượng và chất lượng dịch vụ công, trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thì việc đổi mới cơ chế
hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công nói chung
và các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao
và du lịch nói riêng là phù hợp với lộ trình cải cách hành chính nhà nước và
điều kiện thực tế của Việt Nam, vì vậy tôi chọn đề tài: “Đổi mới cơ chế hoạt
động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch”.
2. Mục đích của luận văn
5
Luận văn nghiên cứu thực trạng cơ chế hoạt động của các đơn vị sự
nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch, trên cơ sở đó
nhằm nghiên cứu các giải pháp, hoàn thiện, đổi mới cơ chế hoạt động để các
đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ phát triển, phát huy vai trò của mình,
ngày càng đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tạo ra hạt nhân thí điểm về đổi mới cơ chế hoạt động trong các đơn vị sự
nghiệp công lập để nhân rộng trong cả nước, không chỉ dừng lại áp dụng đối
với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch,
trong đó đi sâu vào đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp
công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ chế hoạt động của các đơn vị sự
nghiệp công lập.

- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn sẽ đóng góp một phần trong căn cứ để xây dựng cơ chế mới
cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch, để từ đó tăng cường giao quyền tự chủ đi đôi với việc
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế, tài
chính nhằm đáp ứng nhu cầu về quản lý nhà nước, đáp ứng nhu cầu xã hội
và để hoàn thành nhiệm vụ được giao của đơn vị sự nghiệp công lập trước
cơ quan quản lý nhà nước cấp trên và trước pháp luật, đồng thời là cơ sở áp
dụng cho các đơn vị hoạt động sự nghiệp trong cả nước.
Đây là lần đầu tiên một luận văn Cao học chuyên ngành Quản lý Hành
chính công đưa ra những kiến nghị sát với thực tế, phù hợp với định hướng
của Đảng và chính sách của Nhà nước về cơ chế hoạt động đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập.
6. Kết cấu luận văn
Tên luận văn: “Đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp
công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch”.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục,
nội dung luận văn gồm 03 chương:
7
Chương I: Lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc tế về đổi mới cơ chế
hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.
Chương II: Thực trạng cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công
lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Chương III: Các giải pháp nhằm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các
đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
8
Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ
ĐỔI MỚI CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ

góp (như học phí…) theo quy định của Nhà nước. Hình thức nữa là Nhà nước
tạo điều kiện, ban hành các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư để cho các thành
viên kinh tế khác trong xã hội tham gia cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
Đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công trong nền kinh tế
thị trường: Hoạt động công ích và dịch vụ công cộng:
Trong kinh tế học người ta phân biệt 2 loại hàng hóa: hàng hóa cá nhân
(private goods) và hàng hóa công cộng (public goods). Theo định nghĩa chung
nhất đã xác định trong một cuốn từ điển kinh tế có uy tín ở Anh thì “hàng hóa
công cộng là một hàng hóa hay dịch vụ không thể định giá một cách chính
xác được và do vậy mà tư nhân không thể cung cấp một cách có hiệu quả”.
Hàng hóa công cộng có 3 đặc tính: tính không kình địch trong tiêu dùng
(nonrivalness in consumtion); tính không ngăn cản; tính không vứt bỏ được.
Tính không kình địch trong tiêu dùng của một hàng hóa có nghĩa là hàng hóa
đó một khi đã được cung ứng cho một người này thì có thể được cung cấp cho
những người khác mà không phải chi phí thêm. Tính không ngăn cản có nghĩa
là không thể ngăn cản một người, dù họ không trả tiền, được hưởng hàng hóa
công cộng đó. Tính không vứt bỏ được có nghĩa là một người không thể từ
chối không tiêu dùng một hàng hóa công cộng ngay cả khi người đó không
mong muốn như vậy. Ví dụ như trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch thì
đó là sách, báo, tạp chí, phim ảnh, biểu diễn văn hóa nghệ thuật,…bảo tàng
phục vụ chính trị, giáo dục của Đảng cầm quyền. Vì lý do lợi nhuận mà trong
nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp tư nhân ít quan tâm tới sản xuất các
hàng hóa công cộng. Nhưng hàng hóa công cộng lại cần thiết phải được sản
10
xuất vì sự phát triển chung của nền kinh tế. Nghĩa là, sự phát triển của nền
kinh tế-xã hội không thể phát triển được nếu thiếu những hàng hóa công cộng.
Lý luận chung về quản lý nhà nước về kinh tế đã luận chứng rằng nhà
nước có trách nhiệm tổ chức việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cộng
cho nền kinh tế và cho xã hội bằng những phương thức khác nhau. Nói chung,
phần lớn sản xuất các hàng hóa, dịch vụ công cộng là ít mang lợi nhuận vì

