Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU.....................................................................................................1
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
1
1
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển giúp con người tạo ra
những công nghệ mới nhằm phục vụ những lợi ích trong cuộc sống, đi đôi với sự
phát triển đó, ngành trắc địa cũng đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật về
phương pháp và công nghệ vào sản xuất thực tế trong đó có việc sử dụng những
phần mềm khảo sát tính toán khối lượng mỏ và biên tập bản đồ nhằm hiện đại
hóa công tác đo đạc và xử lý số liệu, đưa ngành trắc địa lên một tầm cao mới.
Việc áp dụng công nghệ tin học chuyên dụng vào công tác khảo sát thiết
kế, phục vụ khai thác mỏ đã đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo
độ chính xác và thỏa mãn được tính tối ưu về kinh tế. Từ đó em lựa chọn đề
tài: “Nghiên cứu ứng dụng phần mềm KSVN 7.1 trong công tác thành lập
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Hoàng Tiến Thành
Chương I
BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH VÀ CÁC CÔNG TÁC TÍNH KHỐI LƯỢNG
KHAI THÁC Ở MỎ LỘ THIÊN
1.1. Định nghĩa bản đồ và tính chất cơ bản của bản đồ
1.1.1. Định nghĩa bản đồ
Bản đồ địa hình là bản đồ địa lý chung, là sự biểu thị khái quát, thu
nhỏ của bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng, thông qua phép chiều toán học
nhất định, có tổng quát hóa theo hệ thống ký hiệu và các mối quan hệ tương
quan giữa các yếu tố cơ bản của địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội với độ chính
xác và mức độ chi tiết tương đối như nhau, phần lớn vẫn giữ được hình
dạng, kích thước theo tỷ lệ bản đồ, đồng thời giữ được tính chính xác hình
học của ký hiệu và yếu tố nội dung.
Cơ sở toán học của bản đồ là phương pháp toán học đảm bảo các
nguyên tắc về quy luật chuyển từ bề mặt tự nhiên của Trái đất lên mặt phẳng
bản đồ. Nó tuân theo những trình tự sau:
Chuyển bề mặt tự nhiên của Trái đất lên mặt elipxoid Trái đất, sau đó
chuyển từ bề mặt elipxoid Trái Đất với kích thước thu nhỏ theo tỷ lệ nhất định
lên mặt phẳng chiếu đã chọn nào đó. Tỷ lệ thu nhỏ của kích thước elipxoid để
biểu thị lên bản đồ được gọi là tỷ lệ bản đồ. Phép chiếu chính là quy luật của
sự biểu thị elipxoid Trái đất lên mặt phẳng được biểu hiện ở sự phụ thuộc
hàm số giữa tọa độ của điểm tương ứng ở trên mặt phẳng.Như vậy, trong cơ
sở toán học của bản đồ thì bao gồm cơ sở trắc địa, tỷ lệ và phép chiếu.Ngoài
ra, bố cục bản đồ, khung bản đồ, sự phân mảnh và đánh số các bản đồ cũng
phụ thuộc vào các yếu tố cơ sở toán học của bản đồ.
Hệ thống ký hiệu quy ước của bản đồ là phương tiện đặc biệt để phản
ánh nội dung bản đồ. Phương tiện chủ yếu là các yếu tố đồ họa và màu sắc,
độ, khoảng cách, diện tích, thể tích, góc, phương hướng và nhiều trị số khác.
Chính vì nó có tính chất này mà bản đồ được dùng để làm cơ sở xây
dựng các mô hình toán học của các hiện tượng địa lý và để giải quyết nhiều
vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất.
+ Tính thông tin của bản đồ: đó là khả năng lưu trữ và truyền đạt cho
người đọc những tin tức khác nhau về các đối tượng và các hiện tượng.
1.2. Chia mảnh và đánh số hiệu bản đồ địa hình
1.2.1. Danh pháp tờ bản đồ
Vì kích thước của tờ bản đồ địa hình tỷ lệ lớn là có hạn (thường là
50x50 cm hoặc 60x60 cm) nên để biểu thị một vùng rộng lớn phải có nhiều
mảnh ghép lại. Để tiện trong việc đo vẽ, bảo quản, quản lý và sử dụng người
ta quy định một hệ thống ký hiệu riêng biệt để đánh số hiệu cho từng loại bản
đồ với từng khu vực và tỷ lệ khác nhau. Số hiệu của tờ bản đồ gọi là danh
pháp của nó.
