bồi dưỡng học sinh giỏi địa lý chuyên đề nhiệt độ không khí và các dạng bài tập liên quan trong thi học sinh giỏi - Pdf 42

NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ
VÀ CÁC DẠNG BÀI TẬP LIÊN QUAN
TRONG THI HỌC SINH GIỎI
ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiệt độ không khí là một trong các yếu tố cơ bản của khí hậu và là một trong
những yếu tố quan trọng nhất có ảnh hưởng đến tự nhiên. Sự thay đổi của yếu tố nhiệt
kéo theo sự thay đổi của các thành phần tự nhiên khác (theo qui luật thống nhất và hoàn
chỉnh của lớp vỏ địa lí). Nhiệt độ không khí cũng là yếu tố tự nhiên có tác động sâu sắc
đến các hoạt động sản xuất và sinh hoạt
Đối với thi học sinh giỏi: nhiệt độ không khí là một trong những nội dung khó.
Nội dung này có thể xuất hiện trực tiếp trong 3/7 câu của đề thi (câu 1, câu 3 và câu 4) và
có thể có liên quan gián tiếp đến các câu còn lại.
Đây là nội dung dài và tương đối khó. Nhóm địa lý của trường xin trình bày nhiệt
độ không khí và các dạng bài tập liên quan của phần đại cương và Việt Nam


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ VÀ CÁC DẠNG BÀI TẬP LIÊN QUAN
PHẦN ĐẠI CƯƠNG
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ
I. Khái niệm và cách đo nhiệt độ không khí
Nhiệt độ ở một nơi là nhiệt độ của không khí ở nơi ấy nhưng là của lớp không khí
cách mặt đất 2m.
Người ta phải để nhiệt kế trong bóng râm ở các trạm khí tượng người ta thường đo
nhiệt độ không khí mỗi ngày ít nhất ba lần lúc 5h, 13h và 21h rồi tính nhiệt độ trung bình
ngày.
Từ đó người ta tính toán được các trị số: nhiệt độ trung bình tháng, nhiệt độ trung
bình năm và biên độ nhiệt. Biên độ nhiệt năm là sự chênh lệch giữa tháng có nhiệt độ lớn
nhất với tháng có nhiệt độ thấp nhất trong năm. Biên độ nhiệt ngày là sự chênh lệch giữa
thời điểm có nhiệt độ cao nhất và thời điểm có nhiệt độ thấp nhất trong ngày. Biên độ

lệch giữa các tháng trong năm càng ít nên biên độ nhiệt nhỏ. Càng lên vĩ độ cao mức
chênh lệch càng lớn nên biên độ nhiệt lớn.
Trong vùng vĩ độ thấp có nhiệt độ trung bình năm giảm chậm và biên độ nhiệt
năm tăng chậm còn vùng vĩ độ cao có nhiệt độ trung bình năm giảm nhanh và biên độ
nhiệt năm tăng nhanh là do nhiệt độ và biên độ nhiệt phụ thuộc vào cường độ bức xạ Mặt
trời mà cường độ bức xạ Mặt Trời lại phụ thuộc vào góc chiếu sáng; Lượng nhiệt mà bề
mặt Trái đất nhận được : I = I0.sin  ( với  là góc chiếu sáng; I0 là lượng nhiệt lớn nhất
và không đổi) nên I phụ thuộc vào sin  .

