LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ
rõ nguồn gốc. Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề
tài này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương
nơi thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Đào Thị Vân
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp ngoài sự nố lực của bản thân, tôi
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm chia sẻ giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể,
cá nhân trong và ngoài Trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, vậy nên:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, các cô trong Khoa
Kinh Tế và Phát triển nông thôn, Trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam;
đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, những
thầy cô đã giúp tôi hoàn thiện kiến thức ở Đại học cùng với nhiều kỹ năng trải
nghiệm trong cuộc sống và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
khóa luận này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến GS.TS Nguyễn
Văn Song – Phó trưởng khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, người đã dành
nhiều thời gian tâm huyết và tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành các cô, các bác, các chú, anh chị
thiết bị lẫn nhân lực nên tỷ lệ thu gom và xử lý vẫn chưa đạt yêu cầu, do đó
mà chất lượng môi trường của thị trấn vẫn đang xuống cấp trầm trọng. Để góp
phần làm rõ vấn đề trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mức
sẵn lòng chi trả cho thu gom và xử lý chất thải rắn của hộ nông dân ở thị
trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”.
Đề tài tập trung nghiên cứu: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về
mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc thu gom và xử lý chất thải rắn;
Đánh giá thực trạng môi trường và thu gom, xử lý chất thải rắn và xác định
mức sẵn lòng chi trả của người dân trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ trong thời gian
qua; Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sẵn lòng chi trả của người dân
đối với việc thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ; - Đề
iii
xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và thu hút khả năng chi trả cho việc
thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ.
Về cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài thực hiện hệ thống cơ sở lý luận về
môi trường, xử lý và quản lý chất thải rắn, nghiên cứ về mức sẵn lòng chi trả,
các yếu tố ảnh hưởng, chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt, ảnh hưởng của
chất thải rắn đến môi trường, con người. Đề tài cũng đã nghiên cứu cơ sở thực
tiễn về tình hình quản lý và xử lý rác thải ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Trên cơ sở tìm hiểu địa bàn thị trấn Tứ Kỳ - Huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải
Dương bao gồm: điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế-xã hội, an
ninh quốc phòng, tôi đã đưa ra phương pháp nghiên cứu tại địa bàn. Phương
pháp nghiên cứu bao gồm: Khung phân tích, phương pháp xử lý số liệu, hệ
thống chỉ tiêu phân tích.
Về kết quả nghiên cứu và thảo luận, đề tài tìm hiểu thực trạng môi
trường tại thị trấn và tình hình thu gom, quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nơi
đây. Hiện nay lượng rác khu vực là rất lớn, Việc thu gom và xử lý không triệt
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Hiện nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc của mỗi
quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong những năm qua, tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam diễn ra một cách mạnh mẽ, với sự hình
thành và phát triển của các ngành sản xuất, sự gia tăng tiêu dùng hàng hóa,
nguyên vật liệu… đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của
đất nước. Bên cạnh đó, thách thức về môi trường như phế thải , rác thải…
cũng rất lớn gây ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người như gây ô nhiễm
môi trường, làm giảm sức khoẻ con người, gây bệnh tật, làm mất cảnh quan
khu đô thị khu dân cư. Sự biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác
động tới hệ sinh thái. Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là những nhiệm
vụ trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia đặc biệt các quốc gia đang phát
triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
Bảo vệ môi trường sinh thái vừa là mục tiêu vừa là nội dung cơ bản
của phát triển bền vững. Các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các khu
công nghiệp mở rộng, dân số gia tăng làm phát sinh một lượng lớn chất thải ra
ngoài môi trường.Các chất thải đưa ra môi trường có thể phân hủy một cách
nhanh chóng, nhưng cũng có những chất có khi tới hàng triệu năm mới có khả
năng phân hủy. Các chất thải khó phân hủy gây nguy hại cho môi trường là
các chất thải rắn (CTR). CTR bao gồm có rất nhiều loại khác nhau: CTR sinh
hoạt, CTR công nghiệp, CTR y tế… Nước ta là một trong những nước có mật
độ dân số cao nhất thế giới, với dân số đứng thứ 3 Đông Nam Á và đứng thứ
14 trên thế giới ( báo cáo tình hình dân số năm 2010). Đồng hành sự gia tăng
dân số là những đòi hỏi, yêu cầu về đáp ứng nhu cầu về nhà ở, sinh hoạt,… do
đó làm lượng CTR từ sinh hoạt thải ra ngày càng nhiều làm gia tăng sức ép
với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Công tác thu gom CTRSH mặc
1
2
iii. Những nhân tố nào tác động tới mức sẵn sàng trả của họ?