ảnh, video “đen” độc hại, có tác dụng tiêu cực đối với việc giáo dục đạo đức
tinh thần của mọi người dân trong xã hội, phá hoại truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, gieo rắc lối sống xa lạ, ngược với thuần phong mỹ tục dẫn đến những
tệ nạn mà xã hội phải tốn nhiều chi phí để khắc phục. Đối với loại hàng hóa
không khuyến dụng này, Nhà nước, một mặt áp dụng các biện pháp quản lý
hành chính (ngăn cấm), mặt khác, và đây là mặt quan trọng hơn, chủ yếu hơn,
là tổ chức và định hướng nhu cầu và sự tiêu dùng của mọi người trong xã hội
bằng những sản phẩm văn hóa có chất lượng cao. Có giá trị thẩm mỹ, giá trị
văn hóa cao, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là
một lý do quan trọng khác quy định sự tất yếu có mặt của đơn vị nhà nước
trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch để sản xuất và cung cấp những
hàng hóa đó, dịch vụ văn hóa mang tính chất khuyến dụng đối với xã hội.
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ chủ yếu là
cung cấp các dịch vụ mà lĩnh vực tư nhân ít tham gia. Mục đích của hoạt động
này không phải chủ yếu tạo ra lợi nhuận, thậm chí còn chịu lỗ; đầu tư thường
lớn, thu hồi vốn chậm. Do vậy mà các đơn vị tư nhân thường không chú ý đầu
tư hoặc ít có khả năng vốn đầu tư, mà chủ yếu là Nhà nước đầu tư thành lập
các đơn vị hoạt động sự nghiệp công để thực hiện.
1.2. Kinh nghiệm quốc tế về đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập
1.2.1. Tại Trung Quốc, việc điều chỉnh và kiểm soát ở tầm vĩ mô bằng
hệ thống thuế và chính sách giá cả theo các mức khác nhau, đồng thời việc
quản lý các sản phẩm và các dịch vụ văn hóa đều là các phương thức tích cực
12
của nhà nước trong việc quản lý các công việc có liên quan đến văn hóa.
Trung Quốc thực hiện hệ thống thuế ưu đãi và chính sách giá cả đối với các
công việc có liên quan đến văn hóa.
Mức thuế kinh doanh đối với dịch vụ văn hóa là 3%, thấp hơn 5% so
với các loại hình kinh doanh khác. Một mức thuế linh động nằm giữa khoảng
6 đến 20% được áp dụng cho các công việc kinh doanh văn hóa giải trí với

thuế, tỷ lệ tự tạo được quỹ tài trợ, chi phí đầu người và hiệu quả đều có sự
hướng dẫn. Bằng cách này, lần đầu tiên Bộ Văn hóa có dữ liệu thống kê
tương đối chính xác đối với các ngành nghề chẳng hạn như ngành giải trí.
Các chính sách biếu tặng và an sinh xã hội: Các việc biếu tặng cho các
cơ quan văn hóa được Trung Quốc khuyến khích, nhưng nó vẫn có các quy
định riêng như: người đóng thuế việc biếu tặng cho các cơ quan văn hóa
thông qua các phòng ban quản lý văn hóa hoặc các tổ chức phúc lợi phi kinh
doanh công cộng và đây là những tổ chức đã được thiết lập và đã được chấp
nhận. Với những quà biếu tặng thì không được thu thuế doanh thu quá 3%,
đây là điểm đánh dấu riêng cho các cơ quan văn hóa được các cơ quan thuế
của nhà nước xác định. Những người nhận các vật biếu tặng gồm: các dàn
giao hưởng chính của nhà nước, đoàn vũ kịch bale, đoàn opera, đoàn kịch Bắc
Kinh và các nhóm biểu diễn nghệ thuật dân tộc khác; các thư viện phúc lợi
công cộng, các bảo tàng, các di tích lịch sử, các tổ chức bảo tồn di vật văn hóa
chính. Các phòng ban có liên quan đều có luật định và điều chỉnh theo quà
tặng xã hội để đảm bảo việc thực hiện các chính sách biếu tặng xã hội.
Mới đây, tháng 8/2010 tại Hà Nội, hội đàm giữa Bộ trưởng Bộ Văn hóa
Trung Quốc và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam về tình
hình xây dựng văn hóa của Trung Quốc như sau: ngày nay Trung Quốc coi
văn hóa là trụ cột, linh hồn của dân tộc. Có thời gian dài Trung Quốc chỉ coi
trọng kinh tế mà chưa coi trọng đến lĩnh vực văn hóa. Mấy chục năm mở cửa
14
hội nhập, Trung Quốc nhận thức được rằng phải coi trọng văn hóa, phải có
chính sách để tạo cho văn hóa phát triển.
Đại hội Đảng Trung Quốc lần thứ 16 đã khẳng định được 4 lĩnh vực
chủ yếu: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa.
Sự nghiệp văn hóa, thể chế văn hóa phải phủ kín thành thị và nông
thôn, không cho phép kinh tế thị trường chi phối mà chi chủ yếu từ ngân sách
nhà nước, đảm bảo quyền hưởng thụ văn hóa của nhân dân, xây dựng dịch vụ
văn hóa công cộng đồng đều từ thành thị đến nông thôn (trách nhiệm của

