Ma lực của hình ảnh trong văn học và nghệ thuật
Thạch Đào (1642 - 1707), Đối thoại
giữa hai đoá hoa (1694) Bài thơ ở
bên cạnh là của Vương Duy
(701-761), thi sĩ kiêm họa sĩ
thời nhà Đường, tả hoa mộc lan đang
nở và đang rụng ở trong núi.
Khỏi cần phải nói, ai cũng biết tầm quan trọng của hình ảnh trong đời sống của con người. Chúng ta
sống bao bọc bởi hình ảnh, và cần nó như cần ánh sáng để nhìn, không khí để thở. Đó chính là sự
sống phản ánh vào trong con mắt ta, và đó là một nguồn thông tin quý báu, cần thiết cho cuộc sống.
Hình ảnh còn là một công cụ diễn đạt nhạy bén, trực tiếp, nó nói lên được những điều mà ngôn ngữ
khái niệm không thể làm được. Điều này, con người đã phát hiện ra ngay từ thời còn ở hang động, khi
chưa có chữ viết.
Hình ảnh có một vai trò quan trọng trong chức năng diễn đạt, trong văn, thơ, cũng như trong
tất cả các ngành nghệ thuật tạo hình.
Hình ảnh trong văn, thơ, là hình ảnh ảo của sự vật mà ngôn ngữ văn chương gợi lên trong óc
tưởng tượng của chúng ta qua những khái niệm và qua những biểu tượng. Có lẽ chính bởi vì
nó không cụ thể, cho nên hình ảnh ảo mới có thể hài hoà được với cái ngôn ngữ khái niệm, rất
trừu tượng, nhưng lại có khả năng diễn đạt nội tâm của văn thơ. Chỉ cần đọc một vài đoạn thơ
cổ, hay thơ mới, là ta cũng thấy được rằng thơ cần hình ảnh, mặc dù đó chỉ là những hình ảnh
tượng trưng mà thôi:
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong...
Thâm Tâm, Tống biệt hành (1940)
Những câu thơ trên là những câu thơ giàu hình ảnh, nhưng chỉ là những hình ảnh trừu
tượng, hình ảnh của khái niệm. Tuy nhiên, chúng vẫn cho phép người đọc mường tượng được,
dù không phải là cùng những hình ảnh cụ thể mà nhà thi sĩ đã chính mắt nhìn thấy, nhưng
cũng là những hình ảnh đủ để nói lên một khung cảnh sông nước, một cái đẹp của hoàng hôn,
và một tâm sự lãng mạn.
hình dung trong đầu.
Điều này cũng gần như một quy luật, vì như ta biết, cái đẹp của hình tượng văn học mà ta cảm
thụ được trong óc tưởng tượng của ta, và ngay cả cái đẹp của một bức họa mà mắt ta nhìn
thấy, cũng không thể nào giống hoàn toàn với cái đẹp mà người khác ghi nhận được trong đầu
óc của họ. Đó là do cái bản chất “chủ quan” của sự phán đoán của con người trong lãnh vực
thẩm mỹ, mà nhà triết học Kant đã vạch rõ từ thế kỷ XVIII.
Trong lãnh vực điện ảnh, chẳng hạn, do tác phẩm điện ảnh là một sáng tác tập thể, cần một sự
thông suốt và một sự nhất trí cao độ giữa các cộng tác viên trong việc diễn dịch kịch bản bằng
hình ảnh, đôi khi người đạo diễn phải gợi lên cho mọi người cùng thông suốt các cảnh, và
ngay cả các nhân vật trong tác phẩm văn học bằng những hình ảnh cụ thể. Nhà đạo diễn Akira
Kurosawa là một thí dụ nổi tiếng nhất. Ông vẽ rất nhiều bản phác thảo trong quá trình dựng
phim: ông vừa là một nhà đạo diễn, lại vừa là một họa sĩ có tài.
Xem như vậy, trong văn, thơ, ngoài cái đẹp tự thân của ngôn ngữ (câu chữ, nhạc điệu, nhịp
điệu, v.v.), ngoài cái đẹp của nội dung (cốt truyện, chủ đề tư tưởng, tình cảm các nhân vật) mà
tác phẩm chuyên chở ra, còn có cái đẹp của những hình ảnh mà tác giả tạo nên trong óc tưởng
tượng của người đọc thông qua ngôn ngữ. Ta gọi loại hình ảnh này là hình ảnh “mở”, vì nó
cho phép người đọc tha hồ tưởng tượng, không như cái đẹp được thể hiện một cách quá cụ
thể, cố định, bằng vật liệu, chất liệu, màu sắc, v.v. của một bức họa, một bức tượng, một công
trình kiến trúc, hoặc một tác phẩm điện ảnh, mặc dầu điện ảnh là một trường hợp đặc biệt, vì
nó vừa là văn chương, lại vừa là nghệ thuật tạo hình. Nó là một sáng tạo tập thể của nhiều
ngành văn học và nghệ thuật tập hợp lại.
