TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
SỰ TIẾP NỐI CẢM HỨNG LÃNG MẠN ANH
HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA
NGUYÊN NGỌC SAU 1975
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Phân môn : Văn học Việt Nam từ 1945 đến nay
SV thực hiện:Trần Khoa Nguyên - K39.601.082
Tưởng Anh Thư
- K39.601.126
Lê Thị Diễm My
- K39.601.073
Ung Thị Hải Vân
- K39.601.156
Lê Thị Hà Giang
- K39.601.024
1
GIẢNG VIÊN HƯỚNG
DẪN
- K39.601.024
GIẢNG VIÊN HƯỚNG
DẪN
TS. Bạch Văn Hợp
Tháng 3 năm 2016
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái quát văn học Việt Nam sau 1975
1.1.1. Bối cảnh lịch sử –xã hội và yêu cầu đổi mới văn học
Với chiến thắng mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc bước sang một trang mới, một
kỷ nguyên hòa bình, thống nhất, độc lập tự do xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, đây cũng là
một thời kì vô cùng khó khăn với nhu cầu cấp thiết là khôi phục và phát triển đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã chỉ rõ: Đổi mới là “nhu cầu bức thiết”,
là“vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc. Trên đà đổi mới toàn diện và hội nhập
thế giới thì các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa cũng dần thay đổi cho phù hợp, cụ thể
như: nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, giao lưu văn hóa quốc tế được mở rộng,
văn học dịch sách báo, các phương tiện truyền thông xuất hiện phong phú,…
Hòa mình vào không khí đổi mới sôi nổi của đất nước, nền văn học cũng có những
chuyển biến nhất định. Đứng trước thực tại đó, văn học với chức năng phản ánh hiện thực
cần phải đổi mới. Sự đổi mới trong văn học đã manh nha vào từ cuối những 1970 qua các
cuộc trao đổi về chiến tranh, qua những tìm tòi và thể nghiệm cả trên hoạt động sáng tác
và phê bình văn học. Có thể khẳng định đổi mới văn học lúc này là hoàn toàn phù hợp với
quy luật khách quan. Nhu cầu đổi mới văn học đã thực sử trở thành đòi hỏi chung của cả
giới sáng tác, lý luận lẫn công chúng.
Trong quá trình đổi mới đó văn học cũng đặt ra cho mình hai nhiệm vụ cấp thiết và
quan trọng hàng đầu là: yêu cầu đổi mới trong tư duy nghệ thuật và yêu cầu đổi mới theo
bản, văn học không hạ thấp, hoài nghi họ mà thay vào đó là sự thông cảm, thấu hiểu và
nâng đỡ để con người luôn thức tỉnh và hướng tới cái thiện.
c) Văn học phát triển phong phú và hướng đến tính hiện đại
Có thể khẳng định rằng xu hướng dân chủ hóa và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã đưa
đến sự phát triển phong phú và đa dạng văn học sau 1975. Sự đa đa dạng và phong phú về
đề tài, thể loại, thủ pháp nghệ thuật, khuynh hướng sáng tác,…Tuy nhiên sự đa dạng và
5
phong phú ấy lại gắn liền với tính phức tạp và không ổn định. Đây chính là biểu hiện tất
yếu của giai đoạn giao thời văn học.
Khi đất nước mở cửa đón những luồng gió mới về văn hóa, tư tưởng đi cùng với nhu
cầu nội tại về đời sống văn hóa, tinh thần thì văn học cũng có sự gia tăng tính hiện đại.
Chẳng hạn, văn xuôi có nhiều đổi mới về nghệ thuật tự sự như sự thay đổi từ điểm nhìn
trần thuật đến nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ đối thoại và dòng ý thức, tính đa
thanh,… Còn trong thơ ca, thì sự cách tân mang đến nhiều trải nghiệm mới mẻ theo
hướng đại chúng, thu hút sự quan tâm của cả giới sáng tác, phê bình lẫn đọc giả.