1.2.2. Quy định quốc tế về danh pháp tờ bản đồ 1:1000000
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
4
4
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Theo kinh tuyến, chia Trái đất thành 60 cột, mỗi cột có kinh sai ∆ λ = 6,
cột thứ nhất (cột kinh tuyến gốc Greenwich) được đánh số thứ tự là 31 và
Đối với bản đồ tỷ lệ nhỏ : từ mảnh bản đồ 1:1000000 chia thành:
- 4 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500000 có kích thước ∆ = 2 và ∆λ= 3 và đánh số
hiệu từ trên xuống dưới, từ trái qua phải bằng chữ in hoa La tinh A, B, C, D.
Hình 1.2
- 36 mảnh bản đồ tỷ lệ 1:200000 có kích thước ∆ = 40 và ∆λ= 1 và đánh
số hiệu bằng chữ la mã I, II, XXXVI
- 144 mảnh bản đồ 1: 100000 có kích thước ∆ = 20 và ∆λ= 30 và đánh số
hiệu bằng chữ Ả Rập 1,2,..144.
Đối với bản đồ tỷ lệ trung bình.
Sau khi có bản đồ tỷ lệ 1:100000 chia thành 4 mảnh 1:50000 với ký hiệu
A, B, C, D và có kích thước ∆ = 10 và có ∆λ= 15. Từ mảnh 1:50000 chia thành 4
mảnh 1:25000 với ký hiệu a, b, c, d với ∆ = 5 và ∆λ= 7’30”. Từ mảnh bản đồ
1:25000 chia thành 4 mảnh 1:10000 với ký hiệu 1, 2, 3, 4 và ∆ = 2’30’’ và ∆λ=
3’45’’.
Như vậy, đối với các loại mảnh bản đồ tỷ lệ nhỏ và trung bình đều dựa
vào mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000000 để chia mảnh và đánh số hiệu theo nguyên
tắc từ trái qua phải, từ trên xuống dưới.
* Chia mảnh theo khung hình chữ nhật.
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
6
6
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
1
1
1
2
1
3
1
4
1
5
1
6
1
7
1
8
1
9
2
0
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Hình 1.4
Chia mảnh 1:5000 thành 9 mảnh 1:2000 và ký hiệu a,b,…i.
Ví dụ hình dưới đây ta có A-2-3-d là danh pháp của tờ 1:2000.
Hình 1.5: Tỷ lệ 1:5000
Chia mảnh 1:2000 thành 4 mảnh 1:1000 và đánh số hiệu I,II, III, IV.
Danh pháp của tờ bản đồ 1:1000 bao gồm cả danh pháp của hai tờ 1:5000 và
1:2000.
Chia mảnh 1:2000 thành 16 mảnh 1:500 với số hiệu từ 1 đến 16.
Trên đây là nội dung chia mảnh và đánh số hiệu của bản đồ địa hình.
1.2.4. Danh pháp của bản đồ địa hình trong hệ quy chiếu tọa độ quốc
gia VN-2000
1.2.4.1. Danh pháp của các bản đồ địa hình cơ bản
+ Danh pháp của mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 1000000
Cũng giống như trong hệ HN-72, mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000000 có kích
thước ∆ = 4 và ∆λ= 6. Ký hiệu cột được đánh bằng số Ả Rập 1, 2, 3, 4… bắt đầu
từ số 1 nằm giữa kinh tuyến 180Đ và 174T, ký hiệu cột tăng từ Đông sang Tây.
Hay nói cách khác, số thứ tự cột chênh với số thứ tự múi trong phép chiếu
Gauss_Krugher là 30. Ký hiệu hàng được đánh bằng các chữ cái la tinh A, B, C..
( bỏ qua chữ cái O và I để tránh nhầm lẫn với số 0 và 1) bắt đầu từ hàng A
nằm giữa vĩ tuyến 0 và 4, ký hiệu hàng tăng từ xích đạo về 2 cực.
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
8
8
Danh pháp tờ bản đồ 1:100000 gồm danh pháp tờ bản đồ 1:1000000
chứa tờ bản đồ 1:100000 đó, gạch nối và ký hiệu tiếp theo sau đó là ký hiệu
mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000000.