Cái khả năng tạo ra những hình ảnh mở của ngôn ngữ văn chương, chính là một trong những
yếu tố có sức quyến rũ không thể nào thay thế được của văn, thơ.
Hình ảnh cụ thể hay hình ảnh thật
Hình ảnh cụ thể là hình ảnh mà mắt ta nhìn thấy được, xúc giác nhận biết được. Đó là hình
ảnh của sự vật trong thiên nhiên và trong đời sống, hoặc hình ảnh tạo nên bởi các tác phẩm
nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, kiến trúc, nghệ thuật bày biện - bố trí, nghệ thuật múa, điện
Khách đà lên ngựa người còn nghé
theo
dạng của nó, là: vừa làm nghệ thuật, vừa làm kỹ thuật, lại vừa phải lo về khía cạnh kinh tế của
công trình) thường được coi như một nghệ thuật trừu tượng, so với hội họa và điêu khắc, đơn
giản chỉ vì nó không thể nào có được một ngôn ngữ tượng hình, ngoại trừ những yếu tố trang
trí, như: con rồng, con phượng, chậu kiểng, bức tượng, hay bức phù điêu, trong những nền
kiến trúc cổ. Trong kiến trúc hiện đại, đôi khi người ta cũng sử dụng những biểu tượng, như
biểu tượng của sự nhẹ nhàng, năng động: hình ảnh của cánh chim (Nhà ga hàng không của
KTS Saarinen ở New York, Nhà hát Opéra ở Sydney của KTS Jorn Utzon, v.v.)
Xem như vậy, ngay cả trong kiến trúc, người ta cũng có nhu cầu diễn đạt bằng những yếu tố
tượng hình, và quần chúng thưởng ngoạn, nói chung, ngay cả ở thời hiện đại, cũng vẫn còn
quyến luyến rất nhiều với những yếu tố tượng hình, bởi vì chúng gợi nhắc đến thiên nhiên,
đến một nét văn hoá, lịch sử nào đó, hoặc đơn giản chỉ vì những chi tiết tượng hình thường
ngoạn mục và làm họ “no con mắt” hơn là những hình khối hình học quá giản lược.
Khả năng hoà hợp giữa hình ảnh ảo và hình ảnh thật
Một thí dụ và cũng là một tiền lệ đáng chú ý trong lịch sử
nghệ thuật, là sự hoà hợp giữa thơ, thư pháp và hội họa
trong một vài nền văn hoá ở phương Đông, đặc biệt là
nền văn hoá của Trung Quốc và của một số nước có nền
Nho học, Lão học và Phật học như : Nhật Bản, Triều
Tiên, và Việt Nam.
Đã có một thời, trong những nền văn hoá này, các văn
nhân thường sử dụng cây bút lông của mình vừa để viết,
lại vừa để vẽ. Họ vừa có thể đồng thời là nhà thơ, nhà
thư pháp và nhà họa sĩ. Trên một bức tranh cổ, một bức
bình phong, hay một chiếc bình cổ, người ta thường có
nhu cầu đề thơ. Thơ và thư pháp góp phần làm tăng thêm
vẻ đẹp trang trọng của bức họa, bức bình phong, hay
chiếc bình cổ. Ngược lại, một bức họa có thể làm nổi bật
sự cao quý của một bài thơ, và khiến cho nó cụ thể, sống
động hơn.
Cố Khải Chi, họa sĩ thời Lục Triều,
Trung Quốc (thế kỷ IV)
văn
Mặc dầu cái đẹp được gợi lên qua những hình ảnh trong
thơ, văn, chỉ là một cái đẹp ảo, chỉ tồn tại trong trí tưởng
tượng của mỗi người, và phần nào khá mơ hồ, bởi vì chỉ
là cái đẹp ẩn dụ, ước lệ, song đứng về mặt tác dụng, nó
cũng có đủ những nét tượng hình để gợi lên cho người
đọc một ý niệm về cái đẹp của đối tượng được mô tả, dù
chỉ là một cái đẹp được phác họa bằng những nét chung
chung, những khái niệm, những biểu tượng, quy ước, đã
được sự đồng thuận của nhiều thế hệ người, và đã trở
thành những chuẩn mực của cái đẹp trong một truyền
thống văn hoá.
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, chẳng hạn, nhà thơ
cũng chỉ mô tả được hai nàng Kiều bằng những nét ẩn
dụ, rất tượng trưng như :
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đăn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen đua thắm liễu hờn kém xanh
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 20-26)
Nhưng rõ ràng, qua những câu thơ này người đọc có thể tưởng tượng được sắc đẹp của hai chị
em nàng Kiều một cách thoải mái!
Thơ hay văn, dù có tượng hình đến đâu cũng không thể nào diễn đạt được một cách đầy đủ cái
hình dạng thật của một đối tượng. Do đó, hình ảnh trong thơ văn luôn luôn là những hình ảnh