Sử dụng vi điều khiển 8051 để xây dựng mạch đo và điều khiển nhiệt độ của thiết bịi - Pdf 42

LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu Đại Học Công Nghệ Thông
Tin Và Truyền Thông– Đại Học Thái Nguyên đã cho em một môi trường học tập
tốt, cũng như là tạo nhiều điều kiện thuận lợi để em có thể phát huy được khả năng của
mình.
Em xin chân thành cảm ơn đến quý Thầy/Cô, đặc biệt là quý Thầy/Cô trong bộ
môn Kĩ Thuật Máy Tính thuộc Đại Học Công Nghệ Thông Tin đã tận tình chỉ dạy
và truyền đạt những kiến thức quý báu để em có thể hoàn thành đề tài đồ án tốt
nghiệp này, đồng thời đó cũng là một hành trang đáng quý để em có thể tiếp bước
trên con đường sự nghiệp sau này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô Dương Thúy Hường là người tận
tình hướng dẫn và động viên em trong suốt thời gian em thực hiện đề tài tốt nghiệp
này.
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này cũng có sự đóng góp không nhỏ của các
bạn. Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn.
Ngoài ra em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những người thân xung quanh đã
giúp đỡ về vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành xong đồ án tốt nghiệp này.

Em xin Chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 10 tháng 06 năm 2012
Sinh viên
Vũ Đình Khải

1


LỜI CAM ĐOAN
Qua quá trình tìm hiểu và tham khảo một số ý kiến, em thấy đồ án của em hoàn
toàn không trùng lặp với các đồ án đã có tại khoa. Em xin cam đoan đề tài “Sử dụng
vi điều khiển 8051 để xây dựng mạch đo và điều khiển nhiệt độ của thiết bị ” là
không sao chép nội dung cơ bản từ các đồ án khác, hay các sản phẩm tương tự

Hình 3.1: Sơ đồ chân của LM35.....................................................................35
Hình 3.2: Hình ảnh thật của LM35..................................................................36
Hình 3.3: Trở kháng của bộ cảm biến nhiệt theo nhiệt độ..............................37
Hình 3.4: Hướng dẫn chọn loạt các cảm biến nhiệt họ LM35........................37
Hình 3.5: Sơ đồ khối cảm biến nhiệt độ..........................................................38
Hình 3.6: Sơ đồ chân của ADC0804...............................................................39
Hình 3.7: Sơ đồ kết nối ADC 0804 ở chế độ chạy tự do.................................41
Bảng 3.8: Điện áp Vref/2 liên hệ với dải Vin..................................................41
Hình 3.9: Phân chia thời gian đọc và ghi của ADC0804................................43
Hình 3.10: Sơ đồ mạch biến đổi ADC............................................................46
Hình 3.11: Sơ đồ thời gian hoạt động của ADC0804.....................................46
Hình 3.12: Sơ đồ hoạt động của chân ngắt......................................................47
Hình 3.13: Công tác điện tử C1815.................................................................48
Hình 3.14: IRF 540..........................................................................................48
Hình 3.15: Led Anot chung.............................................................................49
Hình: Giao diện chương trình Proteus.............................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................68

4


LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển của nghành vi điện tử, kỹ thuật số các hệ thống
điều khiển dần được tự động hóa. Với những kỹ thuật tiên tiến như vi xử lý, vi
mạch số, vi điều khiển… được tích hợp vào bên trong chip nên được ứng dụng
vào lĩnh vực điều khiển, thì các hệ thống điều khiển cơ khí thô sơ, với tốc độ xử
lý chậm chạp ít chính xác được thay thế bằng các hệ thống điều khiển tự động
với các lệnh chương trình đã được thiết lập trước.
Trong xã hội hiện nay nhìn chung những tai nạn cháy, nổ thường xảy ra tại
các nhà máy, xí nghiệp, các trung tâm là những tai nạn gây thiệt hại rất lớn về