Chính vì vậy, nhằm hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường do rác thải tại
khu vực Tứ Kỳ chúng ta phải có cách nhìn nhận đánh giá nghiêm túc vấn đề ô
nhiễm tại khu vực này trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để cải thiện môi
trường tại khu vực nghiên cứu. Để góp phần làm rõ vấn đề trên, tôi lựa chọn
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho thu gom và xử lý
chất thải rắn của hộ nông dân ở thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho thu gom và xử lý chất
thải rắn ở thị trấn Tứ Kỳ trong thời gian qua, từ đó đề xuất giải pháp nhằm
đẩy mạnh hiệu quả thu hút người dân về khả năng chi trả cho thu gom và xử
lý chất thải rắn trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
-Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả của
người dân cho việc thu gom và xử lý chất thải rắn;
-Đánh giá thực trạng môi trường và thu gom, xử lý chất thải rắn và xác
định mức sẵn lòng chi trả của người dân trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ trong thời
gian qua;
- Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sẵn lòng chi trả của người
dân đối với việc thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và thu hút khả năng chi trả
cho việc thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Tứ Kỳ;
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Lý luận về môi trường và ô nhiễm môi trường
2.1.1.1 Khái niệm về môi trường
a. Khái niệm môi trường
Có rất nhiều quan điểm đưa ra các khái niệm về môi trường được đưa
ra như sau:
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh
có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và
sinh vật (khoản 1, điều 3 Luật BVMT Việt Nam, 2005).
Nhà bác học vĩ đại Anhstanh cho rằng: “ Môi trường là tất cả những gì
ngoài tôi ra” .
Các tác giả của Trung Quốc, Lương Từ Dung cho rằng: “Môi trường là
hoàn cảnh sống của sinh vật, kể cả con người, mà sinh vật và con người đó
không thể tách riêng ra khỏi điều kiện sống của nó” .
Tác giả Joe Whiteney, 1993, định nghĩa môi trường đơn giản hơn:
“Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể, có liên quan mậtt thiết và có
ảnhh hưởng tới sự tồn tại của con người như: đất, nước, không khí, ánh sáng
mặt trời, rừng, biển, tầng ozone, sự đa dạng của các loài”.
Theo từ điển bách khoa Larouse, khái niệm môi trường được mở rộng
hơn: “Môi trường là tấtt cả những gì bao quanh sinh vật. Nói cụ thể hơn, đó là
các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo diễn ra trong không gian cụ thể, nơi đó
có sự sống hoặc không có sự sống. Các yếu tố đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của
những định luật vật lý mang tính tổng quát học chi tiết như luật hấp dẫn vũ
trụ, năng lượng phản xạ, bảo tồn vật chất,... Trong đó hiện tượng hóa học và
sinh học là những đặc thù cục bộ. Môi trường bao gồm tất cả các nhân tố tác
động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh vật và quần xã sinh vật” .
5
Masn và Langenhim, 1957, cho rằng: “Môi trường là tổng hợp các yếu
dạng khí, rắn, lỏng. Chất thải rắn còn được gọi là rác. Chỗ nào càng tập trung
nhiều sinh vật, con người thì chỗ đó càng có nhiều chất thải.
b. Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Nghị định số 59/2007/NĐ-CP
ngày 09 tháng 04 năm 2007 về Quản lý chất thải rắn).
Chất thải rắn là tất cả các chất thải, phát sinh từ các hoạt động của con
người và động vật , thường ở dạng rắn và bị đổ bỏ vì không thể trực tiếp sử
dụng lại được hoặc không được mong muốn nữa (Tchobanoglous et al.,
1993).
Rác thải sinh hoạt là chất thải có liên quan đến hoạt động sống củacon
người, nguồn tạo ra chủ yếu là từ khu dân cư, các cơ quan, trường học, các
trung tâm dịch vụ, thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao
gồm: kim loại, sỏi đá, thủy tinh, gạch ngói vỡ, giấy vụn, thực phẩm dư thừa,
tre gỗ…
c. Phân loại và nguồn gốc phát sinh
Các loại chất rắn được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân
loại theo các cách khác nhau.
1.Theo vị trí hình thành: Người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong
nhà, ngoài nhà, trên đường phố,…
2.Theo thành phần hóa học, vật lý: Người ta phân biệt theo các thành
phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được,…
3.Theo bản chất nguồn tạo thành – chất thải rắn được phân thành các
loại:
+ Chất thải rắn sinh hoạt: Là những chất thải liên quan tới các hoạt động của
con người, nguồn tạo thành chủ yếu ở các khu dân cư, các cơ quan trường
học, trung tâm dịch vụ. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim
loại, sành sứ, thủy tinh, chất dẻo, thực phẩm dư thừa, lông gà, lông vịt… Theo
Mục tiêu của xử lý chất thải là giảm hoặc loại bỏ các thành phần không
8
mong muốn trong chất thải như các chất độc hại, không hợp vệ sinh, tận dụng
vật liệu và năng lượng trong chất thải.