0
15
30
45
60
70
80
90
0
0,26
0,5
0,7
0,87
0,94
0,98
1
sin 
Trong vùng vĩ độ thấp có góc chiếu sáng lớn quanh năm và thay đổi không nhiều
nên tổng lượng nhiệt mà bề mặt Trái Đất nhận được thay đổi không đáng kể do sin
giảm chậm.
Trong vùng vĩ độ cao có góc chiếu sáng nhỏ quanh năm và chênh lệch giữa các

4. Các nhân tố khác
Nhiệt độ không khí cũng thay đổi khi có sự tác động của các nhân tố: dòng biển
nóng, lạnh, lớp phủ thực vật, hoạt động sản xuất của con người, yếu tố Mặt Trời lên thiên
đỉnh ....
Ở Bắc bán cầu, sự khác nhau nhiệt độ trung bình ở hai bờ đại dương như sau: Ở
vùng vĩ độ cao, nhiệt độ trung bình của bờ Đông đại dương ấm hơn bờ Tây đại dương.
Biên độ nhiệt ở bờ đông đại dương nhỏ hơn bờ Tây đại dương. Ở vùng vĩ độ thấp ngược
lại. Nguyên nhân do ảnh hưởng của dòng biển ven bờ.
Vùng nội thành của các thành phố lớn, do dân cư tập trung với mức độ cao, hoạt
động giao thông vận tải và công nghiệp thải ra khí quyển nhiều khí CO2 , mức độ bê tông
hóa cao cũng góp phần làm nhiệt độ cao hơn các vùng lân cận.
Biến đổi khí hậu toàn cầu làm nhiệt độ của Trái Đất và Việt Nam tăng lên ....
V. Phân bố nhiệt độ không khí
Các đường đẳng nhiệt trên bề mặt Trái Đất thể hiện tình hình phân bố nhiệt, các
đường đẳng nhiệt không trùng với các vòng vĩ tuyến vì Trái Đất không có sự đồng nhất
giữa lục địa và đại dương. Nhiệt độ phân bố không đều trên bề mặt Trái Đất và hai nửa
cầu
Nhiệt độ cao nhất không phải ở xích đạo do mặt đệm chủ yếu là biển, đại dương,
rừng rậm, mây, sự bốc hơi nước khiến khả năng tiếp nhận nhiệt không khí gần mặt đất bị
giảm, lượng mưa quanh năm lớn cũng góp phần làm giảm nhiệt độ ở đây
Nhiệt độ cao nhất là ven chí tuyến Bắc (Xahara) và chí tuyến Nam vì đây là khu
vực áp cao động tính, không khí giáng xuống gây chèn ép, đây là khu vực lục địa rộng
lớn, bị ngăn cách với biển bởi các cao nguyên đồ sộ, khả năng hấp thụ nhiệt độ và phản
xạ của bề mặt đất mạnh
Nhiệt độ trong vùng nội chí tuyến cao và ổn định, ít thay đổi trong năm, nhìn
chung là các đường đẳng nhiệt 20-25 0 thống trị, ngoài ra còn có cả đường 30 0 C vì đây là
khu vực có 2 lần Mặt Trời lên thiên đỉnh trong năm, góc nhập xạ lớn, sự chênh lệch ngày
và đêm không lớn.
Khu vực ngoại chí tuyến nhiệt độ giảm nhanh vì không có hiện tượng Mặt trời lên
thiên đỉnh

và động lực, nguyên nhân động lực liên quan đến nhiệt lực).
Nhiệt độ của không khí giảm, sức trương hơi nước bão hòa giảm làm cho không
khí bị bão hòa hơi nước và dẫn đến sự ngưng đọng hơi nước trong khi quyển, sinh ra các
hiện tượng sương mù, mây, mưa (mưa đá, mưa tuyết đều liên quan chặt chẽ đến nhiệt độ
không khí)
Nhiệt độ không khí cao là một trong những lí do khiến bão thường xuất hiện ở khu
vực nhiệt đới
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến sự trong lành của lớp không khí gần mặt đất.
Không khí trong lành nhất vào khoảng thời gian từ khoảng 10h đến 15, 16h. Vì thời gian
này nhiệt độ mặt đất cao, quá trình đối lưu mạnh, các chất ô nhiễm (tro, bụi, hơi nước…)
bị đẩy lên các tầng cao hơn. Sau 16h đến trước 10h đặc biệt là vào ban đêm mặt đất mất
nhiệt, quá trình đối lưu giảm nên các phẩn tử dây ô nhiễm (khói bụi, tro, hơi nước, phấn
hoa,…) tập trung nhiều ở lớp không khí gần mặt đất.
5