Từ những đặc điểm điểm nêu trên đã dẫn đến sự chuyển biến trong quan điểm về con
người trong văn học. Nếu văn học trước năm 1975 con người sử thi là đối tượng được tập
trung phản ánh thì văn học giai đoạn này đào sâu khai thác con người cá nhân trong mối
quan hệ đời thường. Văn chương cũng đi vào tìm tòi khám phá nhiều mặt đời sống, tính
nhân loại được đề cao so với tính giai cấp của văn học thời chiến. Có thể nói văn học giai
đoạn này mang tính nhân bản bởi không còn những nhân vật chỉ được khắc họa ở phẩm
chất, tinh thần với đời sống ý thức mà họ còn là những con người biết sống, biết yêu, có
những khát khao tự nhiên.
Tóm lại: Văn học sau 1975 có vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới văn học, có
những bước đi vững chắc trên con đường hiện đại hóa dân tộc và hội nhập thế giới. Văn
học giai đoạn này không chỉ hoàn tất tiến trình văn học thế kỉ XX mà còn mở ra một viễn
cảnh mới cho văn học thế kỉ XIX.
thường, siêu phàm mà những người thường không có được. Hình tượng người anh hùng
xuất hiện trong văn học dân gian, văn học trung đại và đến văn học Việt Nam hiện đại.
Văn học Việt Nam hiện đại bắt nguồn từ thế kỉ XX và ngày càng phát triển. Ở giai
đoạn văn học 1900 – 1930 được xem là thời kì mở đầu cho nền văn học Việt Nam hiện
đại. Trong những năm 1930 – 1945, văn học phát triển rực rỡ và ảnh hưởng nhiều từ
phương Tây. Văn học giai đoạn này thiên về giày bày tâm tư, tình cảm cá nhân và phản
ánh phần nào về xã hội đương thời. Sang những năm 1945 nền văn học Việt Nam đã phát
triển theo một trào lưu mới. Một hiện tượng đặc thù trong văn học giai đoạn 1945 – 1975
là gắn liền và phản ánh đời sống chiến đấu của nhân dân Việt Nam qua hai lần kháng
chiến. Đây là nền văn học song hành với cuộc đấu tranh hào hùng giải phóng dân tộc, giải
phóng đất nước. Đi vào tìm hiểu quan niệm và cách xây dựng nhân vật trong nền văn học
hiện đại chúng ta sẽ nghiên cứu đến những vấn đề có liên quan trong nền văn học cách
mạng 1945 – 1975. Không phải từ đầu thế kỉ XX đến những năm trước 1945 không có
hình tượng nhân vật anh hùng nào được xây dựng trong văn học. Chính vì thế khi tìm
7
hiểu người anh hùng trong giai đoạn này sẽ mang tính chất tập trung và cơ bản cho vấn đề
nghiên cứu hình tượng người anh hùng trong văn học hiện đại.
Tiêu biểu cho văn học đậm chất trữ tình, cảm hứng lãng mạn là tác phẩm Hòn đất của
Anh Đức. Nhân vật trong tác phẩm là những con người hoàn hảo, mang những lí tưởng
cao đẹp và trong sáng. Đóng góp đáng kể về những người anh hùng phải kể đển những tác
phẩm như: Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng),
Sống như anh (Trần Đình Vân). Nhiều tác phẩm trực tiếp thể hiện hình ảnh nhân dân
trong quá trình thức tỉnh cách mạng và cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng anh hùng như:
Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Quán rượu người câm (Nguyễn Quang Sáng), Một
chuyện chép ở bệnh viện (Bùi Đức Ái).
