Tác giả Nguyễn Tuân và truyện ngắn
" Chữ người tử tù" I- Tác giả
Sơ lược tiểu sử
Nguyễn Tuân quê ở xã Nhân Mục (tên nôm là Mọc), thôn Thượng Đình, nay
thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sinh trưởng trong một gia
đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.
Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp Trung học
cơ sở hiện nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên
Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới
không có giấy phép
[1]
. Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn.
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ
năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một
thời, Một chuyến đi Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì gặp gỡ,
tiếp xúc với những người hoạt động chính trị.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham
gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới.
Từ 1948 đến 1958, ông giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam.
Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập bút ký Sông
Đà (1960), một số tập ký chống Mỹ (1965-1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và
hương vị đất nước.
Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào năm 1987, để lại một sự nghiệp văn học
phong phú với những trang viết độc đáo và tài hoa. Năm 1996 ông được nhà nước
Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).
Vài nét tính cách
Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân
tộc. Ông yêu tha thiếttiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị
khứ còn "vang bóng một thời". Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong
tục đẹp, những thú tiêu daohưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện
thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thua
cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao Chữ người tử
tù).
Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc. Ở những tác phẩm này,
người ta thường thấy có một nhân vật "tôi" hoang mang bế tắc. Trong tình trạng
khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm
tục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua).
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ
cuộc chiến đấu củadân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên
cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc
đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy
nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và
sản xuất.
[sửa] Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc.
Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu
tóm trong một chữ "ngông"
Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ
tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dù chỉ là cái ăn cái uống, cũng được
quan sát chủ yếu ở phương diện văn hoá, mĩ thuật.
Trước Cách mạng tháng Tám, Ông đi tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót
lại và ông gọi làVang bóng một thời. Sau Cách mạng, ông không đối lập giữa quá
khứ, hiện tại và tương lai. Văn Nguyễn Tuân thì bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ
kính, vừa trẻ trung hiện đại
Nguyễn Tuân học theo "chủ nghĩa xê dịch". Vì thế ông là nhà văn của những
tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh
tuyệt mĩ, của gió, bão, núi caorừng thiêng, thác ghềnh dữ dội
Nguyễn Tuân cũng là một con người yêu thiên nhiên tha thiết. Ông có nhiều
Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972)
Ký (1976)
Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập I: 1981, tập II: 1982)
Yêu ngôn (2000, sau khi mất)
Kết luận
Có người nói, Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa về người sĩ. Đối với ông, văn
chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật, và đã là
nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo. Nhưng Nguyễn Tuân, xét từ bản chất,
không phải là người theo chủ nghĩ hình thức. Tài phải đi đôi với tâm. Ấy là "thiên
lương"
[3]
trong sạch, là lòng yêu nước thiết tha, là nhân cách cứng cỏi trước uy quyền
phi nghĩa và đồng tiền phàm tục.
Người đọc mến Nguyễn Tuân về tài, nhưng còn trọng ông về nhân cách ấy nữa.
Văn Nguyễn Tuân, tuy thế, không phải ai cũng ưa thích. Vả lại một số bài viết của
ông cũng có nhược điểm: mạch văn quá phóng túng theo lối tùy hứng, khó theo dõi;
nhiều đoạn tham phô bày kiến thức và tư liệu khiến người đọc cảm thấy nặng nề
II- Tác phẩm " Chữ người tử tù"
Đoạn văn tả cảnh HC cho chữ viên quản ngục là đoạn văn kết tinh tư tưởng,
chủ đề của tác phẩm, cũng là chỗ tập trung tinh hoa trong bút lực Nguyễn Tuân.
Cảnh cho chữ được tác giả gọi là ''một cảnh tượng xưa nay chưa từng có''. Mà
đúng là chưa từng có thật. Bởi vì từ trước đến giờ, việc cho chữ, vốn là 1 hình thức
của nghệ thuật viết thư pháp tao nhả và có phần đài các thường chỉ diễn ra trong thư
phòng, thư sảnh, thế nhưng ở đây nó lại được diễn ra nơi ngục tối chật hẹp, bần thỉu,
hôi hám ''tường gián''. Không chỉ thế, người cho chữ lại là 1 người tù cổ đeo gông,
chân vướng xiềng .Và với bút pháp tương phản bậc thầy NT đã làm bật lên sự đối lập
về nhiều mặt. Trong bối cảnh chật hẹp của nhà tù vẫn có bó đuốc cháy đỏ rực thể hiện
chí hướng cao cả của những con người, trong cái mùi hôi của không gian lại có mùi
thơm của mực, đặc biệt là sâu trong trái tim của con người tưởng như là độc ác, tàn
nhẫn đó lại là ''một tấm lòng trong thiên hạ''.
Đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối. Đấy là sự chiến thắng của cái
đẹp, cái cao thượng, đối với sự phàm tục nhơ bẩn, cũng là sự chiến thắng của tinh thần
bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ. Sự hòa hợp giữa Mỹ và Dũng trong hình tượng
Huấn Cao là đỉnh cao nhân cách theo lí tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân, theo triết lí
“duy mĩ” của Nguyễn Tuân
Đoạn truyện ông Huấn Cao cho chữ là đoạn văn hay nhất trong truyện ngắn
“Chữ người tử tù”. Bút pháp điêu luyện, sắc sảo trong việc tạo dựng hình tượng nhân
vât chi tiết nào cũng gợi cảm, gây ấn tượng. Ngôn ngữ của Nguyễn Tuân góc cạnh,
sáng tạo và giàu tình cảm, cảm xúc dã mang người đọc đến với một không khí cổ kính
trang nghiêm đầy xúc động, có phần bi tráng- một khung cảnh cổ xưa.
*********************************************************************
***************
Phân tích tác phẩm " Chữ người tử tù"
GỢI Ý
Nguyễn Tuân (1910-1987) người Hà Nội. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Tuân: tài hoa, tài tử, uyên bác, độc đáo. Tác phẩm của Nguyễn Tuân là những tờ hoa,
trang văn đích thực thể hiện tấm lòng gắn bó thiết tha với những giá trị văn hóa cổ
truyền, với nếp sống thanh cao, đầy nghệ thuật của ông cha… Nguyễn Tuân sở trường
về tuỳ bút.
- Tác giả ca ngợi Huấn Cao - một nhà nho chân chính - giàu khí phách chọc
trời khuấy nước, có tài viết chữ, qua đó khẳng định một quan niệm sống: phải biết yêu
quý cái đẹp, đồng thời phải biết coi trọng thiên lương.
1. Truyện “Vang bóng một thời” chưa đầy 2500 chữ nhưng hàm chứa một dung
lượng lớn. Chỉ có ba nhân vật và ba cảnh: Quản ngục và viên thơ lại đọc công văn và
nói về tử tù Huấn Cao; Huấn Cao bị giải đến và sự biệt đãi của ngục quan đối với tử
tù; cảnh Huấn Cao cho chữ trong nhà ngục. Cảnh nào cũng hội tụ cả ba nhân vật này.
2. Thơ lại: kẻ giúp việc giấy tờ cho ngục quan. Một con người sắc sảo và có
cảm thấy Huấn Cao “cách xa y nhiều quá?”. Tử tù thì ung dung, trái lại, ngục quan lại
lo “mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà chưa xin được mấy chữ thì ân hận suốt
đời”. Bi kịch ấy cho thấy tính cách quản ngục là một con người biết phục khí tiết, biết
quý trọng người tài và rất yêu cái đẹp. Y yêu chữ Huấn Cao, chứng tỏ y có một sở
thích cao quý. Vì thế khi nghe viên thơ lại nói lên ước nguyện của ngục quan, Huấn
Cao cảm động nói: “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta biết
đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu
chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Như vậy, trong vị thế xã hội, ngục
quan và tử tù là đối địch, còn trên lĩnh vực nghệ thuật, họ là tri âm. Huấn Cao đã tri
ngộ một kẻ biệt nhỡn liên tài là ngục quan.
- Trong cảnh cho chữ có một hình ảnh kỳ diệu: “ánh sáng đỏ rực của một bó
đuốc tẩm dầu rọi lên ba đầu người đang chăm chú trên một tấm lục bạch còn nguyên
vẹn lần hồ”. Ánh sáng bó đuốc ấy chính là ánh sáng của thiên lương mà tử tù đang
chiếu lên và lay tỉnh ngục quan. Chi tiết ngục quan “khúm núm cất những đồng tiền
kẽm đánh dấu cô chữ đặt trên phiến lục óng”, chi tiết ngục quan vái tử tù một vái,
nước mắt rỉ vào kẽ miệng nghẹn ngào nói: “kẻ mê muội này xin bái lĩnh” là những chi
tiết thú vị. Lúc sở thích nghệ thuật đã mãn nguyện cũng là lúc ánh sáng thiên lương
soi tỏ, chiếu rọi tâm hồn. Một cái vái lạy đầy nhân cách, hiếm có.
- Có thể, sau khi Huấn Cao bị giải vào Kinh thụ hình thì cũng là lúc ngục quan
trả áo mũ, “tìm về nhà quê mà ở” để giữ lấy thiên lương cho lành vững và thực hiện
cái sở thích chơi chữ bấy nay? Nguyễn Tuân đã xây dựng ngục quan bằng nhiều nét
vẽ có thần. Ngoại hình thì “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu”. Một con người ưa
sống bằng nội tâm; cái đêm hôm trước đón nhận tử tù, ông sống trong trạng thái thanh
thản, gương mặt ông ta “là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”. Trong
một xã hội phong kiến suy tàn, chốn quan trường đầy rẫy kẻ bất lương vô đạo, nhân
vật ngục quan đúng là một con người vang bóng. Nhân vật này đã thể hiện sâu sắc chủ
đề tác phẩm.
4. Huấn Cao: là nhân vật bi tráng, cao đẹp mang màu sắc lãng mạn.
a - Lúc đầu được giới thiệu gián tiếp qua một tiếng đồn: “cái người mà vùng
tỉnh ta vẫn khen…”, “nhiều người nhấc nhỏm đến cái danh đó luôn…”, “một tên tù có
viên quản ngục đứng thẳng người dậy”. Một lời khuyên: “Ta khuyên thầy quản nên
thay chỗ ở đi… thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi
chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái
đời lương thiện đi”. Với Huấn Cao thì thiên lương là cái gốc của đạo lý, có giữ được
thiên lương mới biết quý trọng tài năng và cái đẹp ở đời.
] Ở con người Huấn Cao, từ cử chỉ, hành động đến ngông ngữ, từ nét chữ đến
phong thái - đều toát ra một vẻ đẹp vừa phi thường, vừa bình dị, vừa anh hùng, vừa
nghệ sĩ, bên cạnh cái hùng có cái bi, tính vốn khoảnh mà lại trân trọng kẻ biệt nhỡn
liên tài, coi thường vàng bạc quyền uy mà lại đề cao tình bằng hữu, đến chết vẫn nghĩa
khí và giữ trọn thiên lương. Nguyễn Tuân đã dàn cảnh, tả người và kể chuyện, sử
dụng những ẩn dụ so sánh, những tình tiết đan chéo, ràng buộc vào nhau, tạo nên một
không gian nghệ thuật cổ kính, bi tráng nâng nhân vật Huấn Cao lên một tầm vóc lịch
sử. Văn học lãng mạn thời tiền chiến chỉ có một Huấn Cao đẹp hào hùng như vậy.
Đọc “Chữ người tử tù” ta càng thấm thía điều mà Vũ Ngọc Phan đã nói: “…
văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức”. Nghệ thuật kể
chuyện, cấu trúc tình tiết, lời độc thoại và đối thoại, khắc họa tính cách nhân vật…
hầu như không có một chi tiết nào thừa. Ba nhân vật cùng đồng thời xuất hiện. Cảnh
cho chữ là cao trào, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Tất cả đều hướng về cái
tài, cái đẹp, cái thiên lương. Nguyễn Tuân đã sử dụng một loạt từ Hán Việt rất đắt
(pháp trường, tử tù, tử hình, nhất sinh, bộ tứ bình, bức trung đường, lạc khoản, thiên
hạ, thiên lương, lương thiện, v.v…) tạo nên màu sắc lịch sử, cổ kính và bi tráng. Đúng
Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ, rất lịch lãm uyên bác về lịch sử, về xã hội.
Hai câu văn: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”, và: “Kẻ
mê muội này xin bái lĩnh” - đẹp như những bức châm trong các thư họa nghìn xưa lưu
lại trong các viện bảo tàng mĩ thuật. Cũng là bài học làm người sáng giá!