Nhiệt độ không khí là cơ sở để phân chia các kiểu khí hậu
Sinh vật chịu tác động trực tiếp của nhiệt độ vì mỗi loài chỉ có thể sống trong một
điều kiện nhiệt độ nhất định
2. Các hoạt động kinh tế xã hội
Nhiệt độ ảnh hưởng đến cơ cấu, năng suất sinh học của cây trồng vật nuôi nông
nghiệp. Nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến máy móc công nghiệp, đến hoạt động xây
dựng và nhiều ngành dịch vụ.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh hoạt như trang phục, làm nhà ở, ....
B. CÁC DẠNG BÀI TẬP
I. Bài tập lí thuyết
1. Câu hỏi biết, hiểu.
Câu 1: Chứng minh rằng nhiệt độ không khí trên bề mặt Trái đất thay đổi theo qui luật
địa đới?
- Nhiệt độ trung bình năm giảm dần từ Xích đạo về cực.

+ Nhiệt phân bố không đều theo độ cao địa hình (diễn giải)
+ Nhiệt phân bố không đều theo hướng sườn (diễn giải)
+ Nhiệt độ còn thay đổi do ảnh hưởng của dòng biển (diễn giải)
2. Câu hỏi vận dụng, sáng tạo
Câu 1: Vì sao trên Trái Đất nhiệt độ trung bình năm không cao nhất ở xích đạo mà lại
hình thành ở vĩ tuyến 10 0B?
Nếu nối liền những điểm có nhiệt độ trung bình năm cao nhất trên trái đất thành 1
đường thì ta ta sẽ có đường đẳng nhiệt cao nhất. Ở Bắc bán cầu đường này phân bố vào
khoảng 10 0 vĩ tuyến.
Xích đạo thường được coi là nơi nóng nhất vì vùng này có góc nhập xạ lớn. Tuy
nhiên theo thống kê tại xích đạo nhiệt độ ban ngày không quá 35 độ, trong khi đó ở xa
mạc Xahara ban ngày nhiệt độ lên đến 55 độ? Tại sao?
- Vì những vùng thuộc xích đạo phần lớn đều có biển cả, mặt biển xích đạo mênh
mông, có tính chất khác hẳn lục địa: nó có khả năng dẫn truyền nhiệt lượng của Mặt Trời
xuống các lớp nước sâu, khi bốc hơi cũng tiêu hao nhiều năng lượng, nước biển có nhiệt
dung riêng rất lớn so với đất nên nhiệt độ nước tăng chậm so với đất liền -> vì thế vào
mùa hè nhiệt độ mặt biển không bao giờ tăng lên đột ngột
Ở vùng chí tuyến có nhiều lục địa (nhất là Bắc bán cầu), ở đây có nhiều sa mạc,
vào mùa hạ vùng này là vùng có góc nhập xạ lớn, cường độ bức xạ Mặt trời cao.
Tình hình ở sa mạc thì hoàn toàn ngược lại với vùng xích đạo: ở sa mạc rất hiếm
thực vật và nước, chủ yếu chỉ có cát do nhiệt dung riêng của cát rất nhỏ, nó nóng lên
nhanh chóng khi hấp thụ nhiệt , lại không truyền nhiệt xuống dưới lớp sâu được. Do thiếu
nước nên ở sa mạc thiếu hẳn tác dụng bốc hơi làm tiêu hao nhiệt như ở biển -> nên khi
Mặt Trời xuất hiện nhiêt độ không khí vùng sa mạc tăng lên nhanh chóng, đến giữa trưa
nhiệt độ lên rất cao.
Nguyên nhân khác: vùng xích đạo mây và mưa nhiều hơn hẳn vùng sa mạc. Vùng
xích đạo nhiều mây làm suy yếu cường độ bức xạ Mặt Trời, chiếu nào cũng có mưa nên
nhiệt độ buổi chiều không thể quá cao được. Ở sa mạc trời nắng, rất ít mây và hiếm mưa,
cường độ bức xạ Mặt Trời lớn và không có yếu tố làm dịu đi
Câu 2: Tại sao không khí trên mặt đất không nóng nhất vào lúc 12h trưa (lúc bức xạ Mặt