Ở giai đoạn này, nhân vật trung tâm của tác phẩm là người chiến sĩ. Đó là những con
người đại diện cho khát vọng và ý chí chiến thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Tác giả đặt nhân vật trong hoàn cảnh gay go và thử thách trong chiến tranh để từ đó làm
Ông cũng là nhà văn trưởng thành cả trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Năm
1962 trở về Nam và ra tham gia chiến đấu, hoạt động văn nghệ. Tác phẩm tiêu biểu: Trên
quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969), Đất Quảng (tiểu thuyết)
Nói đến Nguyên Ngọc là ní đến Tây Nguyên, trong hai cuộc kháng chiến ông đều gắn
bó với vùng đất Tây Nguyên. Ông là một nhà văn gần gũi, hiểu biết cuộc sống của nhân
dân các dân tộc thiểu số. Trong đó, tác phẩm Đất nước đứng lên, Rừng xà nu được xem là
một bản hùng ca đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của người dân
Tây Nguyên.
1.2.2.2.Biểu hiện của cảm hứng lãng mạn anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật
Nguyên Ngọc
a) Trước 1975
Văn học là sự phản ánh trung thực hình ảnh của đời sống xã hội. Trong các trang viết
của mình, Nguyên Ngọc đều nhất quán với cảm hứng anh hùng. Những vấn đề được đề
cập đến trong tác phẩm là những vấn đề trọng đại của dân tộc. Những người anh hùng
trong sáng tác của ông luôn đậm tính chiến đấu, phản ánh kịp thời với những sự kiện lớn
của dân tộc, của đất nước.
Nguyên Ngọc luôn ý thức rõ, vai trò, sứ mệnh của nhà văn – chiến sĩ. Ông đã dùng
văn chương của mình làm vũ khí chiến đấu. Tiêu biểu là tác phẩm Đất nước đứng lên, nó
như một bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tác phẩm còn thể hiện tinh
thần quật cường, ý chí quyết chiến, quyết thắng, với lòng yêu chuộng tự do, độc lập của
nhân dân Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng, của cách mạng họ đã đứng lên chống
9
lại kẻ thù xâm lược. Nhân vật người anh hùng trong văn học giai đọan này là những con
người xuất hiện trong đời sống thường ngày. Họ là những con người nghèo khổ thuộc
tầng lớp lao động trong xã hội. Trong hoàn cảnh ấy, họ đã vươn để trở thành người anh
hùng cách mạng mang những lí tưởng cao đẹp.
Nhân vật anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên là một ví dụ điển hình nghệ thuật
cho: người thực, việc thực, anh là người anh hùng miền núi Tây Nguyên. Ông đã xây
Thế nhưng bằng chính năng lực và nhiệt huyết của mình nhà văn đã chứng minh cho
chúng ta thấy rằng ông đã đúng khi suốt đời theo đuổi hình tượng anh hùng. Viết về đối
tượng cũ nhưng giọng văn ngày càng hào hứng, sôi nổi song cũng không kém phần da
diết, suy tư. Không bó hẹp phạm vi đề tài, giờ đây ông tìm đến những vùng núi cao hiểm
trở, về với biển cả xa xôi – những nơi đã và đang sinh ra những anh hùng trong chiến đấu,
trong cuộc sống và trong tình yêu.
Nếu trước chiến thắng 1975 lịch sử, ta bắt gặp hình ảnh hiên ngang, trung dũng của
cụ Mết, Tnú, Mai,.. của anh hùng Núp,…những người dân Tây Nguyên kiên cường trong
chiến đấu thì sau 1975 vẫn là những con người gan góc, kiên cường chỉ khác là họ về với
cuộc sống đời thường với bộn bề lo lắng. Đến với những tác phẩm như Trở lại Mèo Vạc,
Tháng ninh nông, Có một con đường mòn trên biển đông,…bạn đọc như được sống trong
từng hơi thở của núi rừng hoang dại, của biển cả mênh mông bí hiểm. Người anh hùng
trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975 là những con người bình dị và điều đặc
biệt là họ rất nổi bật. Những con người mang vẻ đẹp, sắc vóc của thiên nhiên nhưng
những huyền thoại, những anh hùng sử thi. Tuy văn học giai đoạn này yêu phản ánh chân
thực, “người thực, việc thực” song ta vẫn thấy trong tác phẩm của Nguyên Ngọc một
luồng gió lãng mạn, lung linh hùng vĩ đến mức khó tin.