do lợi ích và tính khả thi của nó. Vì thế sự hiểu biết sâu sắc về kỹ thuật số là không
thể thiếu đối với sinh viên ngành điện tử hiện nay. Nhu cầu hiểu biết về kỹ thuật số
không chỉ riêng đối với những người theo chuyên ngành điện tử mà còn đối với
những cán bộ kỹ thuật khác có sử dụng thiết bị điện tử.
1.2. Khảo sát vấn đề:
Trong nhiều lĩnh vực sản xuất công nghiệp và đời sống hiện nay, vấn đề an toàn
cháy nổ luôn được đặt lên hàng đầu, các thiết bị hoạt động liên tục trong nhiều giờ
và cũng có những thiết bị hoạt động trong nhiều ngày liền mà không tắt nên sẽ bị
nóng, độ bền giảm. Khi nhiệt độ tăng cao còn có thể gây ra cháy nổ ảnh hưởng đến
sản xuất, gây thiệt hại lớn về kinh tế . Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
trên nên em đã tiến hành nghiên cứu và “Sự dụng vi điều khiển 8051 để xây dựng
mạch đo và điều khiển nhiệt độ của thiết bị ”, với mong muốn là giải quyết được
yêu cầu trên và lấy đó làm đồ án tốt nghiệp cho mình.

6


1.3. Các vấn đề cần giải quyết của bài toán :
Bài toán thiết kế mạch hiển thị nhiệt độ và điều khiển quạt tản nhiệt cho thiết bị
điện tử đặt ra các yêu cầu sau:
-

Cảm biến nhiệt độ của thiết bị cần tản nhiệt, khi nhiệt độ tăng cao quạt sẽ

tăng tốc độ quay để tản nhiệt cho thiết bị, khi nhiệt độ giảm thì quạt cũng sẽ giảm
tốc độ quay
-

Hiển thị nhiệt độ báo chính xác.


thực tế.
Sử dụng một con IC cảm biến nhiệt (LM35) kết hợp với vi xử lý ADC0804 đưa
dữ liệu nhị phân vào vi điều khiển 89C51 , 89C51 có nhiệm vụ điều khiển việc
chuyển đổi của ADC0804 và hiển thị dữ liệu lên LED 7 thanh (nhiệt độ thiết bị điện
tử), khi nhiệt độ tăng cao, 89C51 sẽ thực hiện chương trình tăng tốc độ quay cho
quạt. 89C51 sẽ nhận ngắt và thực hiện chương trình ngắt thiết bị.
Mục đích yêu cầu của đề tài như sau:
♦ Mạch hiển thị nhiệt độ một cách chính xác .
♦ Khi nhiệt độ tăng cao quạt tản nhiệt quay nhanh hơn để tản nhiệt cho thiết bị
♦ Thực hiện tắt thiết bị khi nhiệt độ không nằm trong mức cho phép.

7


1.6 Nguyên lý đo nhiệt độ
IC đo nhiệt là một mạch tích hợp nhận tín hiệu nhiệt độ chuyển thành tín
hiệu điện dưới dạng dòng điện hay điện áp. Dựa vào đặc tính rất nhạy cảm của
các bán dẫn với nhiệt độ, tạo ra điện áp hoặc dòng điện tỉ lệ thuận với nhiệt độ
tuyệt đối. Vỡ thế để đo được giá trị nhiệt độ thỡ ta chỉ cần đo tín hiệu điện áp là
ta biết được giá trị của nhiệt độ cần đo. Sự tác động của nhiệt độ tạo ra điện tích
tự do và các lỗ trống trong các chất bán dẫn . Bằng sự đốt núng chất bỏn dẫn
trong IC đo nhiệt sẽ tạo ra sự phá vỡ các phân tử, bứt các electron thành dạng tự
do di chuyển qua vùng cấu trúc mạng tinh thể tạo ra sự xuất hiện các lỗ trống.
Làm cho tỷ lệ điện tử tự do và lỗ trống tăng lên theo qui luật hàm mũ với nhiệt
độ.
Đầu tiên LM35 sẽ cảm biến nhiệt độ, nhận tín hiệu nhiệt độ để chuyển tín
hiệu nhiệt độ thành đại lượng điện áp hay dòng điện. Cứ tăng giảm 1 oC thì điện
áp tới đầu ra của LM35 cũng sẽ tăng giảm 10mV. Dòng điện này sẽ đưa vào
chân VCC IN+ ( chân số 6) của ADC 0804 để ADC chuyển tín hiệu từ dạng tín
hiệu tương tự sang dạng tín hiệu số. Để bộ chuyển đổi nhiệt độ có thể hoạt động