không thay đổi, cường độ bức xạ Mặt trời tăng khoảng 10% trên 1000m độ cao, nhưng
bức xạ sóng dài của mặt đất tăng theo độ cao nhanh hơn. Vì vậy, cân bằng bức xạ giảm
nhanh và dẫn đến sự hạ thấp nhiệt độ.
- Mức độ giảm nhiệt theo độ cao nhanh hơn nhiều theo vĩ độ:
+ Theo vĩ độ: bán cầu Bắc nhiệt độ giảm trung bình 0,5 0C/1 vĩ độ.
+ Theo độ cao: nhiệt độ giảm trung bình 0,6 0C/100m.
Câu 5: Tuy cùng vĩ độ nhưng nhiệt độ trung bình năm và biên độ nhiệt giữa bờ đông và
bờ Tây đại dương ở Bắc bán cầu khác nhau như thế nào? Vì sao có sự khác nhau?
Ở Bắc bán cầu, sự khác nhau nhiệt độ trung bình ở hai bờ đại dương như sau:
- Ở vùng vĩ độ cao, nhiệt độ trung bình của bờ Đông đại dương ấm hơn bờ Tây đại
dương. Biên độ nhiệt ở bờ đông đại dương nhỏ hơn bờ Tây đại dương
- Ở vùng vĩ độ thấp ngược lại
Giải thích: ảnh hưởng của dòng biển ven bờ.
Câu 6. Tại sao ở vùng cực nhiệt độ không khí ít khi vượt lên 1-2 0 C?
- Góc nhập xạ nhỏ dẫn đến lượng bức xạ Mặt trời nhận được nhỏ
- Mặt băng, tuyết ở vùng cực phản chiếu tới 80-90% lượng bức xạ mặt trời chiếu
vào nên lượng bức xạ hấp thụ nhỏ.
- Phần bức xạ hấp thụ được phải chi một phần cho quá trình làm tan băng tuyết và
bốc hơi nên phần năng lượng để chi cho đốt nóng không khí nhỏ.
Câu 7: Tại sao vào mùa hạ (ở nửa cầu Bắc) tổng bức xạ ở Xích đạo nhỏ hơn ở cực Bắc,
nhưng nhiệt độ không khí ở đây vẫn cao?
Do phụ thuộc: Góc nhập xạ, thời gian chiếu sáng và đặc điểm bề mặt đệm…
8


Mùa hạ ở Bắc bán cầu -> mặt trời di chuyển biểu kiến ở Bắc bán cầu
+ Tại cực Bắc có tổng lượng bức xạ lớn hơn ở xích đạo chủ yếu do cực Bắc có
thời gian chiếu sáng dài hơn ở Xích đạo (vòng cực có ngày dài 24h, còn cực Bắc thì có
ngày dài 6 tháng, tức là trong mùa hè luôn luôn có ánh sáng Mặt trời dù góc chiếu rất
nhỏ; còn Xích đạo vẫn có ngày = đêm = 12h )

23,8
60
- 0,6
29,0
70
- 10,4
32,2
Qua bảng số liệu trên hãy nhận xét và giải thích về sự thay đổi của nhiệt độ trung
bình năm và biên độ nhiệt độ năm theo vĩ độ địa lí ở Bắc bán cầu
Câu 2: Cho bảng số liệu sau:
Biên độ năm của nhiệt độ không khí ở các vĩ độ
(Đơn vị: 0C)
Vĩ độ Bắc Bán Cầu
Nam Bán Cầu
00
1,8
1,8
0
20
7,4
5,9
300
13,3
7,0
0
40
17,7
4,9
0
50

