Nguyễn Tuân và Chữ người tử tù - Pdf 42

Tác giả
Nguyễn Tuân (1910-1987) người Hà Nội. Phong cách
nghệ thuật của Nguyễn Tuân: tài hoa, tài tử, uyên bác, độc
đáo. Tác phẩm của Nguyễn Tuân là những tờ hoa, trang văn
đích thực thể hiện tấm lòng gắn bó thiết tha với những giá
trị văn hóa cổ truyền, với nếp sống thanh cao, đầy nghệ
thuật của ông cha… Nguyễn Tuân sở trường về tuỳ bút.
Tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời (1940), Sông Đà
(1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972),…
Xuất xứ, chủ đề
- “Vang bóng một thời” có 12 truyện xuất bản năm 1940.
“Chữ người tử tù” rút trong “Vang bóng một thời”.
- Tác giả ca ngợi Huấn Cao - một nhà nho chân chính -
giàu khí phách chọc trời khuấy nước, có tài viết chữ, qua đó
khẳng định một quan niệm sống: phải biết yêu quý cái đẹp,
đồng thời phải biết coi trọng thiên lương.
Phân tích
1. Truyện “Vang bóng một thời” chưa đầy 2500 chữ
nhưng hàm chứa một dung lượng lớn. Chỉ có ba nhân vật
và ba cảnh: Quản ngục và viên thơ lại đọc công văn và nói
về tử tù Huấn Cao; Huấn Cao bị giải đến và sự biệt đãi của
ngục quan đối với tử tù; cảnh Huấn Cao cho chữ trong nhà
ngục. Cảnh nào cũng hội tụ cả ba nhân vật này.
2. Thơ lại: kẻ giúp việc giấy tờ cho ngục quan. Một con
người sắc sảo và có tâm điền tốt. Mới đọc công văn và nghe
ngục quan nói về Huấn Cao, y đã biểu lộ lòng khâm phục:
“thế ra y văn võ đều có tài cả, chà chà!”. Sau đó lại bày tỏ
lòng thương tiếc: “… phải chém những người như vậy, tôi
nghĩ mà thấy thương tiếc”. Sau nhiều lần thăm dò, thử
thách, ngục quan đánh giá viên thơ lại: “Có lẽ lão bát này
cũng là một người khá đây. Có lẽ hắn cũng như mình, chọn

thánh hiền” suốt đời chỉ ao ước một điều là “có một ngày
kia treo ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao
viết”. Ngục quan đang sống trong bi kịch: y tâm phục Huấn
Cao là một người chọc trời khuấy nước nhưng lại tự ti “cái
thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”. Viên quản ngục khổ
tâm nhất là “có một ông Huấn Cao trong tay mình, không
biết làm thế nào mà xin được chữ”. Là quản ngục nhưng
lại không can đảm giáp mặt tử tù vì y cảm thấy Huấn Cao
“cách xa y nhiều quá?”. Tử tù thì ung dung, trái lại, ngục
quan lại lo “mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà chưa
xin được mấy chữ thì ân hận suốt đời”. Bi kịch ấy cho thấy
tính cách quản ngục là một con người biết phục khí tiết,
biết quý trọng người tài và rất yêu cái đẹp. Y yêu chữ Huấn
Cao, chứng tỏ y có một sở thích cao quý. Vì thế khi nghe
viên thơ lại nói lên ước nguyện của ngục quan, Huấn Cao
cảm động nói: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của
các người. Nào ta biết đâu một người như thầy quản đây
mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa,
ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Như vậy, trong vị
thế xã hội, ngục quan và tử tù là đối địch, còn trên lĩnh vực
nghệ thuật, họ là tri âm. Huấn Cao đã tri ngộ một kẻ biệt
nhỡn liên tài là ngục quan.
- Trong cảnh cho chữ có một hình ảnh kỳ diệu: “ánh
sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba đầu người
đang chăm chú trên một tấm lục bạch còn nguyên vẹn lần
hồ”. Ánh sáng bó đuốc ấy chính là ánh sáng của thiên
lương mà tử tù đang chiếu lên và lay tỉnh ngục quan. Chi
tiết ngục quan “khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh
dấu cô chữ đặt trên phiến lục óng”, chi tiết ngục quan vái
tử tù một vái, nước mắt rỉ vào kẽ miệng nghẹn ngào nói:

để giới thiệu nhân vật, tạo ra sự cuốn hút nghệ thuật kì
diệu.
b - Là một nhà nho kiệt hiệt dám chọc trời khuấy nước.
Chí lớn không thành mà vẫn hiên ngang. Chết chém cũng
chẳng sợ. Một tinh thần gang thép “vô úy” bất khuất. Một
cái “rỗ gông” trước của ngục. Một câu miệt thị ngục quan:
“Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều: Là nhà
ngươi đừng tới quấy rầy ta”. Không phải ai cũng có cái
gan dám thách thức cường quyền bạo lực thế đâu?
c - Coi khinh vàng ngọc. Không vì vàng ngọc, vì quyền
uy mà “ép mình viết bao giờ?”. Chữ thì quý thật? Nhất
sinh ông mới viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường
tặng ba người bạn thân. Không chỉ đẹp ở nét chữ, mà mỗi
chữ, mỗi bức thư họa của Huấn Cao là một bức châm, thể
hiện một lý tưởng tung hoành, một hoài bão, một đạo lý cao
đẹp. Chữ của Huấn Cao cho thấy cái tài, cái tầm nhìn của
kẻ sĩ chân chính mà ta ngưỡng mộ và kính phục.
d - Với Huấn Cao thì thiên lương là ngọn lửa, là “ánh
sáng đỏ rực” như ngọn đuốc kia. Nếu ngục quan tâm phục
con người nghĩa khí, tài hoa thì Huấn Cao lại nể trọng con
người biệt nhỡn liên tài. Suốt đời ông chỉ “cúi đầu vái lạy
hoa mai” thế mà khi nghe viên thơ lại nói lên tâm sự của
chủ mình muốn “xin chữ”, Huấn Cao đã ân hận nói:
“Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”.
Cảnh “cho chữ” được miêu tả bằng bút pháp lãng mạn gợi
lên một không khí thiêng liêng bi tráng. Phóng giam ẩm ướt
bẩn thỉu, hôi hám. Lửa đuốc sáng rực. Tấm lụa trắng. Chậu
mực thơm lắm. Ba cái đầu cúi xuống tấm lụa trắng. Huấn
Cao hiện ra với vẻ uy nghi, hào hùng. Cổ đeo gông, chân
vướng xiềng, Huấn Cao vung bút viết. “Những nét chữ

đều hướng về cái tài, cái đẹp, cái thiên lương. Nguyễn Tuân
đã sử dụng một loạt từ Hán Việt rất đắt (pháp trường, tử tù,
tử hình, nhất sinh, bộ tứ bình, bức trung đường, lạc khoản,
thiên hạ, thiên lương, lương thiện, v.v…) tạo nên màu sắc
lịch sử, cổ kính và bi tráng. Đúng Nguyễn Tuân là bậc thầy
về ngôn ngữ, rất lịch lãm uyên bác về lịch sử, về xã hội.
Hai câu văn: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng
trong thiên hạ”, và: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” - đẹp
như những bức châm trong các thư họa nghìn xưa lưu lại
trong các viện bảo tàng mĩ thuật. Cũng là bài học làm
người sáng giá!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status