+ Danh pháp tờ bản đồ 1:50000
Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100000 chia thành 4 mảnh bản đồ tỷ lệ
1:50000, mỗi mảnh có kích thước 15’x15’, ký hiệu mảnh đặt bằng chữ cái A, B,
C, D theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
9
9
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Danh sách tờ bản đồ tỷ lệ 1:50000 gồm danh pháp của mảnh bản đồ
1:100000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50000 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu
mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50000 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:100000, phần trong
ngoặc là mảnh bản đồ đó theo kiểu VN-2000 (danh pháp tờ bản đồ tỷ lệ
1:50000 theo kiểu UTM quốc tế cũng đặt theo nguyên tắc trên nhưng không
có gạch ngang).
Ví dụ mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50000 có phiên hiệu F-48-96-D(6151 IV).
+ Danh pháp mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25000, 1:10000, 1:5000, 1:2000
Hệ thống UTM quốc tế không phân chia các mảnh bản đồ tỷ lệ từ
1:25000 và lớn hơn, do đó trong hệ VN-2000 cũng áp dụng giống như trong
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
+ Danh pháp mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:500
Mỗi mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 được chia thành 16 mảnh bản đồ tỷ lệ
1:500, ký hiệu bằng chữ số Ả rập từ 1 đến 16 theo thứ tự từ trái sang phải, từ
trên xuống dưới.
Danh pháp của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 gồm phiên hiệu của mảnh bản
đồ tỷ lệ 1:2000 chứa mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 đó, gạch nối và sau đó là ký hiệu
mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 trong mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000, đặt trong ngoặc đơn
và ký hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000, mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 và mảnh
bản đồ tỷ lệ 1:500.
Ví dụ mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 có phiên hiệu F-48-96-(256-c-16).
1.3. Phương phép biểu thị địa hình và địa vật trên bản đồ địa hình
1.3.1. Phương pháp biểu thị địa hình bằng đường bình độ
Để biểu thị địa hình (dáng đất) có thể sử dụng các phương pháp như
tô màu, đánh bóng, kẻ vân… nhưng thông dụng và chính xác nhất là phương
pháp đường bình độ (đường đồng mức hay đường đẳng cao). Bản chất của
phương pháp này như sau:
Ta tưởng tượng trong một số mặt phẳng nằm ngang F 1, F2… song song
với mặt phẳng chuẩn và cách đều nhau một khoảng chênh cao chẵn E cắt
ngang một quả núi. Giao tuyến giữa các mặt phẳng F i với quả núi được chiếu
xuống mặt phẳng chiếu hình bản đồ F bd là những đường cong khép kín gọi là
đường bình độ. Nó có những tính chất cơ bản sau:
- Các điểm nẳm trên một đường bình độ có độ cao như nhau;
- Đường bình độ là đường cong trơn, liên tục và khép kín;
- Nơi nào các đường bình độ càng thưa thì nơi ấy địa hình càng bằng
phẳng và ngược lại càng mau địa hình càng dốc và nếu chúng trùng nhau là ở
đó có vách dựng đứng.
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Hình 1.6: Một số kí hiệu riêng
1.3.2. Nguyên tắc chọn khoảng cao đều
Chênh cao giữa hai đường bình độ liền kề nhau được gọi là khoảng cao
đều, kí hiệu là E. Việc chọn trị số E phải đảm bảo tính kỹ thuật và tính kinh tế.
Trị số E càng nhỏ thì mức độ biểu thị địa hình trên bản đồ càng chính xác
nhưng đòi hỏi khối lượng đo đạc ở thực địa càng nhiều và giá thành càng cao.
Ngoài ra trị số E còn phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ và độ dốc địa hình khu đo. Tỷ
lệ bản đồ nhỏ và độ dốc địa hình lớn thì không thể biểu thị giữa các đường
bình độ với khoảng cách cao đều nhỏ được bởi vì các đường bình độ dễ chồng
lên nhau.
Trên cơ sở cân nhắc kỹ thuật và tính kinh tế, trong quy phạm người ta
chọn trị số E cho từng vùng địa hình với từng loại tỷ lệ bản đồ nêu trong bảng
dưới đây:
Khoảng cách đều E (m)
TT
Vùng địa hình với độ dốc
v
1:500
1:1000
1:2000
1:5000
1:1000
0
2,0
2,5
5,0
5,0
1.3.3. Các phương pháp vẽ đường bình độ
1.3.3.1. Phương pháp giải tích
Giả sử, trên thực địa có hai điểm A, B đã biết độ cao H A, HB và chênh cao
h = HA - HB. Nếu coi AB là dốc đều thì theo tỷ lệ bản đồ 1:M bd ta biểu thị trên
mặt phẳng bản đồ hai điểm tương ứng với a và b có chiều dài ngang S. Ta cần
vẽ ba đường bình độ với khoảng cao đều cho trước.