2.1.3.2 Khái niệm và nội dung công tác quản lý chất thải
Quản lý chất thải là các hoạt động phân loại rác, thu gom, vận chuyển,
tái sản xuất – tái chế và xử lý tiêu hủy. Mỗi một công đoạn đều có vai trò
quan trọng, có tính quyết định đối với việc tạo lập một hệ thống quản lý chất
thải hiệu quả nhằm giảm thiểu các rủi ro đối với môi trường và sức khỏe con
người.
Quản lý chất thải rắn là vấn đề then chốt của việc đảm bảo mmoi
trường sống của con người mà các địa phương phải có kế hoạch tổng thể quả
lý chất thải rắn thích hợp mới có thể xử lý kịp thời và có hiệu quả.
2.1.4 Phương pháp xử lý rác thải chủ yếu
2.1.4.1 Phương pháp chôn lấp
Nếu chôn lấp mà không được kiểm soát, chất thải rắn cũng sẽ gây ra
nhiều nguy cơ khác đối với sức khoẻ cộng đồng và đối với môi trường. Vì
công nghệ tương đối đơn giản khá linh hoạt, chôn lấp hợp vệ sinh có nghĩa là
chôn lấp chất thải rắn khó kiểm soát, được xem là phương pháp quản lý việc
thải bỏ chất thải rất phù hợp đối với các nước đang phát triển. Chôn lấp hợp
vệ sinh giúp hạn chế sự tiếp xúc của con người và môi trường với các ảnh
hưởng có hại của chất thải rắn bị đổ bỏ trên mặt đất.Thông qua chôn lấp hợp
vệ sinh, chất thải được tập trung vào 1 khu vực được thiết kế cẩn thận sao cho
sự tiếp xúc giữa chất thải và môi trường giảm đáng kể.
2.1.4.2 Phương pháp Đốt
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng cho một số loại rác không thể xử lý
bằng các phương pháp khác. Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao với
+ Vận hành đơn giản
Về nhược điểm:
+ Mức độ tự động hóa của công nghệ chưa cao.
+ Việc phân loại vẫn phải thực hiện thủ công nên ảnh hưởng đến sức khỏe của
người công nhân.
10
+ Chất lượng sản phẩm chưa cao
2.1.5 Cơ sở lý thuyết về mức sẵn lòng chi trả
2.1.5.1 Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết marketing
2.1.5.1.1 Định giá sản phẩm
Nagle và Holden (2002) và Monroe (2003), dẫn theo Breidert
(2005), cho rằng định giá là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong
marketing hỗn hợp. Nó là yếu tố duy nhất sản sinh ra thu nhập. Giá một sản
phẩm (là hàng hóa hay dịch vụ) được đưa ra tương tác mạnh mẽ với hầu hết
các yếu tố khác của marketing hỗn hợp như: quảng cáo và khuyến mãi, phân
phối…
Kotler và Armstrong (2001) định nghĩa giá là “lượng tiền phải trả cho
một sản phẩm hoặc dịch vụ, hoặc tổng giá trị mà người tiêu dùng đánh đổi để
có hoặc sử dụng sản phẩm hay dịch vụ”.
Monroe (2003) định nghĩa giá là:
M
G
P=
trong đó:
- P: giá.
giá trị khác biệt giữa sản phẩm tham khảo và sản phẩm quan tâm.
Mức giá tối đa được thể hiện như sau:
Pmax = pref + pdiff
trong đó: Pmax là giá tối đa, pref là giá trị tham khảo, pdiff là giá trị khác
biệt. Giá trị tham khảo (pref) là chi phí mà khách hàng bỏ ra để mua một sản
phẩm cạnh tranh mà họ cho là sự thay thế tốt nhất của sản phẩm họ đang quan
tâm. Giá trị khác biệt (p diff) là giá trị của bất kỳ sự khác biệt nào giữa sản
phẩm quan tâm và sản phẩm tham khảo. Như vậy, sản phẩm hoàn hảo, ưu việt
nhất so với các sản phẩm cạnh tranh sẽ có giá bán tối đa. Mấu chốt để có giá
bán tối đa là khác biệt hóa sản phẩm, tức là sửa đổi một sản phẩm làm nó thu
hút hơn, khác biệt hơn đối với một nhóm khách hàng nhất định. Sự khác biệt
đòi hỏi một chiến lược giá tinh vi dựa vào giá trị nhận được của sản phẩm
12
(Kotler và Armstrong (2001), dẫn theo Breidert (2005)).
