ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THU HÀ
TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN
HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THÁI NGUYÊN – 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THU HÀ
TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN
HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã ngành: 60220121
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN THỊ HUẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
i
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà
iii
MỤC LỤC
A. MỞ BÀI …………………………………………………………………………1
MỤC LỤC...........................................................................................................iii
A.
MỞ
BÀI
…………………………………………………………………………1............iii
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề..................................................................................................2
2.1. Vấn đề nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội ở nước ta..............................2
2.2. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội ở Yên Bái............................6
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu..................................................................7
3.1 . Đối tượng nghiên cứu...............................................................................7
3.2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................7
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu...........................................................7
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................7
4.2. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................8
5. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................9
6. Cấu trúc của luận văn......................................................................................9
2.3.1.1. Truyền thuyết giải thích sự hình thành nòi giống dân tộc.......45
2.3.1.2. Truyền thuyết giải thích địa danh ..............................................49
2.3.1.3.Truyền thuyết nhận vật.................................................................55
2.3.1.4.Truyền thuyết phong vật...............................................................65
2.3.2. Một số phương diện nghệ thuật..........................................................66
2.3.2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật....................................................66
2.3.2.2. Kết cấu..........................................................................................68
2.3.2.3. Một số môtip tiêu biểu.................................................................72
LỄ HỘI DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC HUYỆN YÊN BÌNH.........................81
3.1. Khái niệm Lễ hội........................................................................................81
3.2. Vai trò, ý nghĩa, giá trị của các lễ hội trong đời sống các dân tộc ở địa
phương.............................................................................................................105
3.3. Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội................................................108
Tiểu kết chương 3............................................................................................111
KẾT LUẬN......................................................................................................112
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................1
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
CTQG:
Chính trị Quốc gia
vùng sông Chảy. Nơi đây còn lưu giữ một kho tàng truyện cổ, truyền thuyết cùng
các lễ hội dân gian, các bài hát giao duyên, hát đám cưới hết sức phong phú Yên
Bình cũng là một điểm đến với các lễ hội du lịch về cội nguồn hàng năm do ba tỉnh
Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai tổ chức.
Khảo sát gốc tích lịch sử và văn hóa tên gọi các địa danh ở huyện Yên Bình
chúng tôi thấy: Bên cạnh các địa danh đã mất, hoặc đổi tên, ngày nay vẫn còn một số
địa danh mang tên cũ, nhưng chưa mấy ai tìm ra gốc tích tên gọi của nó. Một số tên
gọi địa danh có dấu vết lai lịch gắn với những truyền thuyết, câu chuyện lịch sử. Nhiều
sự kiện lớn có ảnh hưởng tới đời sống cộng đồng đã được người dân ghi lại qua các
truyền thuyết, sự tích, lễ hội … Nhìn chung hệ thống truyền thuyết và lễ hội của vùng
Yên Bình đã góp phần làm phong phú hơn truyền thuyết và lễ hội của Yên Bái nói
riêng và Việt Nam nói chung.
Trong đời sống đương đại, nhiều di tích được tu sửa và nâng cấp, nhiều lễ
hội được tổ chức, nhu cầu về tín ngưỡng và đời sống tâm linh của người dân được
nâng cao và phổ biến. Nhưng qua quá trình điền dã thực tế ở các làng xã trong
huyện và qua những ngày hội làng, chúng tôi được biết nhiều người dân nơi đây
chưa hiểu rõ nguồn gốc xuất xứ của các di tích. Bên cạnh đó, khi khai thác các
nguồn tư liệu thành văn ghi chép về các truyền thuyết và lễ hội dân gian ở Yên
Bình xưa còn lại rất ít .Thực trạng này càng thúc giục chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu
vốn văn học dân gian, văn hóa dân gian.