CHƯƠNG II: HỌ VI ĐIỀU KHIỂN 8051
2.1. Sơ lược về vi xử lý và vi điều khiển.
2.1.1. Bộ vi điều khiển và bộ vi xử lý đa năng.
Nói đến vi xử lý là ta nói đến các bộ vi xử lý đa năng như họ Intel x86
( 8086, 80286, 80386, 80486 và Pentium ) hoặc họ Motorola 680x0 ( 68000,
68020, 68030, 68040….). Các bộ vi xử lý này không có RAM, ROM và không
có các cổng vào ra trên chip. Khi sử dụng các bộ vi xử lý đa năng thì người dùng
phải bổ sung thêm RAM, ROM và các cổng vào - ra bên ngoài.
Bus dữ liệu

CPU
Bộ vi xử lý
đa năng

RAM

ROM

I/O
Port

Timer

Cổng
COM
nối
tiếp

Bus địa chỉ

2.1.2 Ưu nhược điểm của các bộ vi điều khiển.
Các công việc được thực hiện bởi các bộ vi điều khiển thì không mới. Điều
mới là các thiết kế hiện thực với ít thành phần hơn so với các thiết kế trước đó.
Các thiết kế trước đó đòi hỏi phải vài chục hoặc vài trăm IC để hiện thực thì nay
chỉ cần một ít thành phần trong đó bao gồm bộ vi điều khiển. Số thành phần
được giảm bớt, hiệu quả trực tiếp của tính khả lập trình của các bộ vi điều khiển
và độ tích hợp cao trong công nghệ chế tạo vi mạch thường chuyển thành thời
gian phát triển ngắn hơn, giá thành sản xuất thấp hơn, công suất tiêu thụ thấp
hơn và độ tin cậy cao hơn.
Vấn đề ở đây là tốc độ. Các giải pháp dựa trên bộ vi điều khiển không bao
giờ nhanh bằng giải pháp dựa trên các thành phần rời rạc. Những tình huống đòi
hỏi phải đáp ứng thật nhanh ( cỡ n-sec) đối với các sự kiện (thường chiếm thiểu
số trong các ứng dụng) sẽ được quản lí tồi khi dựa vào các bộ vi điều khiển.
Tuy nhiên trong vài ứng dụng, đặc biệt là các ứng dụng liên quan đến con
người, các khoảng thời gian trễ tính bằng n-sec, u-sec hoặc thậm chí m-sec là
không quan trọng. Viêc giảm bớt các thành phần là một điều lợi như đã đề cập,
các thao tác trong chương trình điều khiển làm cho thiết kế có thể thay đổi bằng
cách thay đổi phần mềm. Điều này có ảnh hưởng tối thiểu đến chu kì sản xuất.
Do đó các bộ vi điều khiển có thể được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực
phục vụ cho con người, thay thế cho con người ở những nơi có điều kiện môi
trường khắc nghệt.
11


Để hiểu rõ hơn về các bộ vi xử lý nói chung cũng như các bộ điều khiển nói
riêng, trong đề tài thiết kế hệ thống đo nhiệt độ nhiều phòng sử dụng họ vi điều
khiển 8051 để lập trình và thiết kế cho hệ thống này.
2.2 Cấu trúc của chíp vi điều khiển 8051.
2.2.1 Sơ đồ khối bộ vi điều khiển và chức năng.
Ngắt ngoài