Với tư cách một con người bước ra từ chiến trường ác liệt, Nguyên Ngọc vô cùng trân
trọng và biết ơn những người anh hùng có tên tuổi hay vô danh đã mãi mãi nằm xuống để
giành lại độc lập dân tộc. Tuy nhiên, đối với những con người may mắn sống sót để nhìn
thấy thắng lợi vẻ vang của dân ta, những con người đã được trở về với gia đình, xứ sở
thân yêu ông còn lại vô cùng ân hận, day dứt. Những người anh hùng năm xưa giờ đây
đang chới với giữa cuộc sống, những khó khăn, bất hạnh đè nặng lên đôi vai họ. Ông
chưa bao giờ thôi trăn trở về sự hy sinh và mất mát ấy. Những trang văn Nguyên Ngọc
như một lời thúc giục, thức tỉnh những con người đang chìm đắm trong sung sướng, đủ
đầy những con người đã quên đi cội nguồn hạnh phúc hôm nay họ đang thụ hưởng.
11
chúng, mà “là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con
12
người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh
của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội…”.1
2. Giai đoạn trước 1975, với cảm hứng lãng mạn anh hùng, Nguyên Ngọc đã xây
dựng hình tượng người anh hùng tiểu biểu cho sức mạnh đồng thời ca ngợi vẻ đẹp và tinh
thần quả cảm. Họ là những người quên mình vì nước, hi sinh hạnh phúc riêng và đánh đổi
tuổi thanh xuân của mình. Viết về người anh hùng với thái độ tôn vinh, trân trọng. Sau
1975, văn học đã có bước chuyển mình. Nguyên Ngọc vẫn nhất quán với cảm hứng lãng
mạn anh hùng. Cuộc sống phản ánh toàn diện về những góc khuất trong tâm hồn con
người nên người anh hùng được nhìn một cách đa dạng, nhiều chiều hơn. Họ thay đổi
ngay cả cách nhìn và cách nghĩ. Con người được nhìn ở góc độ cá nhân.
1 Nghị quyết của Bộ Chính trị về văn học, nghệ thuật và văn hóa (Tuần báo Văn nghệ, số 51-52, ngày
19.12.1987).
13
CHƯƠNG 2: SỰ TIẾP NỐI NHẤT QUÁN TRONG CẢM HỨNG LÃNG
MẠN ANH TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN NGỌC SAU
1975
2.1. Sự nhất quán trong đề tài, chủ đề
2.1.1.Đề tài
Lịch sử văn học nước ta hàng ngàn năm qua chứng kiến bao người anh hùng từ Thánh
Gióng, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo,… trong văn học trung đại đến anh giải phóng quân,
mẹ Bầm, mẹ Suốt,… trong văn học hiện đại, đặc biệt là dòng văn học cách mạng. Họ là
những con người bình dị không kể già trẻ, lớn bé đều một lòng chiến đấu giành độc lập,
Ngọc suốt đời săn tìm những tính cách anh hùng, những sự tích anh hùng”. [1]
Nếu trước năm 1975, Nguyên Ngọc viết nhiều về đất Tây Nguyên thì sau năm 1975
ông còn viết về Hà Giang rồi cả vùng xuôi, vùng biển. Bởi ông tìm được phần nào hơi
thở, vóc dáng người anh hùng ở con người vùng núi, vùng biển. Những con người sinh ra
dưới sự đùm bọc của thiên nhiên hùng vĩ, hoang dại và cũng chất chứa nhiều điều bí mật.
Đó là những cô gái như Chiện, Sáu Thùy, Thào Mỹ: “Một vẻ đẹp rất lạ, cuốn hút vô
cùng, khi im lặng trầm uất như một ngọn núi Mèo cô độc, khi lẳng lơ như những bông
hoa thuốc phiện quyến rũ, khi phấp phới như ngọn gió ào ạt trên đỉnh Săm Pun…” ( Trở
lại Mèo Vạc) – mang vẻ đẹp hoang dã, rực rỡ, từng ngoan cường đánh giặc, rồi yêu
thương đến mức cuồng nhiệt và cũng không kém phần liều lĩnh. Những người anh hùng
của Nguyên Ngọc khá đặc biệt, họ ở vùng núi cao, nơi mọi người phải ngước nhìn cho rõ
mặt: “hình như gần trời hơn, nên (…) to hơn, lóng lánh hơn và trong sạch hơn” (Kỷ niệm
Tây Nguyên) bằng không thì họ là những con người ở vùng biển xa xôi, cống hiến lặng lẽ
hoặc vĩnh viễn nằm lại dưới đáy biển sâu,…
Vẫn tiếp nối hình tượng người anh hùng bằng ngòi bút lãng mạn song những con
người sắt thép xưa kia đã được thay thế bởi những con người của cuộc sống đời thường,
biết yêu thương và anh hùng trong tình yêu. Trước và sau chiến tranh nhà văn Đất Quảng
vẫn viết về người anh hùng, nếu trước chiến tranh ông dành cho họ những lời ca ngợi thì
sau chiến tranh ông lại dành nhiều sự cảm thông, trân trọng.
2.1.2.Chủ đề
Mỗi nhà văn, nhà thơ có một phong cách riêng, ở đó họ thỏa sức vẫy vùng thể hiện cá
tính sáng tạo và đam mê. Đề tài người anh hùng vốn là đề tài quen thuộc trong văn học.
Vì vậy, để tạo nên diện mạo riêng cho mảng đề tài này người cầm bút nói chung và
Nguyên Ngọc nói riêng đã có những hướng đi nhất định.
15
Nhìn lại chặng đường nghệ thuật của ông có thể thấy rằng trước giải phóng nhà văn
Đất Quảng đi vào khai thác sự trưởng thành của người anh hùng trong chiến đấu. Làm sao
gắng xoay xở, tìm cách tiến về phía trước. Câu chuyện cảm đồng về Má Mười làm chúng
tôi bâng khuâng mãi. Má được giao nhiệm vụ “Phải mua một cái ghe cỡ sáu tấn, một cái
máy Yanma, xăng dầu, gạp, mắm muối, đủ đi ra tới miền Bắc. Phải có cả lưới để ngụy
trang làm ghe đánh cá. Rồi phải mua mươi tấn gạo để dự trữ ở bến để chờ đón tàu
vô…”(Có một con đường mòn trên biển Đông).Mười đồng thời đó thì được là bao mà má
phải mua từng ấy thứ mà thứ nào cũng đắc cả. Nhưng má không ngại, bởi “dầu phải sống
cùm kẹp trong ấm chiến lược của nó nhưng bụng dạ đều hướng về cách mạng”. Những
con người bình thường nhưng với sức mạnh phi thường, họ mang trong mình sứ mệnh lớn
lao và một niềm tin tuyệt đối vào cách mạng và chiến thắng không xa của toàn dân tộc.
Dường như niềm tin tưởng, lạc quan đã bao trùm đời sống chiến đấu lúc bấy giờ. Già,
trẻ lớn bé tất cả điều hân hoan, điều kiên định và anh dũng chiến đấu tới phút cuối cùng.
Trong một lần trở lại Mèo Vạc – Đồng Văn, nhà văn Nguyên Ngọc có dịp tìm gặp người
con gái năm xưa – Thào Mỹ, cô giao liên người H’mông. Nhiều thanh niên dân tộc như
Thào Mỹ đã xung phong đánh giặc hoặc làm công việc giao liên, hậu cần. Tất cả đều căng
tràn nhựa sống, đều kiên định một lòng với dân, với nước. Dường như những cực hình
của giặc Mỹ chẳng là gì so với ý chí sắt đá của họ: “Hôm mới chiếm Lũng Phìn, bọn phỉ
bắt được năm cô gái mậu dịch, đã giở trò tùng xẻo, cắt mũi, cắt tai, cắt vú, mổ bụng moi
tim nấu ăn thật sự…còn tìm được cái chảo rán mỡ người” (Trở lại Mèo Vạc). Như đã nói,
chính chiến tranh, chính bọn đế quốc thực dân man rợ đã biến nhân dân ta trở thành
những con người quả cảm. Những người anh hùng thật sự chứ không phải nhân vật cổ
tích, sử thi.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng chúng ta như vừa được sống lại những giây phút hào
hùng, khốc liệt của cuộc kháng chiến. Những người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật
Nguyên Ngọc là những con người có trái tim sắt thép trước những thủ đoạn tra tấn tàn ác
nhưng đó lại là trái tim nồng ấm tình yêu quê hương, đất nước, đồng bào.
2.2.2. Sự hy sinh thầm lặng trong chiến tranh
Hòa bình lập lại trên muôn nẻo quê hương nhưng những tổn thất và đau thương để lại
là quá lớn. Chúng ta tự hào, hân hoan vì thắng lợi vẻ vang, vì độc lập tự do nhưng đằng
hậu cần với nhiệm vụ tiếp tế thuốc men cho cách mạng. Thời đó, thuốc Tây quý lắm! Nó
là món cần thiết nhất với bộ đội ta. Những lần bị địch càn quét, các chị bị đánh “sưng
mặt, gãy tay… là chuyện thường. Có khi nó đánh chết”. Rồi có một lần không may mắn,
chị Hoa bị địch dồn vào đường cùng, sợ chúng phát hiện chị đã tống hết số thuốc vào
miệng. Như lời chị kể thì chị bị điên sau đó, điên mất ba tháng: “Mặt méo xệch đi. Tóc
rụng sạch. Mặt sưng vù. Miệng vêu lên. Răng rụng…”. Tuy sau đó sức có yếu đi nhưng
chị vẫn tiếp tục làm công việc hậu cần nguy hiểm cho đến hết chiến tranh.
18
Những đau đớn về mặt tinh thần là nỗi đau sâu nhất đối với mỗi con người. Sự tình
yêu thương, sự đùm bọc lẫn nhau họ đã chiến thắng chính bản thân và kẻ thù xâm lược.
Quên đi mặc cảm, xấu hổ và tủi nhục họ đã giành lại sự sống cho chính bản thân, cho
đồng đội. Tất cả sự hy sinh trong chiến tranh điều mang ý nghĩa thiêng liêng dù họ là
những người đã mãi mãi yên nghĩ hay những người còn tiếp tục chiến đấu trong cuộc
sống hiện tại. Xin mượn hai câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm để nói về những
người anh hùng đã thầm lặng hy sinh vì độc lập, tự do dân tộc:
“Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”.
(Đất nước)
2.2.3. Kiên cường vượt lên số phận trong thời bình
Ý chí kiên cường, sắt thép trong chiến tranh tiếp tục song hành cùng người anh hùng
trong thời bình. Tưởng chừng khó có thể hòa nhập lại với cuộc sống hậu chiến nhưng
bằng đôi tay, khói ốc và ý chí vững vàng các mẹ, các anh, các chị đều đã vượt lên hoàn
cảnh và vươn đến một cuộc sống tốt đẹp. Như má Mười tuy già nua nhưng vẫn cố gắng tự
nuôi sống bản thân bằng đồng lời ít ỏi: “Má Mười đang làm việc tức là bán quán… Một
thứ hàng tạp hóa nhà quê, bán vô số những vật dụng linh tinh, lộn xộn, không tên: vài
mình, họ xứng đang được ngợi ca và trân trọng.
Nguyên Ngọc dành nhiều sự thành kính, biết ơn những người anh hùng đã khuất,
những người đã hy sinh xương máu cho độc lập hôm nay. Những chiến sĩ tử nạn trên
Đoàn tàu không số, những cán bộ, chiến sĩ, giao liên, hậu cần đã hi sinh khi làm nhiệm
vụ, bị địch càn quét. Dù không còn nữa nhưng họ vẫn hiện lên hiên ngang, rực rỡ như
những đóa hoa bất tửsống mãi trong mỗi trang văn Nguyên Ngọc và trong lòng nhân dân.
Vẫn là những nét đẹp, những phẩm chất hồn hậu vốn có họ bước ra khỏi cuộc chiến.
Khi đất nước chuyển mình, bước đầu đổi mới và hội nhập thế giới thì những con người
trung kiên trong thời chiến giờ đây cũng dần bắt đầu cuộc mưu sinh, hòa mình vào môi
trướng mới. Giờ đây họ là những người sản xuất kinh tế giỏi, những người mẹ gương
mẫu. Họ làm tất cả mọi công việc để trang trải cuộc sống như: làm nông, buôn bán hay
chài lưới. Dù là công việc nào đi chăng nữa họ vẫn sống thật tốt với bổn phận của mình.
Bỏ lại sau lưng những hy sinh, mất mát những người anh hùng thời chiến trở về với
cuộc sống bình thường. Về với quê hương, xứ sở sống với mảnh đất chôn rau cắt rốn để
20
hưởng trọn kiếp người. Không bon chen, không tranh đấu họ chọn cho mình một cuộc đời
thầm lặng. Những con người ấy mãi là biểu tượng cao đẹp, sáng ngời .
2.3.2. Ngậm ngùi, trăn trở trước số phận của người anh hùng trong thời bình
Không chỉ dành những lời ca ngợi, khích lệ, chất chứa trong từng câu chữ của
Nguyên Ngọc là sự ngậm ngùi, trăn trở trước số phận của người anh hùng trong thời bình.
Chiến tranh qua đi để lại bao đau thương, mất mát nặng nề cho toàn dân tộc, đặc biệt là
những người ở lại, những người phải tiếp tục sống, tiếp tục đi về phía trước. Giờ đây, nhà
văn có cơ hội và nhiều thời gian để nhìn lại những người anh hùng ngày trước. Mới hôm
qua đó họ còn hiên ngang, anh dũng nơi tuyến đầu Tổ quốc nay họ đã thành một người
công nhân, nông dân, ngư dân,… Đi sâu vào cuộc sống đời thường để có cái nhìn đa diện
hơn về người, về đời. Họ không bị thần thánh hóa, họ được sống tự nhiên với những khát
khao, dục vọng như nhiều người bình thường vẫn có. Trong Người hát rong giữa rừng, Y
Bằng những tác phẩm sau 1975, Nguyên Ngọc không chỉ đi vào cuộc sống thường
nhật, ca ngợi người anh hùng thời hiện đại mà sâu xa hơn là giá trị nhân bản tiềm ẩn. Nhà
văn viết cho sự ân hận và trăn trở của bản thân hay cũng là viết cho chúng ta – những con
người đang lãng quên quá khứ?
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Sau năm 1975, tuy đời sống xã hội thay đổi nhưng với một lối viết nhạy cảm và trung
thành với đề tài chiến tranh cách mạng Nguyên Ngọc vẫn bám sát cuộc sống, vẫn luôn
lắng nghe từng hơi thở, nhịp đập của cuộc sống đặc biệt là cuộc sống hiện tại của những
người anh hùng – những người trước tiếp tục chiến đấu và phục vụ cho sự nghiệp của tổ
quốc.
Hình ảnh người anh hùng hiện lên qua những lời kể của chính bản thân họ sau chiến
tranh. Nguyên Ngọc ghi chép lại toàn bộ những câu chuyện ấy như những báu vật thiêng
liêng của đời mình. Họ như những người bạn đường song hành cùng ông cho đến cuối
cuộc đời. Với bao yêu thương trân trọng của mình nhà văn Nguyên Ngọc đã thể hiện thấm
đẫm qua từng trang văn những cảm xúc chân thực về quá khứ và hiện tại, về chiến tranh
và hòa bình mà ở đó người anh hùng là trung tâm.
Mội bài viết là một lần nhà văn Đất Quảng ân hận và trăn trở về cuộc sống và sống
phận cá nhân của những người anh hùng. Tuy khó khăn vất vả song họ vẫn vui tươi và
kiên cường vượt qua. Không còn viết theo khuynh hướng sử thi song những người anh
hùng trong tác phẩm nghệ thuật của ông vẫn đậm đà vẻ đẹp hiên ngang, cao lớn và lãng
mạn. Trước sao hình tượng người anh hùng trong văn xuôi ông vẫn đẹp lý tưởng, đẹp
lung linh. Đúng như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nói: “Nguyên Ngọc trước sau
vẫn là một con người lãng mạn”.
22
23
nghĩ của nhân vật:“Chạy trốn điều gì, tôi cũng không biết. Đi đâu nữa bây giờ? Số phận
đã không dành cho tôi tháng Ning Nông Tây Nguyên. Thôi, tôi quay về đây, với thành
24
phố, với trăm sự eo xèo, nhiễu nhương, hữu tích sự và vô tích sự của cuộc đời. Bỏ lại phía
sau một mùa Ning Nông, mùa xuân của Tây Nguyên, đang đến.”
Đây cũng là điều mà bất cứ ngôi kể nào khác cũng không làm được bởi ngay khi đó,
người đọc như được đắm mình vào nhân vật. Câu chuyện kết thúc với hình ảnh vô cùng
lãng mạn: “Bỏ lại phía sau một mùa Ning Nông, mùa xuân của Tây Nguyên, đang đến”.
Khi “tôi” đến trời mưa, khi “tôi” đi trời vẫn mưa nhưng đã sắp chuyển sang một mùa
xuân tươi sáng, cây cối sẽ đâm chồi nảy lộc. Một kết thúc đóng nhưng thực ra là mở với
câu nói ấy. Chắc hẳn ta cũng thấy tâm hồn “tôi” nhẹ nhõm, và người đọc sẽ cảm thấy một
vẻ đẹp gì đó, mường tượng như được nhìn thấy cầu vồng sau mưa?
Trong quá trình dẫn dắt người đọc thông qua từng câu chuyện, ngôi kể đã bắt đầu có
sự dịch chuyển. Nhân vật “tôi” không còn đóng vai trò chủ chốt mà trung tâm câu chuyện
đã được dịch chuyển lần lượt vào từng nhân vật, xoáy vào từng lời kể cũa họ. Trong Cát
cháy, nhân vật “tôi” phần nhiều là lắng nghe từng câu chuyện của mỗi con người nơi đây,
những câu chuyện cũng khốn khổ như cuộc sống của họ vậy. Điểm nhìn đã được dịch
chuyển từ “tôi” sang các nhân vật khác: chị Huyền, chị Cúc, anh hai Toán …, để mỗi
người tự kể về câu chuyện của mình, từ những câu chuyện chiến tranh cho đến những tẩn
mẩn, vụn vặt trong cuộc sống hiện tại. Thông qua lời kể mộc mạc, chân chất ấy, ta hoàn
toàn có thể cảm nhận được một cách rõ nét, sống động cũng như phần nào hình dung ra
được hình dáng những con người đó mặc dù Nguyên Ngọc đã rất hạn chế trong việc sử
dụng bút pháp miêu tả. Anh Hai Toán với cuộc sống mưu sinh vất vả nhưng vẫn tràn đầy
lòng yêu quê hương: “Tôi nghỉ hưu mấy năm nay rồi, lúc đầu cũng có nghĩ nên ở lại
thành phố hay ở huyện. Ở đó cũng có cái hay: đời sống văn hóa tinh thần thuận lợi, thông
tin nhiều. Con cái học hành cũng tiện… Nhưng rồi tính đi tính lại, cuối cùng thấy về đây
vẫn hơn. Mình từ đây mà ra đi. Đi ra thì có đi về, phải không các anh?... Đất quê mình
nghèo nhưng gắn bó. Những gì sâu sắc máu thịt nhất trong cuộc đời đều là ở đây…”. Hồi