1.2.3 Malaysia:
Ở Malaysia, các cấp chính quyền (liên bang, bang, các đô thị tự trị và
các tổ chức) đều quan tâm đến việc phát triển văn hóa, nên phân phối một
cách cân đối các ngân sách cho phát triển văn hóa. Chính phủ tiếp tục khuyến
khích các công dân Malaysia sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật, thấm nhuần
các giá trị thẩm mỹ to lớn đặc biệt hiểu rõ giá trị và biết giữ gìn nghệ thuật,
văn hóa và di sản. Để làm giàu thêm văn hóa Malaysia, năm 1996 Chính phủ
đã chi một khoản tiền là 73.71 triệu RM cho việc làm phong phú và thúc đẩy
nghệ thuật và phát triển văn hóa ở Malaysia.
Chính phủ Malaysia tiếp tục đẩy mạnh các chương trình văn hóa, góp
phần tăng ngân sách nhà nước theo các kế hoạch 5 năm đã đề ra: kế hoạch 5
năm lần 1 (1966-1970), kế hoạch 5 năm lần 2 (1971-1975), kế hoạch 5 năm
lần 3 (1976-1980), kế hoạch 5 năm lần 4 (1981-1985), kế hoạch 5 năm lần 5
(1986-1990), kế hoạch 5 năm lần 6 (1991-1995), kế hoạch 5 năm lần 7 (1996-
2000). Bốn công viên văn hóa, với chi phí 6.7 triệu RM đã được xây dựng ở
Ipoh, Alor Setar, Kuantan và Penang.
Vào năm 1992, thư viện quốc gia Malaysia cũng được khánh thành với
trị giá 35 triệu RM. Nhà hát quốc gia với chi phí xây dựng 195 triệu RM và
phòng triển lãm nghệ thuật quốc gia với chi phí 40 triệu RM cùng được khánh
thành vào năm 1998. Cả 3 công trình này đều nằm cạnh một đại lộ với kiến
trúc đặc trưng kiểu Malaysia và đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng của thủ đô
Kuala Lumpur.
16
Thông qua Bộ Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch, chính phủ Malaysia đã
hỗ trợ về mặt tài chính cho tổ chức văn hóa, nghệ thuật ở cấp liên bang, cấp
bang và cấp hạt, các viện nghiên cứu chuyên sâu, các công ty tư nhân và các
hội thảo do chính phủ hoặc các cá nhân thành lập, tổ chức.
Những hỗ trợ về tài chính này được cung cấp để khuyến khích việc tổ
chức và thực hiện các chương trình liên quan đến văn hóa, nghệ thuật. Qua đó
tăng cường mối quan hệ hữu nghị giữa các tổ chức này để thực hiện các dự án

Ngoài ra, các cá nhân và tổ chức đóng góp các bản thảo hoặc đồ tạo tác
cũng sẽ có một tỉ lệ khấu trừ thuế nhất định. Khu vực tư nhân có đóng góp
vào việc phát triển dịch vụ thư viện cũng sẽ được miễn thuế.
Để tăng cường chất lượng các hoạt động văn hóa: các nhà văn, diễn viên,
vũ công, ca sĩ, nhạc sĩ, nhạc công, tác giả, nhà thơ trữ tình tham gia vào các
hoạt động văn hóa ở cấp quốc gia sẽ được miễn thuế đánh trên phần thu nhập
mà họ được nhận. Chính sách miễn thuế cũng dành cho sân khấu của các
nhóm nghệ thuật địa phương.
Bên cạnh các dịch vụ hỗ trợ tư vấn, hướng dẫn, chính phủ cũng cung cấp
tài chính cho các cơ quan, tổ chức văn hóa, Năm 1996, các tổ chức văn hóa
phi chính phủ đã chi tổng cộng 480.000 RM để tổ chức các hoạt động văn hóa
cho công chúng.
1.2.4. Bài học cho Việt Nam
Qua kinh nghiệm của Trung Quốc, Malaysia, Ailen, rút ra bài học cho
Việt Nam.
Thứ nhất, bài học về đánh giá tầm quan trọng hơn nữa của văn hóa
trong sự phát triển của đất nước, phải coi văn hóa là linh hồn của một dân tộc,
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế-xã hội.
Thứ hai, bài học về ban hành các văn bản luật nhằm điều chỉnh và tạo
hành lang pháp lý cho các họat động văn hóa phù hợp với tình hình mới; về
quá trình xây dựng cơ chế chính sách đặc thù cho sự ưu tiên phát triển sự
nghiệp văn hóa. Các chính sách không chỉ dựa trên các giá trị văn hóa, lịch sử
của xã hội mà các chính sách này hướng tới mà còn có sự kết hợp, nỗ lực của
các nhóm lợi ích liên quan, chính sách phải phù hợp giữa chính sách của
ngành với chính sách tổng thể của phát triển kinh tế; nghiên cứu toàn diện và
có hệ thống lý luận và thực tiễn việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
18
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại

gia đình từ Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; đồng thời chuyển giao chức
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về thông tin báo chí, xuất bản sang Bộ
Thông tin và Truyền thông.
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch
trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn
hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật.
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo
quy định tại Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
1. Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của
Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội; các dự thảo nghị quyết, nghị định của
Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật của Bộ đã được
phê duyệt và các đề án khác theo sự phân công của Chính phủ.
2. Trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát
triển dài hạn, năm năm, hàng năm; chương trình mục tiêu quốc gia, chương
20
trình hành động và các dự án, công trình quan trọng quốc gia; các dự thảo
quyết định chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể
dục, thể thao và du lịch.
3. Trình Thủ tướng Chính phủ các giải thưởng, danh hiệu vinh dự Nhà
nước thuộc lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và đu lịch; quyết định
thành lập các Hội đồng quốc gia về lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể
thao và du lịch.
4. Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của Bộ.
5. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch đã
được phê duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tuyên truyền, phổ

cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn
hoá phi vật thể ở Việt Nam.
c) Hướng dẫn hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, lễ
hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với các di tích và nhân vật lịch sử.
d) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan huy động, quản
lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá.
đ) Công nhận, trao tặng danh hiệu vinh dự đối với các nghệ nhân có
công gìn giữ, trình diễn, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể.
7. Về nghệ thuật biểu diễn:
a) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch các đơn vị sự nghiệp của
Nhà nước về nghệ thuật biểu diễn sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt;
22
b) Ban hành Quy chế hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp;
Quy chế tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn về nghệ thuật biểu diễn chuyên
nghiệp;
c) Ban hành Quy chế tổ chức hoạt động thi hoa hậu, người mẫu thời
trang, karaoke và vũ trường;
d) Hướng dẫn việc cấp thẻ hành nghề và cấp phép biểu diễn nghệ thuật
chuyên nghiệp;
đ) Quy định việc thẩm định, cấp phép, chương trình, tiết mục, vở diễn
của các tổ chức, cá nhân Việt Nam đi biểu diễn ở nước ngoài và của các tổ
chức, cá nhân nước ngoài biểu diễn tại Việt Nam;
e) Ban hành Quy chế quản lý việc sản xuất, phát hành băng đĩa ca nhạc
và vở diễn.
8. Về điện ảnh:
a) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch các đơn vị sự nghiệp của
Nhà nước về điện ánh sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
b)Quy định việc tổ chức liên hoan phim quốc gia và quốc tế, những
ngày phim nước ngoài tại Việt Nam và những ngày phim Việt Nam ở nước

a) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch mạng lưới thư viện sau
khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
b) Quy định việc hợp tác, trao đổi sách, báo, tài liệu với nước ngoài và
việc liên thông sách, báo, tài liệu giữa các thư viện;
c) Quy định điều kiện thành lập và hướng dẫn hoạt động thư viện.
12. Về quảng cáo :
Thống nhất quản lý nhà nước về quảng cáo, có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
a) Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép đặt Chi nhánh của tổ chức,
cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài;
24
b) Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các
cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động quảng cáo trên các phương tiện (trừ báo
chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm) và thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn khác theo quy định của pháp luật;
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành thông
tư liên tịch quy định về thủ tục cấp phép quảng cáo, về thanh tra, kiểm tra và
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo trên báo chí,
mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm.
13. Về văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc và tuyên truyền cổ động:
a) Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quy định nghi thức chính thức nhà
nước về đón tiếp khách quốc tế, lễ kỷ niệm, tang lễ và các nghi thức khác theo
phân công của Chính phủ;
b) Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quy hoạch về thiết chế văn hoá cơ sở
sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
c) Xây dựng và ban hành các chính sách về bảo tồn, phát huy, phát
triển các giá trị văn hoa phi vật thể của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
d) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra; giám sát việc thực hiện chính
sách văn hóa dân tộc;
đ) Ban hành Quy chế tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn văn nghệ quần
chúng, tổ chức hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá nơi công cộng;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status