Địa chỉ/ Dữ
liệu

Hình 2.3: Sơ đồ khối bộ vi xử lý 8051

12

Cổng nối
tiếp

TXD RXD

Vào
bộ
đế
m


Chức năng các khối như sau:
* Khối xử lý trung tâm:
Đây là phần chính của bộ vi xử lý là khối xử lý trung tâm CPU(Central
Processing Unit), đây là trái tim của hệ thống nó quản lí tất cả các hoạt động của
hệ thống và thực hiện tất cả các thao tác trên dữ liệu. Hầu hết các CPU chỉ bao
gồm một tập các mạch logic thực hiện liên tục hai thao tác là: tìm nạp lệnh và
thực thi lệnh. CPU có khả năng hiểu và thực thi các lệnh dựa trên một tập các mã
nhị phân, mỗi một mã nhị phân biểu thị một thao tác đơn giản. Các lệnh này
thường là các lệnh số học, lệnh logic, các lệnh di chuyển dữ liệu hoặc các lệnh rẽ
nhánh được biểu thị bởi một tập các mã nhị phân và được gọi là tập lệnh. Khối
này có chứa các thành phần chính sau:
- Thanh ghi tích lũy (ký hiệu là A).

gọi là một chương trình hay phần mềm. Mức độ mà những công việc được thực
hiện đúng và có hiệu quả phần lớn được xác định bởi chất lượng của phần mềm,
không phải bởi sự phức tạp của CPU. Vậy thì các chương trình điều khiển CPU
trong khi làm việc đôi khi dẫn đến sai lầm, chính là do nhược điểm của người
viết chương trình.
Sau khi được reset thì CPU bắt đầu làm việc ở địa chỉ 0000h, là địa chỉ đầu
được ghi trong thanh ghi chứa chương trình PC và sau đó thanh ghi này tăng lên
1 đơn vị và chỉ đến các lệnh tiếp theo của chương trình.
* Bộ tạo dao động:
Khối xử lý trung tâm nhận trực tiếp xung nhịp từ bộ tạo dao động được lắp
thêm vào, linh kiện phụ trợ có thể là một khung dao động làm bằng tụ gốm hoặc
thạch anh. Ngoài ra còn có thể đưa một tín hiệu giữ nhịp từ bên ngoài vào. Khi
sử dụng thạch anh thì tần số tối đa của thạch anh mà chúng ta phải chú ý đến là
24MHz, thông thường chúng ta dùng thạch anh có tần số 11,0592MHz để làm
giảm thiểu tới mức tối đa những lỗi nhỏ nhất trong quá trình làm việc của nó.
* Khối điều khiển ngắt:
Chương trình đang chạy có thể dừng lại nhờ một khối logic ngắt ở bên trong.
Các nguồn ngắt có thể là do các biến cố bên ngoài, sự tràn của bộ định thời / bộ
đếm, hay cũng có thể là giao diện nối tiếp. Các ngắt đóng một vai trò quan trọng
trong việc thiết kế và thực hiện các ứng dụng của bộ vi điều khiển. Các ngắt cho
phép hệ thống đáp ứng các sự kiện theo cách không đồng bộ. Tất cả các ngắt đều
có thể được thiết lập chế độ làm việc thông qua các hai thanh ghi sau:
IE – Interupt Enable
IP – Interupt Priority

14


Chương trình xử lý một ngắt được gọi là trình phục vụ ngắt ISR hay quản lý
ngắt. ISR được thực thi nhằm đáp ứng một ngắt và trong trường hợp tổng quát

