MỘT số GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TIẾT LUYỆN NÓI môn NGỮ văn ở TRƯỜNG THCS - Pdf 42

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỸ ĐỨC
TRƯỜNG THCS AN TIẾN
--------------***---------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG TIẾT LUYỆN NÓI MÔN NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG THCS .

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết mục tiêu của dạy học môn Ngữ văn là hình thành
những con người có ý thức, có tư tưởng tình cảm cao đẹp, có năng lực cảm thụ
các giá trị chân, thiện, mỹ và đặc biệt là có khả năng thích ứng với cuộc sống
năng động trong xã hội hiện đại. Quan điểm tích hợp và tích cực luôn chi phối
các hoạt động dạy học Ngữ văn, nhất là ở phần dạy các kĩ năng làm văn. Một
tiết dạy học Ngữ văn đạt hiệu quả trước hết phải tạo nên không khí hứng thú cho
mỗi giờ học. Không khí đó chỉ có được khi người dạy biết đa dạng hóa các hình
thức, biện pháp dạy học. Mặt khác, với tinh thần quan điểm dạy học mới, SGK
Ngữ văn không chỉ chú trọng nội dung mà còn chú trọng hình thức nhằm phục
vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Để đạt được những mục tiêu trên và
thực hiện theo yêu cầu của phương pháp dạy học mới, người dạy cần tổ chức
cho học sinh học tập bằng các biện pháp nhằm rèn cho học sinh các kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết. Trong đó kĩ năng nói là vô cùng quan trọng. Nói sao cho
người nghe hiểu là điều không phải ai cũng thực hiện tốt. Người nói khi đã

thức về các kiểu bài làm văn trong chương trình mà qua đó còn rèn cho học sinh
hình thành bốn kĩ năng cơ bản đó là nghe, nói, đọc ,viết, đặc biệt là kĩ năng nói.
Học sinh từ chỗ còn lo lắng, rụt rè, nói còn ngập ngừng vấp váp đến chỗ nói tốt
hơn, lưu loát, ngừng nghỉ đúng chỗ. Hơn nữa nói có kết hợp với ánh mắt cử chỉ,
thái độ, tình cảm. Không những thế, qua tiết luyện nói còn phát hiện được chỗ
yếu của học sinh, giúp học sinh khắc phục được những điểm yếu để viết tốt bài
làm văn...Từ đó có thể rèn luyện cho học sinh khả năng thể hiện , bộc lộ; khả
năng giao tiếp của mình trong nhà trường và ngoài xã hội; góp phần nâng cao
chất lượng bộ môn cũng như chất lượng chung của toàn trường .
3. Đối tượng nghiên cứu :
Giải pháp nâng cao chất lượng tiết luyện nói môn Ngữ văn ở trường THCS.
4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm :
Học sinh lớp 9A, trường THCS An Tiến, Mỹ Đức, Hà Nội.
3


5. Phương pháp nghiên cứu::
- Dựa trên yêu cầu, mục tiêu của môn học, dựa trên tình hình thực tế của từng
lớp, từng đối tượng học sinh.

- Điều tra tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh chưa mạnh dạn
nói trước tập thể .
- Qua thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở các khối lớp và đặc biệt là ở lớp
9A, từ tình hình học tập của học sinh qua các tiết luyện nói, qua ý kiến của đồng
nghiệp, hoạt động của nhóm chuyên môn…
6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu :
Tôi nghiên cứu đề tài với thời gian là 1 năm ( từ tháng 8 năm 2012 đến
tháng 5 năm 2013 ) năm học 2012-2013 .

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

thể hiện suy nghĩ cá nhân về những vấn đề gần gũi, thiết thực với cuộc sống
hàng ngày. Cụ thể là tạo điều kiện cho các em biết cách phát biểu miệng quan
điểm, ý kiến cá nhân, theo đề đã chuẩn bị. Ví dụ ở lớp 6, học sinh được tạo cơ
5