2.1.5.1.3 Giá hạn chế
Theo Varian ((2003), dẫn theo Breidert (2005)): Các nhà kinh tế gọi
mức sẵn lòng chi trả tối đa của một người là mức giá hạn chế của người đó.
Giá hạn chế là mức giá cao nhất mà một người chấp nhận và vẫn mua sản
phẩm. Nói cách khác, giá hạn chế của một người là mức giá mà tại đó anh ấy
hoặc cô ấy quyết định giữa việc mua hàng và không mua hàng.
Theo Breidert (2005), giá hạn chế (pres) của một vài sản phẩm là mức
giá mà tại đó người tiêu dùng không thấy sự khác biệt giữa việc tiêu thụ hoặc
không tiêu thụ sản phẩm (hoặc bất kỳ loại hàng hóa nào khác của cùng một
lớp sản phẩm).
2.1.5.1.4 Mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết marketing
Theo Breidert (2005), khi mua sắm một sản phẩm, khách hàng sẵn lòng
chi trả bao nhiêu phụ thuộc vào giá trị kinh tế nhận được và mức độ hữu dụng
dùng sẽ mua thêm lượng hàng hóa là (Q 2 – Q1) đơn vị nhưng giá bán sản
phẩm cũng đã giảm từ P1 xuống P2.
Như vậy, khi số lượng hàng hóa tiêu thụ
P1
P2
(D)
O
Q1
Q2
tăng lên, sự sẵn sàng trả tiền của người
tiêu dùng cho mỗi đơn vị hàng hóa mua
thêm sẽ giảm xuống. Điều này hoàn toàn
Q
hợp vớicầu
quyP luật về hữu dụng cận
Hình phù
1: Đường
biên
2.1.5.2.2 Thặng dư tiêu dùng và thặng dư
sảngiảm
xuấtdần .
Xem xét sản phẩm A có đường cầu (D) và đường cung (S) như hình 2.
Tại điểm cân bằng thị trường M là điểm cắt của đường cung và đường cầu,
Phần thặng dư của nhà sản xuất là chênh lệch giữa tổng doanh thu (diện
tích hình P*MQ*O) và tổng chi phí (diện tích hình P2MQ*O), là diện tích tam
giác P2MP*.
Đối với người tiêu dùng, họ nhận được lợi ích (quy ra tiền) khi mua 1
sản phẩm A bằng đúng số tiền họ bằng lòng bỏ ra để mua nó. Như vậy, tại
hình 2, khi người tiêu dùng mua Q * sản phẩm A thì lợi ích họ nhận được là
diện tích hình OP1MQ*. Chi phí thực tế bỏ ra để mua Q* sản phẩm A là diện
tích hình P*MQ*O. Lợi ích ròng mà người tiêu dùng nhận được khi sử dụng
sản phẩm A là diện tích tam giác P*MP1. Lợi ích ròng này chính là thặng dư
tiêu dùng. Thặng dư tiêu dùng là sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu
dùng nhận được khi tiêu dùng hàng hóa và những chi phí thực tế để có được
lợi ích đó.