15


tính. Hiển nhiên là máy tính sử dụng đến 2/3 thời gian vào việc di chuyển dữ
liệu. Vì đa số các thao tác di chuyển dữ liệu xảy ra giữa một thanh ghi của CPU
với RAM và ROM ngoài, số đường (hay độ rộng) của bus dữ liệu rất quan trọng
đối với hiệu suất tổng thể của máy tính. Giới hạn bởi độ rộng này có dạng cổ
chai: có thể có một lượng rất lớn bộ nhớ trong hệ thống và CPU có thể có khả
năng tính toán rất lớn nhưng việc truy xuất dữ liệu-di chuyển dữ liệu giữa bộ
nhớ và CPU thông qua bus dữ liệu thường bi nghẽn như cổ chai vì độ rộng của
bus dữ liệu. Bus dữ liệu là bus hai chiều còn bus địa chỉ là bus một chiều. Các
thông tin địa chỉ luôn luôn được cung cấp bởi CPU trong khi dữ liệu di chuyển
theo cả hai hướng tùy thuộc vào thao tác được dự định là đọc hay ghi.
Bus điều khiển là một hỗn hợp các tín hiệu, mỗi tín hiệu có một vai trò riêng
trong việc điều khiển có trật tự hoạt động của hệ thống. Theo lệ thường các tín
hiệu điều khiển là các tín hiệu định thời được cung cấp bởi CPU để đồng bộ việc
di chuyển thông tin trên các bus địa chỉ và dữ liệu, mặc dù thường có ba tín hiệu
như là clock, read và write đối với việc di chuyển dữ liệu cơ bản giữa CPU và
bộ nhớ. Tên và hoạt động của các tín hiệu điều khiển phụ thuộc nhiều vào CPU
cụ thể.
* Các bộ đếm / bộ định thời (Timer/Counter):
Một bộ định thời thường được sử dụng trong các bộ vi xử lý nói chung và bộ
vi điều khiển nói riêng là một chuỗi các flipflop với mỗi flipflop là một mạch
chia hai, chuỗi này nhận một tín hiệu ngõ vào làm nguồn xung clock. Xung
clock đặt vào flipflop thứ nhất, flipflop này chia đôi tần số xung clock. Ngõ ra
của flipflop thứ nhất này sẽ trở thành nguồn xung clock cho flipflop thứ hai, và
cứ như thế…
Vi điều khiển 8051 có chứa 2 bộ đếm /bộ định thời. Chúng có thể được dùng
đếm thời gian tiến đến 16 bit hoặc dùng để định thời gian trong điều khiển, có
thể dùng để tạo bộ phát tốc độ Baud cho giao diện nối tiếp. Hai bộ định thời

thời. Chân P3.4 là ngõ vào xung clock cho bộ định thời 0, còn chân P3.5 là ngõ
vào xung clock của bộ định thời 1.
Trong các ứng dụng đếm sự kiện các thanh ghi định thời tăng mỗi khi xảy ra
chuyển trạng thái từ 1 xuống 0 ở ngõ vào T0 hoặc T1 (Tx). Ngõ vào Tx này
được lấy mẫu trong suốt thời gian S5P2 của mỗi một chu kỳ máy, vậy thì ngõ
vào sẽ ở mức cao trong một chu kỳ và mức thấp trong chu kỳ kế tiếp, số đếm
được tăng. Giá trị mới xuất hiện trong các thanh ghi định thời trong suốt thời
gian S3P1 của chu kỳ tiếp theo chu kỳ phát hiện sự chuyển trạng thái. Từ đó ta

17


thấy phải mất 2 chu kỳ máy để nhận biết sự chuyển trạng thái từ 1 xuống 0, tần
số cực đại của nguồn xung clock bên ngoài là 500KHz.