Trước yêu cầu của địa phương muốn được nghiên cứu, giới thiệu và lưu giữ
những truyền thuyết và lễ hội cho thế hệ sau, giúp cho mỗi người dân thêm tự hào và
yêu quý mảnh đất quê hương mình, đồng thời bồi dưỡng tình cảm, đạo đức cho thế hệ
2
trẻ, người viết lựa chọn đề tài “Truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện Yên Bình,
tỉnh Yên Bái” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Là một giáo viên dạy Ngữ văn ở trường trung học phổ thông và là người con
Nam do nhóm Lê Quý Đôn [20] và Sơ lược lịch sử Văn học Việt Nam do nhóm Văn
Tân, Nguyễn Hồng Phong biên soạn [ 65] xuất hiện thì truyền thuyết mới được sử
dụng là một thuật ngữ. Mặc dù vậy, vẫn có những quan niệm trái ngược nhau: Một số
tác giả phủ nhận sự tồn tại của thể loại truyền thuyết, cho đó là một thuật ngữ sử học vì
dấu ấn lịch sử được thể hiện đậm nét trong các câu chuyện. Một số tác giả khác lại
nhất trí xếp truyền thuyết là một thể loại của văn học dân gian. Đồng thời xây dựng lý
thuyết thể loại và chỉ ra đặc trưng nội dung, thi pháp nghệ thuật của nó. Hai quan niệm
trên tạo nên một cuộc tranh luận kéo dài.
Đại diện cho quan niệm thứ nhất là tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên.
Đinh Gia Khánh không xem truyền thuyết là một thuật ngữ của khoa học
nghiên cứu văn học dân gian. Nhưng trong các công trình nghiên cứu của mình như:
Xác định giá trị của truyền thuyết đối với việc tìm hiểu lịch sử thời đại Hùng Vương
(Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 123/1969), lời bạt cho cuốn sách Truyền thuyết Sơn
Tinh (Ty văn hoá thông tin Hà Tây xuất bản 1973), Địa chí văn hoá dân gian Thăng
Long - Đông Đô - Hà Nội (Sở văn hoá thông tin Hà Nội 1991) ông lại tỏ ra mâu thuẫn
khi chọn nhiều tác phẩm truyền thuyết tiêu biểu để phân tích. Điều này có thể nhận
thấy rằng: một cách không tự giác, ông đã hoà nhập vào việc sử thuật ngữ của giới
Folklore học trong đó có liên quan đến văn học dân gian.
Tác giả Chu Xuân Diên cùng đồng nhất với Đinh Gia Khánh ở quan điểm
không công nhận truyền thuyết như là một thể loại văn học dân gian mà đề nghị nên
xếp vào sử học. Truyền thuyết là một trong những thể loại tự sự dân gian "có quan hệ
gần gũi với các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích" [15].
Cần khẳng định rằng: những ý kiến trên chỉ là số ít, còn đại đa số các nhà
nghiên cứu đều thừa nhận quan điểm thứ hai coi truyền thuyết là một thể loại riêng
biệt của Văn học dân gian, đồng thời chỉ ra được đặc trưng nội dung và thi pháp nghệ
thuật của nó. Có thể kể đến như:
Cuộc tranh luận sôi nổi về những vấn đề xung quanh Truyền thuyết Mị Châu
– Trọng Thủy trên tạp chí Nghiên cứu văn học từ 1960 đến 1965 đã đi đến sự
thống nhất của rất nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian về sự có mặt của thể loại
truyền thuyết.
hiện nay mặc dù tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về thể loại truyền thuyết nhưng
giữa các cách hiểu đó đều có những điểm tương đồng:
- Thứ nhất: Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận truyền thuyết là một thể loại tự
sự của văn học dân gian.
5
- Thứ hai: Truyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử có “cái lõi” là
sự thật lịch sử, là cách chép sử chân chính của nhân dân… qua đó thể hiện thái độ của
nhân dân đối với các sự kiện lịch sử.
- Thứ ba: Nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết phản ánh tâm tình tha thiết,
trí tưởng tượng phong phú của nhân dân và lưu giữ những truyền thống tốt đẹp của
con người Việt Nam.
- Thứ tư: Giữa lễ hội và truyền thuyết có mối quan hệ gắn bó mật thiết.