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
13
13
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Hình 1.7
Trên hình 7, ta kí hiệu ΔE 1 và S 1 là chên cao và khoảng cách ngang giữa
bình độ HII = 18m.
Tuy phương pháp giải tích này chỉ có ý nghĩa lý thuyết trong thực tế ít
dùng, nhưng nó lại là cơ sở để thành lập phần mềm vẽ đường bình độ của bản
đồ địa hình.
1.3.3.2. Phương pháp đồ giải
Vận dụng lý thuyết của phương pháp giải tích, để thay cho việc tính trị
số S1, S2 theo tỷ lệ ta kẻ sẵn trên tờ giấy can các đường cong có giãn cách là E.
Khi đặt tờ giấy này lên đoạn ab ta phải xoay nó sao cho vị trí hai điểm a
và b ứng với độ cao đã quy ước trên đường song song.Giao điểm giữa các
đường song song với đoạn ab chính là vị trí cá điểm 1, 2, 3… tương ứng với
các đường bình độ HI, HII, HIII.
1.3.3.3. Phương pháp nội suy bằng mắt
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
15
15
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Phương pháp giải tích và đồ giải có độ chính xác cao nhưng khi đo vẽ bản
đồ tỷ lệ lớn ở khu vực rộng, số lượng đường bình độ nhiều thì hiệu quả kinh tế
thấp. Vì thế vận dụng nguyên lý của phương pháp giải tích có thể dùng mắt để
1.5. Các công tác trắc địa phục vụ đo vẽ và tính khối lượng mỏ lộ thiên
1.5.1. Lưới khống chế cơ sở mặt bằng
Lưới khống chế cơ sở ở mỏ lộ thiên (bao gồm lưới khống chế cơ sở mặt
bằng và độ cao)là tập hợp những điểm của lưới tam giác nhà nước các cấp,
các điểm của lưới giải tích và các điểm của đường chuyền đa giác. Những
điểm này được bố trí trên bề mặt khu mỏ, chức năng chủ yếu của chúng làm
cơ sở cho việc thành lập và phát triển mạng lưới khống chế đo vẽ trên các
tầng khai thác, phục vụ thành lập các loại bản đồ tỷ lệ 1:200 đến 1:2000 và
các công tác trắc địa chuyên dụng khác.
1.5.1.1. Lưới giải tích
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
17
17
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Lưới giải tích được thành lập và phát triển dựa vào các điểm của lưới
tam giác nhà nước
Ở Việt Nam, các khu tập trung mỏ được phân bố chủ yếu ở các vùng có
bề mặt địa hình phức tạp, đồi núi dốc thẳm, rừng rậm, sông suối chia cắt, điều
kiện khí hậu thay đổi… Việc áp dụng các chỉ tiêu kỹ thuật của Tổng cục địa
chính (cũ) về thành lập lưới tam giác gặp nhiều khó khăn, thậm chí không thể
- Trung bình
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
18
18
5km
1km
4km
0.8km
3km
0.5km
20o
20o
20o
10
20’’
10
30’’
10
40’’
800
200
150
1:8000
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
- Dài nhất
- Ngắn nhất
Chiều dài lớn nhất dường chuyền phù hợp
Sai số trung phương đo góc
1500
200
4’’
500
100
2.500
7’’
300
sau:
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
19
19
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Các góc ngoặt của đường chuyền phải lớn hơn 135o, chiều dài cạnh lớn
hơn 250m, việc đo góc phải được tiến hành với các máy móc có độ chính xác
cao. Sai số góc thỏa mãn:
fβ ≤ 10 Đối với đường chuyền cấp 1
fβ ≤ 20 Đối với đường chuyền cấp 2
Trong đó n là số góc ngoặt của đường chuyền
Chiều dài của đường chuyền cấp 1 được đo bằng dây inva, thước thép,
hoặc máy đo dài điện tử.
Sai số tương đối chiều dài cạnh đo phải đảm bảo độ chính xác 1:15000
với đường chuyền cấp 1 và 1:8000 đối với đường chuyền cấp 2.
Chiều dài tối đa giữa hai điểm khởi tính không vượt quá 10km.
1.5.2. Lưới khống chế cơ sở độ cao
Lưới khống chế cơ sở độ cao ở mỏ lộ thiên là tập hợp các điểm thuộc
mạng lưới thủy chuẩn nhà nước cấp I, II, III, IV.