Thạch anh
On chip
Oscillator
÷12
Chân T0
hoặc chân
T1

Timer
Clock

0= Up
1= Down
C/T


SCON có địa chỉ byte là 98h, là thanh ghi được định địa chỉ từng bit, nó có chứa
các bit trạng thái và các bit điều khiển. Các bit điều khiển sẽ thiết lập chế độ hoạt
động cho port nối tiếp còn các bit trạng thái chỉ ra sự kết thúc việc thu hoặc phát
một ký tự. Các bit trạng thái được kiểm tra bởi phần mềm hoặc được lập trình để
tạo ra ngắt.
* Bộ nhớ chương trình:
Bộ nhớ chương trình thường là ROM, bộ nhớ chương trình được sử dụng để
cất giữ chương trình điều khiển hoạt động của vi điều khiển. Bộ nhớ ROM có
một đặc trưng là không bị mất đi khi bị mất điện. Chương trình được ghi vào
trên ROM là do người sản xuất ghi vào chúng ta không thể can thiệp được vào.
* Bộ nhớ số liệu:
Bộ nhớ số liệu thường là bộ nhớ RAM, bộ nhớ số liệu dùng để cất giữ các
thông tin tạm thời trong quá trình vi điều khiển làm việc. Đây là bộ nhớ truy
xuất ngẫu nhiên dung để lưu trữ chương trình trong quá trình làm việc. Nó sẽ bị
mất dữ liệu khi mất điện.
2.2.2. Tổ chức bộ nhớ của 8051.

19


Tất cả các vi điều khiển thuộc họ 8051 đều được phân chia bộ nhớ thành hai
vùng địa chỉ cho bộ nhớ dữ liệu và bộ nhớ chương trình. Sự phân chia logic giữa
bộ nhớ dữ liệu và bộ nhớ chương trình cho phép truy nhập bộ nhớ dữ liệu bằng 8
bit địa chỉ giúp cho việc lưu trữ và thao tác dữ liệu nhanh hơn. Tuy nhiên chúng
ta cũng có thể sử dụng địa chỉ bộ nhớ dữ liệu 16 bit thông qua thanh ghi DPTR.
Do đó có thể chứa được 64K=65536 ô nhớ mỗi loại.
Bộ nhớ onchip của 8051 gồm có 4 Kbyte bộ nhớ chương trình (ROM,
EPROM, EEPROM hoặc Flash tùy loại) và 128 byte bộ nhớ dữ liệu (RAM). 4
Kbyte bộ nhớ chương trình on - chip nằm trong không gian địa chỉ 64 Kbyte
dành cho bộ nhớ chương trình (thuộc dải địa chỉ từ 0x0000 đến 0x0FFF).


Dung lượng
tùy loại chip

20


Hình 2.5: Cấu trúc bộ nhớ 8051
Bộ nhớ chương trình là loại bộ nhớ chỉ cho phép đọc, không cho phép ghi.
Một số vi điều khiển được tích hợp sẵn bộ nhớ chương trình bên trong với dung
lượng khoảng 4kbyte hay 8kbyte, số còn lại phải sử dụng bộ chương trình mở
rộng mà quá trình truy nhập được thực hiện thông qua sự điều khiển bằng tín
hiệu PSEN.
Tuy nhiên vi điều khiển 8051 cho phép chúng ta sử dụng đến 64 kbyte bộ
nhớ chương trình bằng cách sử dụng cả bộ nhớ chương trình bên ngoài và bên
trong.
Bộ nhớ dữ liệu chiếm giữ vùng địa chỉ phân chia của bộ nhớ chương trình.
Dung lượng của bộ nhớ dữ liệu có thể mở rộng lên đến 64 kbyte. Trong quá
trình truy nhập bộ nhớ số liệu, CPU phát ra các tín hiệu đọc và tín hiệu viết số
liệu thông qua các chân RD và WD.
Chúng ta có thể kết hợp bộ nhớ chương trình mở rộng với bộ nhớ số liệu mở
rộng bằng cách cho hai tín hiệu RD và PSEN qua một cổng logic AND, lối ra
của cổng này sẽ tạo tín hiệu đọc cho bộ nhớ mở rộng.

Thân chương trình
( Chương trình
chính, chương trình
con, chương trình
xử lý ngắt, bảng các
hằng số….)