Chúng tôi căn cứ trên sự thống nhất trong cách hiểu về thể loại truyền thuyết của
các nhà nghiên cứu nói trên, từ đó làm cơ sở áp dụng cho việc nghiên cứu đề tài luận văn
của mình về “Truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thuyết và các phong tục, lễ hội dân
gian, tác giả Kiều Thu Hoạch đã đưa ra một cách lý giải rất sâu sắc về bản chất đặc
trưng của thể loại này: “Một đặc điểm của truyền thuyết anh hùng chống xâm lược của
ta là thường gắn liền với các cuộc hội mùa và nghi lễ tế thần ở các đình chùa, đền
miếu”, “Có thể nói rằng hội lễ là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu được của truyền
thuyết anh hùng Việt Nam. Chính nhờ những hội lễ như vậy mà truyền thuyết anh
hùng có dịp nhắc nhở và đi sâu vào ký ức của nhân dân. [74, tr 63].
Năm 1973, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương đăng bài “Tìm hiểu quan hệ
giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng phong tục” trên Tạp chí Văn học. Trong bài
viết này, tác giả quan niệm diễn xướng là một bộ phận của hội làng. Quan hệ giữa thần
thoại, truyền thuyết và diễn xướng giống như quan hệ giữa tích và trò. Tác giả đã phân
loại các hình thức diễn xướng tín ngưỡng đa dạng thành ba nhóm chính: diễn xướng canh
sát truyền thuyết các dân tộc lưu hành ở Yên Bái” của tác giả Phùng Thị Phương
Hạnh [26] cũng đã bước đầu giới thiệu, tìm hiểu về truyền thuyết được lưu truyền
tại địa bàn tỉnh Yên Bái và trong đó có giới thiệu một số ít những truyền thuyết của
huyện Yên Bình.
* Tình hình nghiên cứu về lễ hội ở Yên Bái
Các công trình giới thiệu và nghiên cứu về lễ hội tại tỉnh Yên Bái nói chung và
huyện Yên Bình nói riêng không nhiều. Hiện nay chỉ có công trình “Đền - Đình Chùa ở tỉnh Yên Bái”của tác giả Hồ Văn Thái và Nguyễn Liễn [67] mang lại cái nhìn
sơ lược, tổng thể về một số lễ hội lớn cũng như hệ thống Đền - Đình - Chùa tại tỉnh
Yên Bái nói chung. Tác giả Bùi Huy Mai tập trung nghiên cứu về “Dân tộc và bản sắc
văn hóa vùng Văn Chấn” (2009) [48]. Cuốn “Di tích danh thắng Việt Nam”, năm
7
2002 do NXB Đồng Nai phát hành có giới thiệu sơ qua về lễ hội đền Thác Bà. Luận
văn thạc sĩ của Cù Chí Cường (2014), “Đền mẫu Thác Bà ở thị trấn Thác Bà, Yên
Bình, Yên Bái” [11] nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học. Đa số các lễ hội lớn tại Yên
Bình và Yên Bái được giới thiệu trên các tờ báo địa phương hoặc được giới thiệu trên
các trang mạng truyền thông với mục đích quảng bá du lịch.
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách toàn
diện truyền thuyết và lễ hội ở Yên Bái nói chung cũng như truyền thuyết và lễ hội của
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái nói riêng. Với ý thức giữ gìn những di sản quí giá của
nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái, góp phần tìm hiểu những giá trị văn hóa, lịch sử,
dân tộc, chúng tôi nhận thấy đề tài "Truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái” là một đề tài có tính khả thi và có giá trị cao.
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 . Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là tập trung tìm hiểu, khảo sát, phân
tích, phân loại và nghiên cứu, giới thiệu về truyền thuyết và lễ hội dân gian huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái .
- Phương pháp khảo sát thống kê: Từ những tài liệu về truyện kể, truyền
thuyết, lễ hội ...thu thập được qua quá trình sưu tầm, kết hợp với những nguồn tài liệu
sách đã được công bố, xuất bản, các hồ sơ di tích, lễ hội ở địa phương, chúng tôi tiến
hành thống kê phân loại, sắp xếp thành từng nhóm tài liệu về truyền thuyết và lễ hội để
tiến hành việc nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích tích hợp: Trên cơ sở nguồn tài liệu đã có, chúng tôi
tiến hành hệ thống hóa, phân tích các tư liệu, đánh giá và nhìn nhận về đặc điểm
truyền thuyết và lễ hội dân gian các dân tộc huyện Yên Bình.
- Phương pháp so sánh loại hình: Chúng tôi tiến hành so sánh những mô típ nổi
bật trong nhóm truyền thuyết và chỉ rõ những nét chung và riêng mang đậm dấu ấn
văn hoá vùng miền .
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Chúng tôi vận dụng phương pháp
nghiên cứu của các khoa học khác trong quá trình nghiên cứu như: Sử học, Dân tộc
học, Ngữ văn học... để tập trung làm rõ nội dung , ý nghĩa nhiều mặt (xã hội - lịch sử văn hoá...) của truyền thuyết và lễ hội huyện Yên Bình.
9
5. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề: Truyền thuyết và lễ hội dân gian các
dân tộc huyện Yên Bình, trong đó tập trung giới thiệu một lễ hội lớn, tiêu biểu của
Yên Bình là truyền thuyết và lễ hội đền mẫu Thác Bà .
Luận văn nghiên cứu ở một không gian cụ thể là vùng đất Yên Bình và đền mẫu
Thác Bà thuộc thị trấn Thác Bà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái .
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày
trong 3 chương:
Chương 1: Yên Bình, miền đất, con người và truyền thống văn hóa
Chương 2: Hệ thống truyền thuyết huyện Yên Bình
Chương 3: Lễ hội dân gian các dân tộc huyện Yên Bình
và Huyện Văn Yên, phía Đông Bắc giáp huyện Hàm Yên của tỉnh Tuyên Quang, phía
Bắc giáp huyện Lục Yên. Trên địa bàn có tuyến quốc lộ 70 từ Hà Nội đi Yên Bái và
đi Lào Cai chạy qua trung tâm và một số xã của huyện. Huyện Yên Bình có tổng diện
tích tự nhiên là 77.319,67 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp có 57.690,43 ha chiếm
74,61% tổng diện tích tự nhiên.
Yên Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình hàng
năm là 22,90C. Lượng mưa bình quân hàng năm là 2.121,2mm, số ngày mưa trung bình
là 136 ngày, tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm. Độ ẩm trung bình là 37% và
không có sương muối. Do đặc điểm là huyện có diện tích mặt nước nhiều (hồ Thác Bà
trên 15.000 ha) nên khí hậu vùng này mang tính chất vùng hồ: mùa đông ít lạnh, mùa hè
mát mẻ, thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp, trồng rừng phòng hộ và rừng
nguyên liệu; trồng cây công nghiệp chè, cao su, cây ăn quả và là tiềm năng để phát triển
ngành nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch dịch vụ.
11
Địa hình của huyện Yên Bình khá phức tạp, với đặc điểm địa hình chuyển tiếp từ
Trung du lên miền núi, địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc được tạo bởi hai
dãy núi: Cao Biền nằm phía tả ngạn sông Chảy (phía Đông hồ Thác Bà) và Con Voi
nằm phía hữu ngạn sông Chảy( phía Tây hồ Thác Bà ).
Đặc trưng khí hậu của Yên Bình là nhiệt đới gió mùa (nóng, ẩm, thay đổi trong
nhiều mùa). Bên cạnh những thuận lợi lớn làm cho các giống, loài phát triển nhanh
chóng và phong phú, tạo nên tính đa dạng sinh học trong vùng địa phương còn gánh
chịu nhiều hậu quả do đặc điểm thời tiết gây ra. Mùa đông, nhiều đợt rét buốt tràn về,
gây ra sương muối tác hại cho cây trồng, vật nuôi và sức khoẻ con người. Mùa hè, tuy
bão tố không ảnh hưởng nhưng gió lốc thường xuất hiện, phá mùa màng và nhà cửa.
Chế độ thuỷ văn của Yên Bình đặc biệt phong phú nhờ có sông Chảy, hồ Thác
Bà cùng hệ thống sông suối dày đặc. Sông Chảy là một phụ lưu lớn của sông Lô - còn
gọi là Trôi Thuỷ hoặc sông Đạo Ngạn, hàng năm sông Chảy vận chuyển 5,3 tỷ m 3
dài năm thân có thắt lưng bằng vải chàm gấp lại buộc phía sau, đi đôi với váy trong
dịp cưới, ngày lễ tết.
Người Dao quần trắng chiếm 13% dân số, họ di cư đến địa phương cách đây
khoảng 900 năm, sống tập trung ở vùng núi thấp hoặc dọc theo các suối, tổ chức thành
các bản riêng ở rải rác các xã, trong đó tập trung đông ở các xã Yên Thành, Phúc An,
Tích Cốc, Tân Hương, Bảo Ái, Tân Nguyên.... Họ có kho tàng truyện cổ cùng hệ
thống lễ hội, các bài hát giao duyên, hát đám cưới hết sức phong phú. Phần lớn sinh
sống nhờ làm nương rẫy.
Người Sán Chay(Cao Lan) chiếm 6% di cư đến địa phương khoảng 400 năm,
cư trú ở 8 xã trong huyện, thành thạo trồng lúa nước mặc dù kinh tế nương rẫy vẫn
chiếm vị trí quan trọng đối với họ. Tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái
(ngữ hệ Nam Á). Họ có trang phục đặc trưng: Phụ nữ mặc váy chàm dài ngang bụng
chân, áo chàm dài ngang váy, chân cuốn xà cạp màu trắng. Nam giới thời xưa búi tóc,
đội khăn xếp màu chàm, có thêu hoa văn, mặc áo chàm dài hoặc ngắn, mặc quần thụng
màu nâu hoặc trắng.
Người Cao Lan ở nhà sàn có bốn mái, có sàn trong và sàn phơi. Nhà có ba đến
năm gian. Gian giữa đặt bàn thời tổ tiên, hai gian cạnh là nơi ngủ nghỉ. Gian trái đầu
nhà là nơi đặt bàn thờ hương hỏa (Thần Bảo gia dòng họ). Gian trái cuối bếp là nơi
bếp núc; buồng con gái, con dâu, cầu thang cũng được bắc ở gian này.
Người Nùng chiếm gần 3% di cư từ vùng Văn Nam - Trung Quốc đến địa
phương khoảng 200 - 300 năm trước, ngoài lúa nước và nương rẫy họ còn trồng bông,
trồng chàm, kéo sợi, dệt vải, rèn đúc, đan lát và làm đồ mộc. Ngoài ra, ở Yên Bình còn
có một số thành phần dân tộc ít người khác cùng sinh sống.
Cư dân trên đất Yên Bình chịu ảnh hưởng của các loại tôn giáo sớm muộn có
khác nhau. Đạo Phật có ảnh hưởng mạnh tới địa phương sớm nhất vào thời Trần. Đến
15
thế kỷ XVII, khi Vũ Văn Mật mở trường dạy học và lập văn chỉ ở Đại Đồng thì đạo
16
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái). Đại tướng giặc bị chém đầu lìa khỏi cổ, quân giặc
hoảng loạn chạy tháo thân. Côn Nhạc chỉ huy thừa thắng xông lên, truy đuổi tiêu diệt
quân giặc. Chiến thắng trở về, Côn Nhạc đề sớ tâu vua mở tiệc khao quân, ban thưởng
cho những tướng tài, sĩ giỏi. Côn Nhạc được triều đình phong sắc quý: "Quốc tái gia
phong sắc Rồng Côn Nhạc, chính tông hùng chẩn Đại Vương Thượng Tướng, nhất
phương cảnh vũ'' và tiếp tục hùng cứ trấn hạt Chu Hưng. Sau ông mất vào ngày 8
tháng 2 và được mai táng trên đỉnh đồi Kim Quy. Khi nhà Trần chiến thắng giặc
Nguyên Mông, Trần Nhân Tông rời kinh đô lên thăm lại chiến trường xưa. Nhà vua đã
lên thăm ký hài lăng Côn Nhạc và khắc tặng bốn câu thơ:
Vung giáo non sông mấy ngàn năm
Bốn biển được yên thù đã hết
Núi xanh trùng điệp tựa như tranh
Linh lăng vạn cổ mãi hiển vinh.