Các điểm này làm cơ sở để chuyền độ cao cho các điểm của lưới khống
chế đo vẽ trên các tầng khai thác. Thông thường trên khu vực mỏ chỉ có các
đọc lấy theo chỉ giữa, chỉ trên, chỉ dưới của mặt đen và chỉ giữa của mặt đỏ.
Độ chênh cao tính theo mặt đen và đỏ không được chênh quá 3mm.
Khoảng cách từ máy đến mia không vượt quá 80m, chiều cao tia ngắm phải
cao hơn mặt đất 0.3m. Chênh lệch khoảng cách giữa máy đến mia trước và
mia sau không quá 3m.Chênh lệch khoảng cách trên toàn tuyến không vượt
quá 5mm.
Việc xử lý các kết quả đo đạc với lưới thủy chuẩn cấp IV được tiến hành
bằng phương pháp gần đúng.
1.5.3. Thành lập lưới khống chế đo vẽ
Để phục vụ cho công tác đo vẽ chi tiết thành lập bản đồ và các công tác
trắc địa khác, trên cơ sở mạng lưới giải tích 1 đã có, lưới khống chế đo vẽ được
thành lập bằng phương pháp giao hội. Có nhiều phương pháp giao hội điểm,
điển hình là 3 phương pháp sau:
+ Phương pháp giao hội thuận.
+ Phương pháp giao hội nghịch.
+ Phương pháp giao hội tam giác đơn.
1.5.3.1. Phương pháp giao hội thuận
Điều kiện để thực hiện phương pháp này là phải có ít nhất hai điểm khống
chế cơ sở từ lưới giải tích 2 trờ lên và các điểm này phải thông hướng với nhau.
Đặt máy tại điểm khống chế A,B đo các góc bằng β1, β2 ta sẽ xác định được tọa
độ mặt bằng của điểm P.
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
21
21
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
22
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Hình 1.11 : Sơ đồ đo giao hội nghịch
Tọa độ của điểm P có thể xác định bằng nhiều phương pháp. Ở đây sẽ
giới thiệu phương pháp góc phụ. Từ hình vẽ ta có:
o
- (α +β +γ)
tg() = tg(45o + M).tg()
Xp = Xc + SBC. cos(σBC - ψ)
Yp = Yc + SBC . sin(σBC - ψ)
Phương pháp này tính toán phức tạp, độ chính xác giảm dần khi các
điểm càng gần vòng tròn nguy hiểm. Nhưng công tác ngoại nghiệp ít, có thể
kết hợp khi đo chi tiết sau khi đo giao hội nghịch.
Trong giao hội nghịch nên bố trí điểm P xa vòng tròn nguy hiểm khoảng
1/5R vòng tròn của nó. Nếu p nằm trên vòng tròn nguy hiểm thì sẽ không xác
định được điểm p. Theo quy phạm thì điểm giao hội nghịch phải đo về 4 điểm
khống chế cơ sở, điều này làm giảm khả năng ứng dụng đặc biệt đối với mỏ
khai thác xuống sâu.
1.5.3.3. Phương pháp giao hội tam giác đơn
Là một dạng của giao hội thuận nhưng ngoài việc đo 2 góc β1, β2 người
ta còn đo thêm góc β3 tại điểm giao hội P. Như vậy, có điều kiện kiểm tra các
góc trong tam giác, sai số khép tam giác được tính theo công thức :
Khi đó độ cao của điểm giao hội là :
HiP = Hi + ∆hi
Độ cao điểm đo vẽ được tính từ hai hướng tới. Giá trị độ cao là giá trị
trung bình cộng của độ cao điểm giao hội xác định từ hai hướng tới.
Hp = (H 1P + H 2P )
Sinh viên : Hoàng Tiến Thành
24
24
Lớp : Trắc địa Mỏ - Công Trình K55
Đồ án tốt nghiệp
Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Hình 1.13 : Sơ đồ đo cao lượng giác.
Trong đó:
Hi - độ cao điểm cơ sở.
∆hi - chênh cao giữa điểm khống chế thứ i đến điểm giao hội.
s - khoảng cách giữa điểm khống chế thứ i tới điểm giao hội.
V - giá trị góc nghiêng.
i - chiểu cao máy t.
t - chiều cao tiêu.
1.6. Đo vẽ chi tiết thành lập bản đồ địa hình mỏ lộ thiên
Đo vẽ chi tiết là một dạng công tác trắc địa quan trọng thường xuyên ở
mỏ lộ thiên. Nội dung cơ bản của nó là thông qua các phép đo đạc, tính toán