2 sẽ phát ra 8 bit địa chỉ cao còn cổng Port 1 sẽ phát 8 bit địa chỉ thấp. Bằng
cách này ta có thể truy nhập trực tiếp lên bộ nhớ dữ liệu ngoài với độ lớn tối đa
là 64 kbyte.
Bộ nhớ số liệu được chia ra làm 3 vùng:
- 128 byte cao
- 128 byte thấp
- Vùng dành cho các thanh ghi chức năng đặc biệt SFR
Địa chỉ của bộ nhớ số liệu trong luôn là 8 bit, và có thể quản lý được 256
byte bộ nhớ. Tuy nhiên trên thực tế cách định địa chỉ của bộ nhớ RAM trong có
thể quản lý tới 384 byte.

22


Hình 2.7: Bộ nhớ dữ liệu RAM 8501
2.2.3 Các đặc trưng nổi bật của họ 8051
Họ vi điều khiển 8051 là một chip sử lý được sử dụng khá phổ biến hiện nay,
nó có một số các đặc trưng nổi bật sau đây:
-Bộ xử lí 8 bit (với thao tác trên từng bit riêng rẽ) phù hợp cho các ứng dụng
để điều khiển.
-Không gian địa chỉ nhớ chương trình ngoài (ROM) có thể tới 64K.
-Không gian địa chỉ nhớ dữ liệu ngoài (RAM) có thể lên tới 64K.
-4K byte ROM trong.
-128 byte RAM trong.
-Mạch giao tiếp nối tiếp với 32 đường địa chỉ I/O phân biệt, hai chiều.
-Hai bộ đếm/định thời 16 bit.
-UART song công lập trình được.
-Cấu trúc 6 nguồn/5vecter ngắt với hai mức ưu tiên.

23

24


code (byte mã chương trình) khi lập trình Flash, và xuất ra các byte code khi
kiểm tra chương trình. Cần phải có các điện trở pullup bên ngoài khi thực hiện
việc kiểm tra chương trình, các điện trở này thường lấy giá trị định mức là 10000
Ôm.
+ Port 1:
Port 1 chỉ có một công dụng là xuất/nhập, các chân số 1 đến 8 trên 8051. Các
chân của port 1 được kí hiệu là P1.0, P1.1,…, P1.7 và được dùng để giao tiếp với
thiết bị bên ngoài khi có yêu cầu. Chỉ được sử dụng để giao tiếp với các thiết bị
ngoại vi mà không có chức năng nào khác nữa. Nó là một port xuất/nhập song
hướng 8 bit có các điện trở pullup bên trong. Các bộ đếm ngõ ra của port 1 có
thể kéo hoặc cung cấp 4 ngõ nhập TTL. Khi mức 1 được viết vào các chân của
port1, chúng được kéo lên cao bởi các điện trở pullup nội và có thể được dùng
như là các ngõ nhập. Nếu đóng vai trò là ngõ nhập các chân của port 1 sẽ cấp
dòng IIL do các điện trở pullup bên trong.
+ Port 2:
Là các chân từ số 21 đến 28 trên 8051, kí hiệu các chân là P2.0, P2.1, …
P2.7. Có 2 công dụng, hoặc làm nhiệm vụ xuất/ nhập hoặc là byte địa chỉ cao
của bus địa chỉ 16 bit cho các thiết kế có bộ nhớ chương trình ngoài hoặc các
thiết kế có nhiều hơn 256 byte bộ nhớ dữ liệu ngoài. Port 2 cũng có điện trở
pullup ở bên trong. Các bộ đệm ngõ ra của port 2 có thể kéo hoặc cung cấp 4
ngõ vào TTL. Khi các mức 1 được viết vào các chân của port 2 thì chúng được
dùng như các ngõ vào. Khi được dùng như các ngõ vào các chân của port 2 cũng
cung cấp dòng IIL do các điện trở trong.
+ Port 3:
Các chân số 10 đến số 17 trên 8051, kí hiệu là P3.0, P3.1…P3.7 có 2 công
dụng. Dùng làm nhiệm vụ xuất / nhập các giá trị, dữ liệu vào ra của IC và khi
không làm nhiệm vụ này thì mỗi chân của port 3 còn đảm nhiệm thêm các chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status