+ Nam bán cầu diện tích lục địa giảm nhanh đến không còn, biên độ nhiệt giảm
- Từ 500 – 70 0 Bắc, Nam:
+ Bắc bán cầu: Diện tích lục địa tăng dần đến cao nhất, biên độ nhiệt tiếp tục tăng
đến cao nhất
+ Nam bán cầu Do bắt đầu xuất hiện các đảo và bán đảo ở lục địa Nam Cực, biên
độ nhiệt tăng
- Từ 700 – 80 0 Bắc, Nam:
+ Bắc bán cầu: Với sự suất hiện của Bắc Băng Dương, biên độ nhiệt giảm
+ Nam bán cầu Bắt đầu gặp lục địa Nam Cực, biên độ nhiệt tăng
Câu 3: Cho bảng số liệu sau hãy nhận xét và giải thích:
Bảng: Nhiệt độ trung bình theo vĩ độ (0C)
Bắc bán cầu
Vĩ độ
Nam bán cầu
Nhiệt
Nhiệt
Nhiệt
Biên độ
Nhiệt
Nhiệt
Nhiệt
Biên độ
độ
độ
độ
nhiệt
độ
độ
độ
nhiệt

25
21,8
27,3
5,5
20
22,8
25,3
20,1
5,2
20,1
13,8
26,9
13,1
30
18,3
22,6
15
7,6
14
4,6
23,9
19,3
40
12
15,3
8,8
6,5
5,1
-7,7
18,1

-33,2
2,0
35,2
80
-27
-10,8
-39,5
28,7
-36,0
0,0
36
90
-33
-13
-48
35
- Nhận xét về biên độ nhiệt:
+ Khái quát:
Càng lên vĩ độ cao biên đọ nhiệt trong năm càng lớn vì chênh lệch độ dài ngày
đêm trong năm càng lớn và chênh lệch góc chiếu sáng trong năm càng lớn.
Cùng một vĩ độ biên độ nhiệt thay đổi theo tương quan giữa lục địa và đại dương:
tỉ lệ này càng lớn thì biên độ nhiệt càng lớn, tỉ lệ này càng giảm thì biên độ nhiệt càng
giảm
+ Nhận xét và giải thích thay đổi theo vĩ độ:
Ở Nam bán cầu
Từ 0-30 biên độ nhiệt tăng dần do diện tích lục địa tăng dần
Từ 30-50 biên độ nhiệt giảm dần do diện tích lục địa giảm dần
Từ 50-80 biên độ nhiệt tăng dần do thời gian chiếu sáng và góc chiếu sáng chênh
lệch ngày càng lớn và ở đại dương đã bắt đầu xuất hiện các đảo và bán đảo lục địa Nam
cực


Ta biết ở sườn đón gió AB không khí ẩm cứ lên cao 100m giảm 0,6 0 C.
Ở sườn khuất gió BC không khí khô cứ xuống 100m thì nhiệt độ tăng 1 0 C.
Như vậy nếu núi cao 100m chênh lệch nhiệt độ giữa A và C là: 1-0,6=0,4 0 C
Qua hình vẽ ta thấy chênh lệch nhiệt độ giữa A và C là 41-25=16 0C
Vậy h=16 x 100/0,4=4000m
Câu 7. Ở chân núi nhiệt kế chỉ 20 0C, khi lên tới đỉnh núi nhiệt kế chỉ 80C. Hỏi ngọn núi
đó có độ cao tương đối là bao nhiêu mét?
12


Đáp án: 2000m
(Cứ lên cao 100m thì nhiệt độ giảm trung bình 0,6 0C. Nếu ở chân núi nhiệt độ là
200 C, khi lên tới đỉnh núi nhiệt độ còn 8 0C, nghĩa là nhiệt độ giảm 12 0 C. Vậy ta có phép
tính: (12*100)/0.6=2000(m). Ta biết ngọn núi này có độ cao tương đối là 2000m).
Câu 8. Một chiếc máy bay đang bay ở độ cao 10.000m. Hãy tính nhiệt độ không khí bên
ngoài máy bay? (biết rằng tương ứng ở mặt đất lúc này nhiệt độ là 30 0C).
Đáp án: - 30 0C
(Theo nguyên lý gradien nhiệt độ chiều thẳng đứng, cứ lên cao 100m thì nhiệt độ
giảm trung bình 0,6 0C. Nếu lên đến độ cao 10.000m thì nhiệt độ giảm:
(10.000*0.6)/100=60 ( 0C). Nghĩa là nếu ở mặt đất nhiệt độ là 30 0C thì nhiệt độ không khí
ngoài máy bay ở độ cao 10.000m sẽ là -30 0C).
Câu 9: Núi Kilimangiaro (Châu Phi) nằm trong miền nhiệt đới, cao 5895m. Tại một thời
điểm, người ta đo được nhiệt độ trung bình dưới chân núi là 25.2 0 C. Hỏi lên đến độ cao
nào sẽ có băng tuyết? Giải thích?
Đáp án: 4200m
- Hiện tượng băng tuyết ở đây không phải do ảnh hưởng của vĩ độ, mà do ảnh
hưởng của sự giảm nhiệt độ theo độ cao địa hình mang lại, cứ lên cao 100m thì nhiệt độ
giảm trung bình 0.6 0C.
- Điều kiện để xảy ra hiện tượng nước đóng băng là nhiệt độ giảm xuống dưới

Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng làm cho miền Bắc không đạt chỉ tiêu khí hậu nhiệt
đới.
Bảng: Nhiệt độ không khí trung bình các tháng 12, 1, 2, 3 ở một số địa phương chịu tác
động của gió mùa Đông Bắc, năm 2011
Địa phương
Sơn La
Tuyên Quang Hà Nội
Vinh
Nhiệt độ trung bình tháng 12
14,7 0C
16,5 0C
17,4 0C
17,1 0C
Nhiệt độ trung bình tháng 1
11,7 0C
12,5 0C
12,8 0C
14,2 0C
Nhiệt độ trung bình tháng 2
16,7 0C
17,6 0C
17,7 0C
17,7 0C
Nhiệt độ trung bình tháng 3
16,4 0C
170 C
17,1 0C
16,9 0C
Gió Lào gây ra thời tiết khô nóng cho duyên hải miền Trung, nhiệt độ có thể lên
tới 37 0 C. Gió Lào thổi là nguyên nhân chính khiến nhiệt độ các tháng đầu mùa hạ của