Đến tháng 7 năm 1806, vua Gia Long đã cho xây dựng ngôi đền với kiến trúc,
quy mô bề thế. Bài ký còn truyền là: "Nhất Chu nhị hiền, Tam Sơn tứ lệnh'', nghĩa là
được xếp vào hạng đầu so với các ngôi đền trong vùng và lấy ngày mùng 7 tháng
giêng hàng năm là ngày lễ hội đầu xuân. Lễ hội lớn được tổ chức vào ngày 15/8 (âm
lịch), gọi là ''Thu thiên bát nguyệt trung tuần lễ". Để tỏ lòng tôn vinh và ghi nhận công
lao của Côn Nhạc đại vương, các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Đồng Khánh, Tự
Đức, Duy Tân đã có 11 lần tặng phong sắc quý, trong đó có 4 sắc phong "Hữu thiện
phù trực chỉ thần" và 5 sắc phong "Thượng đẳng thần".
Đền Chu Hưng không chỉ là nơi hương hoả trường minh phụng thờ vị anh hùng
Côn Nhạc Đại Vương trong buổi sơ khai đất Việt mà ngôi đền này còn gắn với sự phát
triển của nền văn hoá nhà nước phong kiến tập quyền và các sự kiện lịch sử của cách
mạng Việt Nam. Với ý nghĩa và tầm vóc đó, đền Chu Hưng đã được Nhà nước xếp
hạng khu di tích lịch sử quốc gia (Nguyễn Hữu Quang - Bảo tàng Yên Bái, số 2023
ngày 18/2/2008).
quân của Trần Nhật Duật có người Tống ăn mặc giống người Thát Đát (Mông Cổ),
phải biết phân biệt, không được đánh nhầm và phải phối hợp chiến đấu.
Đạo quân của Trần Nhật Duật đã giao chiến với quân Mông cổ do Nạp Tốc Lạc
Đinh (có tư liệu ghi Nạt Tốc Lạt Đinh) kéo xuống và trấn giữ trại Thu Vật cùng lộ
18
Tuyên Quang rất quyết liệt. Dân binh Châu Thu Vật (Yên Bình) đã xuất quỷ nhập thần
khi trên bộ, khi chèo thuyền trên dòng sông Chảy cùng quân triều đình chặn đánh giặc
ở khắp nơi. Nhưng thế giặc mạnh, lại đông quân nên để bảo toàn lực lượng, Trần Nhật
Duật đã cho rút lui về Bạch Hạc, rồi về đến chỗ vua Trần đóng quân ở phủ Thiên
Trường. Từ đó, Trần Nhật Duật cùng các tướng lĩnh phối hợp đánh tan quân Nguyên,
buộc chúng rút chạy về nước. Trên đường giặc chạy qua châu Thu Vật, lại bị dân binh
châu Thu Vật cùng quân triều đình đuổi đánh, tiêu hao sinh lực địch. Sự kiện chống
quân Nguyên Mông của quân dân châu Thu Vật đã được sử sách ghi chép và được nhà
văn Nguyễn Bích, Lê Vân viết thành truyện "Sát Thát" (NXB Kim Đồng, 1971) và
một số tác giả ở Yên Bái viết thành truyện.
Cũng trong thời gian này, anh em Hà Đặc, Hà Chương được giao đồn trú ở Quy
Hoá, Phú Thọ đã chặn đánh quân Nguyên Mông đang rút lui qua địa phận Phù Ninh
rất quyết liệt, đuổi giặc đến A Lạp thì họ bị đạo quân của giặc đi sau đánh, Hà Đặc hy
sinh, Hà Chương bị bắt. Lợi dụng sơ hở của giặc, Hà Chương đã lấy cờ xí và y phục
của giặc trốn về, rồi cho quân làm giả giặc tới quân doanh của chúng. Giặc bị tập kích
bất ngờ, tan vỡ, rút tàn binh chạy về Vân Nam. Hà Chương hăng hái đuổi đánh qua địa
phận Yên Bình, Yên Bái, Trấn Yên lên tới tận Văn Yên thì bị thương, quân sĩ đưa về
đến Nhược Sơn thì mất. Ông được chôn cất ở cửa thác Nhược Sơn và được dân lập
đền thờ ờ Nhược Sơn (huyện Văn Yên), được phong hầu là "Bình Nguyên Thượng
Tướng trung dũng hầu".
Như vậy, có thể thấy: châu Thu Vật (Yên Bình ngày nay) vốn là một vùng đất
có trại binh lớn trấn thủ giặc Nguyên Mông thời Trần, đồng bào châu Thu Vật đã đóng