hội trình bày trước tập thể bài văn kể chuyện đời thường, về cách vận dụng quan
sát, tưởng tượng, so sánh , nhận xét trong văn miêu tả và bài văn miêu tả có chủ
đề gắn với những sinh hoạt gần gũi. Các nội dung luyện nói này đều tập trung
vào trọng tâm chương trình là kiểu bài kể chuyện và miêu tả nhằm tăng cường
rèn luyện cho các em các kỹ năng liên quan đến việc tạo lập bài văn miêu tả, kể
chuyện. Ở lớp 7 có luyện nói văn biểu cảm về sự vật, con người; phát biểu cảm
nghĩ về tác phẩm văn học và luyện nói bài văn giải thích một vấn đề. Lớp 8
luyện nói về kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm ; luyện nói
thuyết minh một thứ đồ dùng . Còn ở lớp 9 các em luyện nói tự sự kết hợp với
nghị luận và miêu tả nội tâm; luyện nói nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. Tiết
học luyện nói phần lớn thời gian là để học sinh tập nói, giáo viên chỉ nghe và
quan sát nhưng phải thật tỉ mỉ, thật khéo léo trong việc nhận xét, góp ý cho học
sinh để các em kịp thời khắc phục hạn chế và cảm thấy tự nhiên, tự tin hơn ở
phần diễn đạt của mình. Vì vậy bản thân tôi cảm nhận dù không phải diễn giải
nhiều trong giờ học nhưng công sức đầu tư cho tiết dạy (từ việc soạn giáo án đến
việc tổ chức tiết dạy) đòi hỏi rất công phu, nhằm giúp học sinh đạt hiểu quả hơn
trong hoạt động nói như: nói ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp thói quen ngôn ngữ,
suy nghĩ, tinh cảm, tâm lý và nhu cầu của người nghe – thuyết phục được người
nghe. Đây cũng là sự cụ thể thể hoá tư tưởng dạy học theo lý thuyết giao tiếp và
thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS . Điểm mới mẻ và cần lưu ý là chú
trọng hơn tới cách tổ chức cho học sinh hoạt động để phát triển kỹ năng nói cho
học sinh. Luyện nói tốt sẽ giúp học sinh biết bộc lộ tư tưởng, truyền đạt thông tin
trong hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.Ví dụ như rèn cho các em phải suy nghĩ
trước khi nói, nói đúng vấn đề cần trao đổi, khi nói cần bình tĩnh, tự tin nói theo


1. Khái quát phạm vi:
Thực ra luyện nói cho học sinh không phải chỉ có giờ luyện nói mà còn ở
các giờ khác, các môn học khác, các buổi sinh hoạt tập thể ...Nhưng trong đề tài
này tôi chỉ giới hạn tập trung bàn về tiết luyện nói trong môn Ngữ văn . Mục
đích làm cho giờ dạy này đạt hiệu quả cao nhất, học sinh có kỹ năng thành thạo
theo từng kiểu văn bản trong chương trình.
2. Thực trạng của vấn đề :
Qua thực tế giảng dạy ở trường THCS An Tiến - một trường thuộc địa bàn
nông thôn, vùng ven núi, tôi nhận thấy việc dạy tiết luyện nói trong môn
Ngữ văn hiện nay đạt hiệu quả chưa cao, điều ấy xuất phát từ một số thực
trạng như sau:
- Các em thường không chủ động, có tâm lý e dè, ngại nói hoặc không tự
tin khi nói.
- Khi tham gia luyện nói, lời nói của các em không tự nhiên, nói lủng củng
ngập ngừng không rõ ràng, không nói được điều muốn nói, không kết hợp được
các yếu tố phi ngôn ngữ như: cử chỉ, nét mặt, âm lượng…
- Trong bài nói thường sử dụng nhiều từ địa phương ở vùng quê của các
em, điều ấy sẽ ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của các em trong cộng đồng
xã hội sau này.
- Một thực trạng nữa của giờ luyện nói trên lớp là học sinh thường nói như
đọc (học thuộc lòng bài nói rồi lên lớp đọc lại) làm cho việc nói, trình bày thiếu
tự nhiên, thiếu tư thế và tác phong của giờ luyện nói.
Mặc dù nhiều giáo viên cũng đã cố gắng hết sức nhưng cũng ít người thành
công qua tiết dạy. Bởi vì kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh chưa
8


nhiều so với rèn luyện kỹ năng viết. Thời gian luyện nói lại có hạn ( 45 phút) không
tạo được điều kiện cho tất cả học sinh được nói. Và sách giáo viên cũng chưa có

9


10


Từ thực tế đáng buồn ấy, bản thân tôi đã phải suy nghĩ, tìm hiểu những
nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, nhằm tháo gỡ những vướng mắc và tìm ra
những giải pháp hữu hiệu nhất để áp dụng vào giảng dạy tiết luyện nói môn Ngữ
văn trong nhà trường .
3. Nguyên nhân của thực trạng:
- Phần lớn học sinh đều xuất thân và sinh sống ở vùng nông thôn, vùng sâu
điều kiện tiếp xúc với nơi đông người còn hạn chế nên các em thiếu tự tin, e dè,
ngại ngùng và hồi hộp khi nói trước tập thể. Đôi khi các em chuẩn bị bài nói rất
kĩ nhưng vì thiếu tự tin, hồi hộp quá nên các em cũng không nói được bài nói
của mình.
- Do điều kiện sinh sống như vậy nên đa số học sinh thiếu vốn từ để diễn
đạt bài nói. Điều ấy biểu hiện ở chỗ các em thường nói ngập ngừng, lủng củng
hoặc nói dài dòng, lan man không diễn đạt được điều muốn nói. Đồng thời trong
bài nói các em sử dụng nhiều từ địa phương.
- Kĩ năng nói của học sinh chưa được rèn luyện nhiều nên các em không
biết cách nói dẫn đến thực trạng là các em nói như đọc.

11


- Học sinh chuẩn bị bài nói chưa kĩ khiến các em không chủ động trong
việc trình bày bài nói điều đó cũng dẫn đến việc học sinh nói ngập ngừng, ấp
úng.
Với những điều nêu trên, chắc chắn giáo viên sẽ gặp nhiều khó khăn khi tổ

được mình sẽ nói cái gì ? (xác định đề tài) ; nói với ai ? (xác định giao tiếp) ; nói
trong hoàn cảnh nào ? (xác định hoàn cảnh giao tiếp) ; nói để làm gì ?(xác định
mục đích giao tiếp) ; nói như thế nào ? (cách thức giao tiếp để thuyết phục người
nghe).
- Tạo cho học sinh có nhu cầu muốn nói, muốn được bộc lộ. Điều này
tưởng chừng như đơn giản nhưng tương đối khó thực hiện, bởi đa số học sinh rất
ngại nói hoặc không tự tin khi nói trước đông người (nhất là học sinh lớp 8,9).
Vì thế điều quan trọng là bên cạnh việc chuẩn bị tốt về kiến thức, kỹ năng giáo
viên cần tạo ra những tình huống giả định tương đối gần gũi với cuộc sống
thường ngày của học sinh để các em có thể nói được và có nhu cầu muốn nói.
- Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong giờ luyện nói : như
không khí hào hứng của lớp, thái độ dễ hợp tác của những người tham gia giao
tiếp, sự động viên, khuyến khích kịp thời của giáo viên.
Còn đối với học sinh :
+ Phải thực hiện tốt các yêu cầu chuẩn bị cho tiết luyện nói theo đề bài, thể
loại cụ thể dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
+ Cần viết đề cương : tìm ý, sắp xếp ý cho đề bài luyện nói. Không yêu cầu
học sinh viết thành văn, không thuộc lòng, không nói từ đầu đến cuối bằng một
giọng đều đều, phải phân biệt giọng điệu cho phù hợp.
III. Tổ chức triển khai thực hiện :
- Trước khi triển khai thực hiện một tiết luyện nói giáo viên phải xác định
trọng tâm của luyện nói là gì ? Sự khác nhau của giờ luyện nói trong môn Ngữ
văn với các giờ môn học khác.
+ Khác nhau trước hết là ở nội dung nói. Nội dung nói ở các giờ học khác
gắn với nội dung của mỗi bài học, mỗi hoạt động. Nội dung nói của giờ Ngữ văn

13


gắn chặt với nội dung đang học. Nghĩa là luyện nói trong giờ Ngữ văn không

học sinh có thói quen học tập, tự giác và giáo viên có biện pháp kịp thời đối với
những học sinh còn yếu hoặc lười học.
Tôi kiểm tra sự chuẩn bị bài của các em bằng nhiều hình thức khác nhau:
Gọi các em mang vở lên kiểm tra, hoặc là tôi xuống dưới lớp kiểm tra sắc xuất
vài em , có khi tôi yêu cầu các em tổ trưởng đi kiểm tra từng bạn trong tổ mình
để báo cáo lại với tôi. Dưới đây là hình ảnh các em học sinh lớp 9A đang kiểm
tra sự chuẩn bị bài của tổ mình .

Các em tổ trưởng kiểm tra sự chuẩn bị bài của tổ mình.

2. Bước 2: Thống nhất lại dàn ý chung
Phần này tôi không đi lại từng bước nhỏ như phần chuẩn bị bài vì sẽ mất
thời gian. Tôi chỉ đưa ra những câu hỏi, những vấn đề có tính chất giải đáp
vướng mắc mà các em gặp phải trong phần chuẩn bị bài. Trên cơ sở đó, xây
dựng dàn ý chung làm cơ sở để đánh giá nội dung bài nói của học sinh.
3. Bước 3: Đưa ra yêu cầu cho bài nói của học sinh.

15


Tôi nêu yêu cầu tiết luyện nói chung để học sinh rõ (chỉ áp dụng cho tiết
luyện nói đầu tiên của khối lớp, những tiết sau, bước này sẽ do học sinh tự nhắc
lại ở trước lớp).
- Nội dung : Nói phải đúng trọng tâm, yêu cầu đề bài. Dựa vào dàn ý thống
nhất để trình bày cho có hệ thống.
- Kỹ thuật nói : trình bày rõ ràng, mạch lạc, nói thành câu trọn vẹn. Lời nói
có ngữ điệu, diễn tả thái độ, tình cảm tự nhiên, phù hợp
- Tác phong : Bình tĩnh, đĩnh đạc, tự tin. Trước khi nói phải có lời thưa gửi,
kết thúc phải có lời cảm ơn.


18


6. Bước 6 : Nhận xét, đánh giá
Nếu cứ để cho học sinh cứ thay phiên nhau lên trình bày bài nói của
mình mà không có sự nhận xét, đánh giá, góp ý của thầy cô, bạn bè thì tiết luyện
nói sẽ phản tác dụng. Trong tiết luyện nói, học sinh giữ vai trò chủ động, tích
cực thì giáo viên thể hiện rõ vai trò của người chủ đạo, hướng dẫn.
Vì thế tôi đã hướng dẫn học sinh theo dõi, nhận xét, đánh giá từng
phần, từng nội dung cụ thể.

Em Hoàng Thị Vân Anh nhận xét các bạn nói trước lớp.
Sau đó tôi tổng hợp ý kiến từ học sinh, chỉ ra ưu, khuyết điểm cũng như
mặt mạnh, mặt yếu của từng em, để các em kịp thời phát huy, sữa chữa và uốn
nắn.
Khi các em nói xong tôi nhẹ nhàng, tế nhị, đánh giá tương đối chính xác,
rõ ràng từng đối tượng học sinh . Luôn tạo ra không khí thân ái, gần gũi để các
em trao đổi, trình bày ý kiến của mình được tự nhiên hơn. Tôi cũng lựa chọn ưu
19


điểm nổi bật của từng học sinh và căn cứ theo từng mức độ : giỏi, khá, trung
bình, yếu mà tuyên dương, động viên, khuyến khích. Nhất là sự tiến bộ của học
sinh yếu (dù chỉ là sự tiến bộ rất nhỏ). Vì lời khen, chê của tôi không chỉ là động
lực thúc đẩy sự cố gắng phấn đấu của học sinh mà còn là đòn bẩy, bẩy giờ luyện
nói lên cao.
Nói tóm lại tuỳ thuộc vào điều kiện, mức độ của từng lớp, hoạt động của
giờ luyện nói mà có những hình thức khác nhau. Hình thức rất phong phú đa
dạng. Điều quan trọng là giáo viên phải nắm vững đặc trưng giờ luyện nói để
đảm bảo yêu cầu một giờ học Ngữ văn trong trường THCS.

làm của mình.

Tiết 140 - Bài 27: (Ngữ văn 9) Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài
thơ. Có thể linh động chọn đề bài sau:
Đề bài : Phân tích khổ thơ đầu trong bài “Sang thu”của Hữu Thỉnh.
a.Yêu cầu :
- Nghị luận về một khổ thơ trong bài thơ
- Vấn đề nghị luận: Phân tích, cảm nhận về cái hay cái đẹp về nội dung và
hình thức của khổ thơ đầu trong bài thơ “Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh.
b. Dàn ý:
*. Mở bài:
+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
+ Giới thiệu khổ thơ đầu, nêu khái quát về giá trị nội dung của khổ thơ.
*.Thân bài:
+ Cảm nhận thu sang của tác giả (phân tích vai trò của các giác quan).
+ Bức tranh vô hình của thời gian: Khúc giao mùa từ mùa hạ sang mùa thu.
+ Bức tranh được vẽ lên bởi giác quan đa dạng của người họa sĩ .
- Hai câu thơ đầu thoáng chút bâng khuâng xao xuyến.
- Mạch cảm xúc tiếp tục ở 2 câu cuối:
+ Phân tích vẻ đẹp, hay của các từ ngữ “hương ổi, phả, gió se, chùng
chình, hình như”.
+ Suy nghĩ về mùa thu thiên nhiên thời khắc giao mùa:
*. Kết bài:
21


- Qua hình ảnh, hương vị quen thuộc, gần gũi đặc trưng của mùa thu và những
cảm nhận tinh tế, tác giả đã thể hiện thành công vẻ đẹp thiên nhiên thời điểm giao
mùa.
*. RÈN KỸ NĂNG NÓI QUA MỘT GIÁO ÁN CỤ THỂ :

Giới thiệu bài :(2 phút )
Việc rèn kỹ năng rất cần thiết đối với các em .Nói như thế nào cho rõ ràng
mạch lạc, tự tin nhất là trình bày nói cho bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
như hôm nay. Cô tin rằng với sự chuẩn bị có nhiều cố gắng của các em, tiết
luyện nói hôm nay sẽ đạt được những hiệu quả tốt.
Hoạt động của thầy

Hoạt động của trò
*. Đề bài:
Bếp lửa sưởi ấm một đời –Bàn
về bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt.

Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh, I/ Phân tích đề:
phân tích đề :

1.

GV: Nhắc lại qui trình của một bài tập2.

Kiểu bài: Nghị luận về bài thơ
Nội dung: Bếp lửa sưởi ấm một

làm văn? (hs trả lời, gv nhắc lại cho học đời. (Bếp lửa từ trong kỉ niệm của
sinh khắc sâu)

tuổi thơ luôn sưởi ấm tâm hồn, nâng

GV cho học sinh nhắc lại đề bài, gv ghi đỡ con người trên chặng hành trình
bảng.


thống luận điểm như thế nào?

2.

2.Thân bài: Nghị luận về vấn đề

+ Dùng những luận cứ, luận chứng trong bài thơ
nào?

a.

+ Kết bài ra sao?

a. Hình ảnh Bếp lửa khơi nguồn
cho những cảm xúc về bà :

(cho học sinh trao đổi nhóm, thảo luận)

- Sự liên tưởng từ hình ảnh thân

sau đó ghi bảng phụ và trình bày ở thương,ấm áp : Bếp lửa
bảng, các nhóm khác nhận xét, giaó

- Bếp lửa của tuổi thơ nhọc nhằn

viên nhận xét về dàn ý và đưa ra dàn ý gian khổ sống bên bà
chung ở bảng phụ cho học sinh tham
khảo và so sánh.

b.Bếp lửa sưởi ấm tâm hồn tuổi

ảnh Bếp lửa.
Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh III/Luyện nói:
tiến hành nói.

1. Nói trong nhóm.

(GV cho học sinh nói trong nhóm 10
phút, nói trước lớp 20 phút).
*.Yêu cầu người nói.
+ Nói trước nhóm: Đứng lên, mỗi em
nói một phần theo qui định của tổ, cả tổ
chú ý lắng nghe và chọn bạn nói tốt
nhất đề xuất nói trước lớp.
+ Nói trước lớp cần chú ý:
- Về hình thức: Có lời mở đầu (lời
chào, giới thiệu) lời kết thúc (lời cảm
ơn); lời nói rõ ràng, gọn, có ngữ điệu;
chú ý quán xuyến đối tượng nghe.
- Về nội dung: Đảm bảo nội dung
trong dàn ý, ý mạch lạc.
*. Yêu cầu ngườ nghe: Tập trung
theo dõi bạn nói, nhận xét bạn nói theo
yêu cầu trên.
*. Tiến hành nói: Sau 10 phút nói
trong nhóm, giáo viên cho học sinh nói

2. Nói trước lớp:

trước lớp:
+ 2 em nói phần mở bài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status