2.1.5.2.3 Mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết kinh tế học
Người tiêu dùng thường chi tiêu cho sản phẩm A họ muốn tiêu dùng với
mức giá thị trường là P*. Tuy nhiên, tùy thuộc sở thích tiêu dùng của cá nhân
người tiêu dùng, họ chấp nhận chi tiêu với mức giá cao hơn giá thị trường để
có được sản phẩm A. Tại hình 2, mức giá cao nhất người tiêu dùng chấp nhận
bỏ ra để mua sản phẩm A là P1. Như vậy, mức sẵn lòng chi trả (WTP) chính là
biểu hiện sở thích tiêu dùng, là thước đo sự thỏa mãn của khách hàng. Người
tiêu dùng mua Q* sản phẩm A với giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm A chính là
giá trị của sản phẩm cuối cùng là Q *. Người tiêu dùng được hưởng thặng dư
tiêu dùng vì họ chỉ phải trả một lượng giá trị là Q* đồng đều cho từng đơn vị
hàng hóa đã mua. Theo quy luật về hữu dụng cận biên giảm dần, mức độ thỏa
mãn của khách hàng khi tiêu dùng sản phẩm A giảm dần từ đơn vị sản phẩm
thứ 1 đến đơn vị sản phẩm thứ Q*. Mức thỏa dụng thặng dư người tiêu dùng sẽ
15
nhận được từ đơn vị sản phẩm thứ 1 đến đơn vị sản phẩm thứ Q *-1. Do vậy,
Alberta được các tác giả xây dựng:
WTP = f($TAX, SCOPE, FIRST, MALE, RURAL, INCOME, MORAL)
với $TAX: mức gia tăng thuế thu nhập hàng năm đối tượng khảo sát bị
yêu cầu trả; SCOPE: điểm phần trăm gia tăng khi tham gia, FIRST: biến giả
chỉ ra rằng kịch bản giải trí và thể thao được giới thiệu trước, MALE: giới
tính (nam hoặc nữ), RURAL: khu vực sống, INCOME: thu nhập hàng năm
các hộ gia đình, MORAL: là biến tỷ lệ chỉ sự gia tăng độ ổn định đạo đức khi
sử dụng tiền cá cược để gây quĩ chương trình giải trí và thể thao. Kết quả
khảo sát ước tính mức sẵn lòng chi trả ước tính hàng năm là 18.33$ trên một
hộ dân tại Alberta (Canada) cho việc nâng cấp nhỏ các chương trình giải trí và
thể thao không chuyên vượt xa mức sẵn lòng chi trả ước tính của các hộ gia
đình tại Mỹ để tránh gây tổn hại cho các đội tuyển thể thao tham gia giải
chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhận xét các tiêu chuẩn đạo
đức cá cược không ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân.
Zaiton Samdin (2008) thực hiện nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả giá vé
của khách du lịch khi đến tham quan Công viên quốc gia Taman Negara
(TNNP) tại Malaysia để sử dụng các hàng hóa phi thị trường là vẻ đẹp phong
cảnh, rừng nhiệt đới và cuộc sống hoang dã. Khảo sát sử dụng phương pháp
định giá ngẫu nhiên CVM, thu thập số liệu bằng cách đưa ra bảng câu hỏi
phỏng vấn 180 khách du lịch tại công viên. Khảo sát sử dụng lấy mẫu phân
tầng với các mẫu được đặt trong 2 nhóm dựa trên quốc tịch là người Malaysia
(gồm có 80 khách) và quốc tế (gồm có 100 khách). Bảng câu hỏi được chia
thành 3 phần: đặc điểm của chuyến thăm, đặc điểm chi trả và đặc điểm xã hội
- nhân khẩu học. Phần đầu tiên được thiết kế để có thông tin về các đặc điểm
liên kết với TNNP chẳng hạn như các nguồn thông tin về TNNP và lý do của
chuyến thăm. Phần thứ hai được thiết kế để xác định đặc điểm của việc chi trả
và giá trị trung bình của mức sẵn lòng chi trả đối với phí vào cửa TNNP. Phần
này hỏi đối tượng khảo sát có sẵn lòng chi trả nếu phí vào cửa hiện nay tăng
hoang dã. 25.4% khách tham quan đến TNNP bằng xe cá nhân, 23% bằng xe
18
tham quan, 21% bằng xe công cộng và 12.2% bằng thuyền.
2.2.2 Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn ở Việt Nam
a. Các chính sách của chính phủ có liên quan
Mặc dù quản lý rác thải ở nước ta là một lĩnh vực còn mới nhưng trong
suốt thời gian qua nhà nước và các cơ quan quản lý các cấp đã rất nỗ lực phối
hợp để ban hành một số văn bản và xây dựng một khung pháp lý phù hợp làm
cơ sở cho các hoạt động BVMT nói chung và công tác quản lý CTR nói riêng
như sau:
- Luật BVMT được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 và
có hiệu lực từ ngày 10 tháng 01 năm 1994.
- Quyết định số 34/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2005 của thủ tướng
chính phủ về việc ban hành kế hoạch hoạt động thực hiện nghị quyết số 41 –
NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ chính trị về BVMT trong thời kỳ
CNH – HĐH đất nước.
- Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020 với những mục tiêu cụ thể là tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt đạt 90%, xử
lý và tiêu hủy 60% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế, cơ quan chủ
quản và triển khai thực hiện là Bộ TN&MT .
- Luật BVMT năm 2005 được Quốc hội thông qua chính thức và có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006. Trong đó nêu ra 4 điều quy
định chung về quản lý chất thải rắn thông thường (Mục 33 chương 3 từ điều
77 đến điều 80).
Bên cạnh đó có các hướng dẫn về quản lý và xử lý CTR, đây là công cụ
hữu hiệu trong quản lý CTR, các văn bản quy phạm pháp luật về CTR, bao
gồm: