MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Phần I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM
1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở các nước trên Thế
giới
1.2. Sự ra đời và hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân ở việt nam
- Thời kỳ phong kiến, thực dân trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
- Thuế thu nhập ở miền Nam Việt Nam trước 30/04/1975
- Thuế lợi tức ở miền Bắc Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945 đến năm 1990
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (năm 1991)
2. KHÁI NIỆM THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
2.1. Khái niệm thu nhập
2.2. Phân loại thu nhập
2.3. Thu nhập chịu thuế
2.4. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
2.5. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
3. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Phần II: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH
THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP CAO
1. ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ:
1.1. Người Việt Nam
1.2. Người nước ngoài
2. THU NHẬP CHỊU THUẾ, THU NHẬP KHÔNG THUỘC DIỆN CHỊU THUẾ
2.1. Thu nhập chịu thuế
d/ Trách nhiệm của các tổ chức đón tiếp, quản lý người nước ngoài xuất
cảnh.
đ/ Tách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước.
2. Thủ tục đăng ký cấp và sử dụng mã số thuế cá nhân
3.2.1. Quy định về mã số thuế
3.2.2. Kết cấu mã số thuế
3.2.3. Đăng ký mã số thuế
- Mã số thuế đối với cơ quan chi trả thu nhập
- Mã số thuế đối với cá nhân
3. Thủ tục kê khai, nộp thuế
3.1. Đối tượng kê khai thuế
3.2. Thủ tục về đăng ký nộp thuế
3.3. Nơi kê khai thuế, nộp thuế
3.4. Thủ tục kê khai, nộp thuế
3.4.1. Kê khai và nộp thuế đối với thu nhập thường xuyên
a/ Kê khai và nộp thuế thông qua cơ quan chi trả thu nhập
b/ Kê khai, nộp thuế tại cơ quan thuế
3.4.2- Kê khai, nộp thuế đối với thu nhập không thường xuyên
3.5. Thời hạn kê khai, nộp thuế
4. Thủ tục quyết toán thuế
4.1. Nguyên tắc quyết toán thuế
4.2. Các Tờ khai quyết toán thuế năm
2
4.2.1. Trường hợp cá nhân nộp thuế thông qua cơ quan chi trả`thu nhập
4.2.2. Đối với cá nhân trực tiếp nộp thuế tại cơ quan Thuế
4.3. Nội dung quyết toán thuế:
a/ Đối với người Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam
b/ Đối với người nước ngoài
7.3. Chứng từ khấu trừ thuế thu nhập (mẫu số CTT 54)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền kinh tế mở,
sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài đều tăng mạnh, đời sống
kinh tế xã hội có những bước chuyển biến đáng kể, nhưng kèm theo đó là phát
sinh chênh lệch về mức sống ngày càng rõ rệt, đã xuất hiện mâu thuẫn mới về tiền
lương giữa các đơn vị, nhất là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài. Trong bối cảnh đó, hệ thống chính sách thuế được cải cách bước 1
(năm 1990). Bên cạnh Luật Thuế lợi tức áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh
doanh, Quốc hội uỷ quyền cho Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao có vai trò tạo nguồn thu ổn định cho ngân
sách nhà nước, là công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã hội, góp phần quản lý
thu nhập dân cư và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (dưới đây gọi tắt
là thuế thu nhập cá nhân) được ban hành ngày /12/1990 và có hiệu lực thi hành
ngày /4/1991, điều chỉnh thu nhập của những người làm công ăn lương, nên đối
tượng nộp thuế không chỉ các cá nhân làm trong các cơ sở sản xuất kinh doanh
mà cả trong các đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức không kinh doanh và
không chỉ là người Việt Nam mà điều chỉnh cả đối với người nước ngoài công tác
làm việc tại Việt Nam có phát sinh thu nhập chịu thuế. Đồng thời, phương pháp
quản lý thuế TNCN chủ yếu là khấu trừ tại nguồn và quyết toán thuế năm với cá
nhân nộp thuế trực tiếp tại cơ quan thuế, nên việc quản lý thuế thu nhập cá nhân
rất phức tạp. Do vậy, mỗi công chức, viên chức thuế cần phải nắm được những
kiến thức cơ bản về thuế TNCN và các quy trình, thủ tục trong quản lý thuế
1984; các nước Đông Âu mới áp dụng như: Ru-ma-ni năm 1990, Nga năm 1991,
Ba Lan năm 1992....
Đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân và thuế
thu nhập cá nhân đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách
thuế của nhiều nước, nhất là các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều
coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt
trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội
và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng có một số nước không áp dụng
thuế TNCN như: Bahrain, Cô-oét, Brunei,...
Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, số người nộp thuế thu nhập cá nhân
khoảng 1 triệu người; năm 1939, số người nộp thuế là 5 triệu người thì đến năm
1980 số người nộp thuế này là khoảng 100 triệu người và hiện nay thuế này mang
tính đại chúng và tạo nên nguồn thu chủ yếu tại các nước phát triển. Sự cải cách
về thuế ở các nước đã cho thấy sự giảm dần về thuế suất cao nhất cũng như số
lượng thuế suất trong biểu thuế suất, nhưng mức tăng nguồn thu cho Ngân sách
nhà nước không giảm đi mà trái lại ngày càng tăng lên. Thuế thu nhập cá nhân
chiếm tỷ trọng gần 40% trong tổng thu thuế của Ngân sách Liên bang Mỹ, Tây
Ban Nha 38%, Anh 35%, Đan Mạch 50%. Các nước đang phát triển trên thế giới
số thu thuế thu nhập cá nhân ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu ngân
sách nhà nước.
1.2. Sự ra đời và hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân ở việt
nam
5
- Thời kỳ phong kiến, thực dân trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945:
Thời kỳ này, trên 90% dân số Việt Nam là nông dân. Hai sắc thuế chủ yếu đối với
người nông dân là thuế ruộng (thuế điền) và thuế thân (thuế đinh), thực chất là
thuế TNCN ra đời từ năm 1378 dưới thời nhà Trần. Thuế được áp dụng với mọi
công dân là nam giới từ 18 tuổi trở lên. Mức thuế phải nộp cho mỗi đinh là 3 quan
nộp thuế, nhưng chủ yếu các lần sửa đổi vẫn là sửa mức khởi điểm tính thuế, thuế
suất, giãn cách thu nhập chịu thuế giữa các bậc thuế của biểu thuế. Thuế TNCN
nước ta có đóng góp ngày càng tăng vào tổng số thu từ thuế cho NSNN.
Như vậy, ở Việt Nam cho đến nay chưa có Luật thuế thu nhập cá nhân như
các quốc gia khác trên thế giới, mà chỉ có Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao.
6
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành được thực hiện theo
Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/03/2004 của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao, Nghị định số 147/NĐ-CP ban hành ngày 23/7/2004 hướng dẫn
thi hành Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11 và Thông tư số 81/2004/TT-BTC
ngày 13/8/2004, Thông tư số 12/2005/TT-BTC ngày 04/02/2005 của Bộ Tài chính
sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư 81/2004/TT-BTC và Thông tư số
41/2006/TT-BTC ngày 12/5/2006 hướng dẫn thực hiện Quyết định số
161/2005/QĐ-TTg ngày 30/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng thí
điểm cơ sở sản xuất, kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế nhà đất, thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao và thuế môn bài.
2. KHÁI NIỆM THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
2.1. Khái niệm thu nhập
Hiện nay, chưa có một định nghĩa đầy đủ, tổng hợp nhất về thu nhập, trên
thế giới còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thu nhập, tuỳ theo mục
đích nghiên cứu các nhà kinh tế có những quan niệm khác nhau về thu nhập dưới
các góc độ khác nhau. Chẳng hạn:
- Lý thuyết về sự bổ sung tài sản, thường quan tâm đến sự tăng thêm về tiềm
lực kinh tế mà không quan tâm đến tính thường xuyên của thu nhập. Đại diện cho
lý thuyết này là G.Schant, coi thu nhập là khả năng kinh tế sẽ được bổ sung cho
Theo lý thuyết về sự tăng thêm tài sản thuần tuý thì thu nhập là tổng đại số
các giá trị trên thị trường của các nguồn lợi được hưởng dưới dạng tiêu dùng và
những thay đổi giá trị thuộc các nguồn sở hữu trong một khoảng thời gian nhất
định.
Trong đó, trường phái thứ hai (thu nhập theo lý thuyết về sự tăng thêm tài
sản thuần tuý) được nhiều chuyên gia kinh tế ủng hộ hơn, nhưng nó có nhược
điểm là nếu xác định thu nhập căn cứ vào thu nhập quy đổi từ tiêu dùng hàng hoá,
dịch vụ do tự sản xuất hay sở hữu tài sản thì khó thuyết phục để người nộp thuế
tuân thủ. Mặt khác, theo trường phái này cũng gây khó khăn cho cơ quan quản lý
và định kỳ phải xác định giá trị ban đầu, giá trị tăng thêm trong tổng số tài sản của
người nộp thuế.
- Về thuế, dựa vào nguyên tắc sự gia tăng giá trị phải thực sự phát sinh trước
khi nó được đưa vào tính thu nhập, mỗi nước đưa ra định nghĩa riêng trong luật
thuế thu nhập của nước mình. Có thể khái quát: Thu nhập là những khoản thu dưới
dạng tiền tệ hoặc hiện vật của tổ chức hoặc cá nhân nhận được từ các hoạt động
sản xuất kinh doanh, dịch vụ, từ lao động, từ quyền sở hữu, sử dụng tài sản, tiền
vốn mà có hoặc các khoản thu nhập khác mà xã hội dành cho.
2.2. Phân loại thu nhập
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu hay đáp ứng các yêu cầu quản lý, các
khoản thu nhập thường được phân loại dựa theo các tiêu thức chủ yếu sau đây:
nguồn tạo ra thu nhập, tính đều đặn hay không đều đặn của việc phát sinh thu nhập
của các chủ thể, phạm vi lãnh thổ phát sinh thu nhập, chủ thể được hưởng thu nhập
và tính pháp lý của thu nhập.
- Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập, có các loại:
+ Thu nhập từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ thu nhập từ hoạt động sản
xuất kinh doanh, bao gồm cả thu nhập từ những dịch vụ, hành nghề mang tính chất
độc lập của các thầy thuốc, bác sỹ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư, nha sỹ, kiểm toán
viên, ca sỹ, nghệ sỹ…
+ Thu nhập từ lao động chân tay hay trí óc là thu nhập từ tiền công, tiền
lương, tiền thưởng, thu nhập từ hiện vật hay phúc lợi nhận được do đối tượng sử
+ Thu nhập không hợp pháp là thu nhập được tạo ra từ hoạt động bất hợp
pháp nên Nhà nước không thể kiểm sóat được và do đó không được pháp luật bảo
vệ.
Việc phân loại, phân tích về nguồn gốc, tính chất của các khoản thu nhập để
có thể áp dụng cách thức tính thu nhập chịu thuế, áp thuế suất và đánh thuế phù
hợp với từng khoản. Thông thường thì thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh
được loại trừ các khoản chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập. Thu nhập không từ tài
sản, kinh doanh thì không được loại trừ khoản chi phí nào hoặc chỉ được trừ một
số khoản chi phí theo quy định (như chi phí nghề nghiệp hoặc chi phí cho những
người phải nuôi dưỡng,...).
Mặc dù có nhiều nguồn thu nhập nhưng trong thực tế không phải toàn bộ
thu nhập nêu trên đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu
nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế.
2.3. Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập làm cơ sở tính thuế thu nhập và được
xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản
chi phí nhất định.
9
Tuỳ theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung, phương pháp
xác định các khoản miễn trừ, thu nhập chịu thuế có sự khác nhau. Mức động viên
nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quan điểm và mục tiêu điều tiết đối với từng loại thu
nhập khác nhau. Do vậy, có khoản thu nhập ở quốc gia này thuộc diện tính thuế
nhưng ở quốc gia khác lại không bị tính thuế.
2.4. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
Đến nay, trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về thuế TNCN nhưng
khái niệm chung nhất: Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu
nhập của mỗi cá nhân trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường
là một năm).
3. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
Thuế thu nhập cá nhân có vai trò quan trọng sau đây:
Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân là công cụ góp phần thực hiện công bằng
xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và
những người có thu nhập thấp trong xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia.
Mặc dù về quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính
sách thuế có tính trung lập, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng trong
thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế thu nhập cá nhân với
một số chính sách xã hội. Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế luỹ tiến từng
phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế
nhiều. Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh.
Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan
trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước.
Thuế TNCN là một loại thuế có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên
cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng
không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần
phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn. Do sự ổn
định trong mức huy động thuế đã tạo ra một môi trường phù hợp với mục tiêu đầu
tư kinh tế dài hạn của quốc gia, góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất kinh
doanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận nhiều, tạo ra mức thu nhập ngày càng cao
từ đó tạo nguồn thu ngày càng tăng trưởng cho ngân sách nhà nước.
Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc
phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế ... cũng ngày càng gia
tăng. Thêm vào đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách
cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích luỹ trong nước được tăng dần và chiếm
tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước. Thuế thu nhập cá nhân
cũng sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho ngân sách nhà
nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân
nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên, nhưng khoảng cách
chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập
thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng (trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2004,
khoảng cách này đã tăng từ 3,7 lần lên đến 13,5 lần). Như vậy, việc áp dụng thuế thu
nhập cá nhân sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống
chính sách thuế và hạn chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giầu nghèo giữa các
tầng lớp dân cư; đồng thời Nhà nước sẽ nắm được thông tin về thu nhập của cá nhân.
Thông qua đó, vừa thực hiện động viên nguồn lực vừa góp phần phòng chống tham
nhũng, lãng phí.
Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân góp phần quản lý thu nhập dân cư
Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCNNN, cơ quan
Thuế có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có
những biện pháp xử lý phù hợp. Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCNNN giúp cho
Chính phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về
cơ cấu thu nhập dân cư để đề ra các chính sách kinh tế-xã hội phù hợp.
Qua thời gian thực hiện thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở Việt
Nam, bước đầu đã tạo cho mọi người dân làm quen với việc kê khai thu nhập và
nhận thức được trách nhiệm về đóng thuế thu nhập, một loại thuế phổ biến trên thế
giới và cũng là tiền đề trong quá trình hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân
ở Việt nam.
12
Phần II: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH
THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP CAO
Chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành được quy
định tại Pháp lệnh số 35/2001/PL-UBTVQH10 ngày 19/5/2001 và được sửa đổi
bổ sung một số điều tại Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004;
Nghị định số 147/2004/TT-BTC ngày 23/7/2004 quy định chi tiết thi hành Pháp
Angola,...), thì thu nhập của họ ở nước ngoài bị đánh thuế tại Việt nam, nhưng số
nộp không vượt quá số thuế phải nộp tính theo biểu thuế TNCN Việt nam.
13
1.2. Người nước ngoài:
Người nước ngoài vào Việt nam có nhiều dạng như vào du lịch, thăm quan,
khảo sát thị trường, và đầu tư thành lập công ty liên doanh... như vậy không phải
mọi người nước ngoài vào Việt nam có thu nhập chịu thuế đều thuộc đối tượng
chịu thuế TNCN. Vì vậy, pháp lệnh thuế thu nhập đưa ra khái niệm người nước
ngoài là đối tượng cư trú hoặc không cư trú tại Việt nam.
Pháp lệnh thuế TNCN quy định: “người nước ngoài được coi là cư trú tại
Việt Nam nếu ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ lần
đầu tiên đến Việt Nam; được coi là không cư trú nếu ở tại Việt Nam dưới 183
ngày.
Ví dụ1: Về xác định tiêu thức cư trú của người nước ngoài như sau:
Ông NG WEE TYE, quốc tịch singapore là trưởng văn phòng đại diện
tại Việt Nam.
Nơi thường trú: 85 Fishun street, 81#11 - 04 Singapore 768447
Số hộ chiếu:
S 1220110 I do Singapore cấp ngày 17/4/2001
Số thị thực nhập cảnh: 1343020
Số lần và ngày ra vào Việt Nam như sau:
Số lần
Cửa khẩu Ngày đến Việt Nam Ngày rời Việt Nam Số ngày cư
đến VN
xuất nhập cảnh
trú tại Việt
10
4
“
14/4/2002
17/4/2002
03
5
“
23/4/2002
28/4/2002
05
6
“
26/5/2002
28/5/2002
03
10
“
21/9/2002
26/9/2002
05
14
11
“
12/10/2002
20/10/2002
08
12
“
9/11/2002
Người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam, bao gồm:
- Cá nhân nước ngoài vào Việt nam làm việc trên cơ sở hợp đồng lao động
ký với tổ chức, cá nhân Việt nam; các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã
hội...của nước ngoài; các văn phòng đại diện, các chi nhánh công ty nước ngoài.
- Cá nhân nước ngoài có thu nhập phát sinh tại Việt nam thuộc đối tượng
nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (trừ: các khoản thu nhập từ
chuyển giao công nghệ; thu nhập về tiền bản quyền, thu nhập từ hoạt động kinh
doanh dịch vụ khác của cá nhân nước ngoài không hiện diện thương mại tại Việt
nam – là đối tượng điều chỉnh của Thông tư 05/2005/TT-BTC ngày 11/01/2005
hướng dẫn chế độ thuế áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách
pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát
sinh tại Việt Nam).
- Cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt nam hoặc có thu nhập phát sinh
tại Việt nam nhưng không có chứng từ chứng minh là cá nhân được phép hành
nghề độc lập, tương ứng với các hoạt động mang lại thu nhập phát sinh tại Việt
nam. (Chứng từ chứng minh là cá nhân được phép hành nghề độc lập bao gồm:
Giấy phép hành nghề độc lập, chứng nhận đăng ký thuế hoặc mã số thuế do nước
mà cá nhân nước ngoài là đối tượng cư trú ban hành.)
Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế, văn hoá, xã hội... của Việt Nam hoặc của nước ngoài, các văn phòng
15
đại diện, các chi nhánh công ty nước ngoài; các cá nhân hành nghề độc lập tại
Việt Nam;
II. THU NHẬP CHỊU THUẾ, THU NHẬP KHÔNG THUỘC DIỆN CHỊU THUẾ
2.1. Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế bao gồm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập
không thường xuyên.
ty Y và ông có thêm chức vụ thành viên hội đồng quản trị Công ty X, hàng tháng
16
ông được nhận khoản thù lao là 1 triệu đồng. Thu nhập 1 triệu đồng này từ tham
gia hội đồng quản trị là khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCNN.
d/ Tiền bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, tác phẩm; thu nhập về tiền
nhuận bút;
Ví dụ 4: Để thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ cho Công ty B,
Công ty A thuê một số kỹ sư lắp đặt, bảo trì thiết bị, hệ thống. Như vậy các kỹ sư
không phải là nhà cung cấp các bí quyết kỹ thuật, phương án công nghệ, quy trình
công nghệ có tính chất bí mật công nghệ. Do đó, thu nhập của các kỹ sư từ hoạt
động này không phải là thu nhập không thường xuyên từ chuyển giao công nghệ
mà là thu nhập thường xuyên chịu thuế TNCNNN.
Lưu ý: Cần phân biệt giữa thu nhập từ quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu,
tác phẩm gắn với hoạt động chuyển giao công nghệ theo Nghị định số
45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao
công nghệ thì thuộc thu nhập không thường xuyên.
đ/ Các khoản thu nhập của các cá nhân không thuộc đối tượng nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp như: thu nhập từ dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụ tin học,
dịch vụ tư vấn, thiết kế, kiến trúc, đào tạo; hoạt động biểu diễn, tổ chức biểu diễn;
quảng cáo; hoạt động thể dục thể thao; dịch vụ đại lý; thu nhập từ hoa hồng môi
giới; dịch vụ khác;
Ví dụ 5:- Ông N là đạo diễn phim hưởng lương hàng tháng tại Xưởng phim
truyện VN, trong năm có khoản thu nhập do làm đạo diễn 2 phim (một phim Hãng
phim truyệ VN, một phim ở Hãng phim trẻ) thì khoản thu nhập của ông N từ 2
phim này là khoản thu nhập thường xuyên chịu thuế.
- Giảng viênB hưởng lươnghàng tháng tại Trường đại học X, trong năm có
giảng dạy ở một số trung tâm. Khoản thu nhập của giảng viên B từ các Trung tâm
là khoản thu nhập thường xuyên chịu thuế.
Ví dụ 7: Tiền nghỉ mát hàng năm của Công ty chi cho cá nhân; tiền bồi
dưỡng hội họp,...
Tổng hợp các khoản thu nhập từ điểm a đến e nêu trên làm căn cứ xác định
thu nhập chịu thu- đó là thu nhập trước khi khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (thu
nhập trước thuế-GROSS). Trường hợp thu nhập thực nhận không bao gồm thuế
thu nhập cá nhân (thu nhập sau thuế-NET) thì phải quy đổi thành thu nhập trước
thuế (tức là thu nhập bao gồm cả thuế TNCNNN).
Ví dụ 8: Cá nhân A ký hợp đồng lao động với Công ty M, tiền lương mỗi
tháng là 6 triệu đồng, trong đó ghi rõ khoản tiền lương này là thu nhập sau thuế.
Vậy, khi tính thuế đơn vị chi trả thu nhập phải qui đổi ra thu nhập trước thuế
(công thức qui đổi tại Phụ lục Thông tư số 81/2004/TT-BTC ngày 13/7/2004 của
Bộ Tài chính) là: (6 triệu – 0,5 triệu): 0,9 = 6,111 triệu đồng. Như vậy, thuế phải
nộp mỗi tháng là 0,111 triệu đồng. Cơ quan chi trả thu nhập được hạch toán chi
phí tiền lương là 6,111 triệu đồng.
2.2.2. Thu nhập không thường xuyên
Thu nhập không thường xuyên là những khoản thu nhập không ổn định, lúc
có, lúc không, phát sinh đột xuất, bất thường. Theo quy định hiện hành, thu nhập
không thường xuyên gồm hai khoản thu nhập là: (i) Thu nhập về chuyển giao công
nghệ (trừ trường hợp biếu, tặng);(ii) Trúng thưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả
trúng thưởng khuyến mại.
a/ Thu nhập về chuyển giao công nghệ (trừ các trường hợp biếu, tặng). Nội
dung về chuyển giao công nghệ được căn cứ theo quy định hiện hành về chuyển
giao công nghệ (Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 của Chính phủ quy
định chi tiết về chuyển giao công nghệ). Nội dung về chuyển giao công nghệ, bao
gồm:
- Chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp: sáng chế, giải pháp hữu
ích, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi, xuất xứ hàng hoá, thiết kế bố trí mạch tích
18
phiếu, phát tích kê,...; phát hành xổ số cào được đặt trong các túi (gói) sản phẩm,
mua hàng hoá được doanh nghiệp tặng thưởng hàng khuyến mãi theo đúng quy
định của Nghị định số 32/1999/NĐ-CP ngày 05/5/1999 của Chính phủ về khuyến
mãi, quảng cáo thương mại và hội chợ quảng cáo thương mại đều thuộc diện phải
chịu thuế thu nhập không thường xuyên.
Đối với 2 loại thu nhập không thường xuyên này cần lưu ý: đều áp dụng
khấu trừ thuế tại nguồn mức khấu trừ 10% đối vơi trúng thưởng xổ số, 5% đối với
chuyên giao công nghệ, trong đó đối với thu nhập từ 15 triệu đồng trở lên, cơ
quan chi trả thu nhập không cấp chứng từ khấu trừ thuế thu nhập mà thực hiện
cấp biên lai thuế thu nhập; cuối năm không phải quyết toán đối với khoản thu
19
nhập này. Đối với khoản thu nhập từ 15 triệu trở xuống thì cơ quan chi trả thu
nhậpkhông phải phải khấu trừ thuế TNCNNN.
2.2. Các khoản thu nhập tạm thời chưa thu thuế
Tạm thời chưa thu thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập về lãi
tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi tiền cho vay vốn, lãi mua tín phiếu,
trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán, chênh
lệch mua bán chứng khoán.
Riêng đối với các khoản thu nhập từ quyền mua cổ phiếu không dùng tiền
mặt tại thị trường chứng khoán nước ngoài thì không được coi là thu nhập từ hoạt
động đầu tư chứng khoán, chênh lệch mua bán chứng khoán và vẫn thuộc thu
nhập thường xuyên chịu thuế TNCNNN.
2.3. Thu nhập không chịu thuế
Các khoản thu nhập không chịu thuế bao gồm: Các khoản phụ cấp do Nhà
nước Việt Nam quy định áp dụng đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam: phụ
cấp độc hại; phụ cấp khu vực (không bao gồm phụ cấp xa Tổ quốc của người nước
ngoài); phụ cấp đặc thù; phụ cấp lưu động, tiền công tác phí,...; các lợi ích được
hưởng do cơ quan chi trả thu nhập thanh toán. Các khoản thu nhập được miễn
mức lương tối thiểu.
Thông tư số 16/LĐTBXH ngày 2/6/1993 hướng dẫn thực hiện chế độ phụ
cấp thu hút quy định:
Phụ cấp thu hút: áp dụng đối với công chức viên chức đến làm việc ở những
vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt
khó khăn do chưa có cơ sở hạ tầng. Phụ cấp gồm 4 mức: 20%, 30%, 50% và 70%
tính trên lương cấp bậc, chức vụ. Thời gian hưởng từ 3 đến 5 năm.
c/ Phụ cấp đặc thù của một số ngành nghề theo quy định của Nhà nước;
Ví dụ 12:- chế độ phụ cấp đặc thù nghề đặc biết đối với công chức, viên
chức chuyên môn y tế làm việc tại các chuyên khoa: phong, lao, tâm thần, giải
phẫu bệnh lý, pháp y và phòng chống dịch, bệnhtheo Quyết định số 924/TTg ngày
13/12/1996 của Thủ tướng Chính phủ về bổ sung chế độ phụ cấp đặc thù nghề
đặc biệt đối với công chức, viên chức ngành y tế.
- Phụ cấp ưu đãi đối với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trong các
trường công lập của Nhà nước theo Quyết định số 973/QĐ-TTg ngày 17/11/1997
về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trong các
trường công lập của Nhà nước.
- Chế độ phụ cấp thanh sắc đối với diễn viên biểu diễn nghệ thuật ngành
văn hoá-thông tin theo Quyết định số 174/1999/QĐ-TTg ngày 23/8/1999 của Thủ
tướng Chính phủ; ...
d/ Phụ cấp lưu động áp dụng với một số nghề hoặc công việc phải thường
xuyên thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở;
đ/ Phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm đối với cán bộ, công chức;
Ví dụ 13: Thông tư số 03/2005/TT-BLĐTBXH ngày 05/01/2005 hướng dẫn
thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm công việc trong các công ty nhà nước quy
định rõ:
Phụ cấp trách nhiệm công việc gồm 4 mức: 0,5 (145.000 đồng); 0,3 (87.000
đồng); 0,2 (58.000 đồng); 0,1(29.000 đồng) so với mức lương tối thiểu.
Ví dụ 14: Những người được hưởng phụ cấp trách nhiệm như: thành viên
không chuyên trách Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát Tổng công ty
tác, phụ cấp công tác với mức chi từ 50.000 đồng/ngày/người đến 70.000
đồng/ngày/người, tiền thuê phòng nghỉ tại nơi đến công tác nhưng tối đa không
quá 120.000 đồng/ngày/người. Trường hợp khoán tiền công tác phí thì mức khoản
tối đa không quá 200.000 đồng/tháng/người.
2.3.3. Tiền ăn định lượng theo chế độ quy định đối với một số công việc,
một số nghề đặc biệt; bữa ăn tại chỗ, ăn trưa, ăn giữa ca (trừ trường hợp nhận bằng
tiền);
2.3.4. Các khoản trợ cấp xã hội của các đối tượng hưởng chính sách xã hội
như: thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công giúp đỡ cách mạng;
trợ cấp khó khăn đột xuất, tiền trợ cấp hoặc bồi thường tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, trợ cấp giải quyết các tệ nạn xã hội; các khoản trợ cấp khác từ ngân
sách nhà nước;
2.3.5. Tiền bồi thường bảo hiểm do tham gia bảo hiểm con người và tài
sản;
2.3.6. Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo chế độ Nhà nước quy
định.
Trường hợp cá nhân được hưởng khoản trợ cấp khi thôi việc tại một đơn vị
này để chuyển sang làm việc ở một đơn vị khác trong cùng một Công ty, Văn
phòng Công ty đa quốc gia thì không áp dụng quy định này.
22
Lưu ý: một số trường hợp người nước ngoài trước đây làm việc cho các
tập đoàn đa quốc gia ở nước ngoài sau đó nhiệm kỳ cuối làm việc tại 1 đơn vị
thành viên tại Việt Nam, khi chấm dứt hợp đồng lao động đã được tập đoàn chi
trả 1 khoản trợ cấp thôi việc hẳn tính theo thời gian lao động tính cho cả quá
trình làm việc tại tập đoàn thì chỉ có khoản trợ cấp thôi việc tương ứng với thời
gian làm việc tại Việt Nam mới không phải chịu thuế TNCN.
2.3.7. Trợ cấp điều động về cơ sở sản xuất theo quy định của Nhà nước,
bao gồm cả trợ cấp chuyển vùng một lần của người nước ngoài đến cư trú tại Việt
về thăm gia đình ở Hà Lan. Vậy, khoản chi vé máy bay mà Công ty Y trả cho cá
nhân ông David không chịu thuế TNCN, còn khoản chi vé máy bay Công ty Y trả
cho các thành viên khác trong gia đình của ông phải cộng chung vào thu nhập
của ông để tính thu nhập chịu thuế TNCN.
23
3. CĂN CỨ TÍNH SỐ THUẾ PHẢI NỘP:
Xác định số thuế TNCN phải nộp được tính căn cứ vào thu nhập chịu thuế
và thuế suất (%), tức là thuế thu nhập phải nộp = thu nhập chịu thuế nhân (x) với
thuế suất (%).
3.1. Xác định thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế là các khoản thu nhập được nêu tại điểm 2, phần II nêu
trên. Thu nhập chịu thuế được xác định bằng Đồng Việt Nam, trường hợp thu nhập
bằng ngoại tệ phải được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân
trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời
điểm phát sinh thu nhập.
a/ Xác định thu nhập thường xuyên chịu thuế
- Đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam, thu
nhập thường xuyên chịu thuế là số tiền của từng cá nhân thực nhận bình quân
tháng trong năm trên 5 triệu đồng.
Riêng đối với cá nhân là ca sỹ như diễn viên thanh nhạc biểu diễn các loại
hình nghệ thuật ca - nhạc kịch, cải lương, tuồng, chèo, dân ca; nghệ sỹ xiếc, múa;
cầu thủ bóng đá; vận động viên chuyên nghiệp có xác nhận của cơ quan quản lý
nhà nước chuyên ngành, được trừ 25% thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế.
Lưu ý:- Đối với các đối tượng là ca sỹ, nghệ sỹ ... được trừ 25% thu nhập
khi xác định thu nhập chịu thuế. Có nghĩa là việc khấu trừ 25% thu nhập khi xác
định thu nhập chịu thuế không áp dụng đối với các khoản thu nhập khác phát sinh
từ các hoạt động ngoài lĩnh vực ngành nghề nói trên của nghệ sỹ, vận động viên.
nhập phát sinh tại nước ngoài, được tính bình quân tháng trong năm trên 8 triệu
đồng.
Trong trường hợp người nước ngoài kê khai thu nhập ở nước ngoài thấp
hơn thu nhập ở Việt Nam mà không chứng minh được thì lấy thu nhập bình quân
tháng trong thời gian ở tại Việt Nam để làm căn cứ tính thuế cho thời gian ở nước
ngoài. Tháng tính thuế quy ước là 30 ngày.
- Đối với người nước ngoài được coi là không cư trú tại Việt Nam (nếu ở
tại Việt Nam dưới 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt
Nam), thu nhập chịu thuế là tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt
nơi nhận thu nhập ở Việt Nam hay ở nước ngoài.
b/ Xác định thu nhập không thường xuyên chịu thuế:
- Đối với thu nhập về chuyển giao công nghệ là khoản thu nhập có giá trị
trên 15 triệu đồng tính cho từng hợp đồng, không phân biệt số lần chi trả;
- Đối với thu nhập về trúng thưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả trúng
thưởng khuyến mại là khoản thu nhập có giá trị trên 15 triệu đồng tính cho từng
lần trúng thưởng và nhận giải thưởng
3.2. Thuế suất (%), Biểu thuế luỹ tiến từng phần:
a/ Đối với thu nhập thường xuyên:
- Biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với người Việt Nam (bao gồm công dân
Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam):
Bậc
Mức thu nhập bình quân tháng
Thuế suất (%)
1
Đến 5.000.000 đồng