bậc địa hình khá rõ nên theo qui luật đai cao nhiệt độ nước ta có sự phân hóa rõ rệt theo
độ cao.
Do ảnh hưởng của hướng các dãy núi đối với các luồng gió mùa trong năm dẫn
đến chế độ nhiệt nước ta có sự phân hóa Bắc-Nam, Tây-Đông.
Dãy Hoành Sơn và Bạch Mã chạy theo hướng Tây Đông đâm ngang ra biển ở vĩ
tuyến 16 0B như bức tường thành góp phần làm cho gió mùa Đông Bắc không thể xâm
nhập xuống miền Nam nước ta và làm cho miền này không có mùa đông lạnh.
Ở miền núi phía Bắc, do ảnh hưởng của hướng địa hình khiến cho chế độ nhiệt
giữa Đông Bắc và Tây Bắc cũng có sự khác biệt.
4. Mặt Trời lên thiên đỉnh
Cùng nằm ở trong khu vực nội chí tuyến nhưng chế độ nhiệt ở hai miền Nam và
Bắc lại khác nhau: miền Nam có hai tối đa và hai tối thiểu (dạng xích đạo) còn miền Bắc
chỉ có một tối đa và một tối thiểu (dạng nhiệt đới hay dạng chí tuyến). Lí do vì sao?
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu nên tất cả các địa
điểm trên lãnh thổ nước ta đều có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh 2 lần trong năm.
Tuy nhiên khoảng cách giữa hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh ở miền Nam khá lớn (khoảng
cách giữa hai lần Mặt trời lên thiên đỉnh tăng dần từ Bắc vào Nam - ở cao nguyên Đồng
văn chỉ cách nhau vài ngày còn ở bán đảo Cà Mau khoảng cách này là gần 5 tháng) nên
chế độ nhiệt có dạng xích đạo, trong năm có hai lần nhiệt độ cao nhất vào tháng 4, tháng
8 và hai lần nhiệt độ thấp nhất vào tháng 6 và tháng 12. Càng lên phía Bắc, hai lần Mặt
Trời lên thiên đỉnh càng gần nhau và thành một lần ở chí tuyến Bắc nên chế độ nhiệt ở
miền Bắc có dạng nhiệt đới với một tối đa và một tối thiểu (một lần nhiệt độ cao nhất vào
tháng 6, tháng 7 và có một lần nhiệt độ thấp nhất thường vào tháng 12 hoặc tháng 1)
Yếu tố Mặt Trời lên thiên đỉnh cũng ảnh hưởng đến nhiệt độ trung bình của các
địa phương. Điều này giúp chúng ta hiểu được vì sao những ngày nóng nhất trong năm ở
Tp. Hồ chí Minh và Nam Bộ nói chung đều rất sớm từ tháng tư còn ở Hà Nội và Đồng
bằng sông Hồng thì những ngày nắng gay gắt nhất là ở cuối tháng năm và trung tuần
tháng bảy
5. Các yếu tố khác
Nhiều yếu tố tự nhiên khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến yếu tố nhiệt của khí

Chế độ nhiệt nước ta phần lớn mang tính chất nhiệt đới chỉ trừ một bộ phận nhỏ ở
những vùng núi cao nằm trong thang nhiệt độ thấp dưới 18 0C. Các vùng núi cao đó là
vùng núi cao Hoàng Liên Sơn và một phần vùng núi cao ở biên giới Việt-Trung, ViệtLào (do ảnh hưởng của độ cao địa hình và gió mùa Đông Bắc), vùng núi cao Kon Tum và
cao nguyên Lâm Viên (do ảnh hưởng của yếu tố độ cao địa hình)
2. Chế độ nhiệt có sự phân hóa.
Sự phân hóa của chế độ nhiệt nước ta cũng tuân theo những qui luật địa lí chung
của Trái Đất đó là qui luật địa đới (sự phân hóa theo vĩ độ-sự phân hóa Bắc Nam) và qui
luật phi địa đới (sự phân hóa theo độ cao, phân hóa theo chiều Đông Tây).
a. Sự phân hóa theo vĩ độ (phân hóa Bắc Nam)
Theo qui luật địa đới, nhiệt độ có sự giảm dần từ các vùng ở vĩ độ thấp lên các
vùng ở vĩ độ cao. Ở nước ta sự phân hóa theo vĩ độ cũng được thể hiện rõ: biên độ nhiệt
trung bình năm càng vào Nam (về phía vĩ độ thấp) càng giảm, nhiệt độ trung bình năm
càng vào Nam càng nóng hơn, tính chất nhiệt đới càng rõ rệt và điển hình hơn
Do lãnh thổ nước ta kéo dài trên 15 0 vĩ tuyến và quan trọng hơn là do gió mùa
Đông Bắc nên nhiệt độ giảm dần từ Nam ra Bắc, trung bình khoảng 0,35 0C/1 độ vĩ tuyến.
Nếu so với các nước nằm ở vĩ độ tương đương như nước ta mà không hoặc ít chịu tác
động của gió mùa Đông Bắc thì tốc độ giảm nhiệt độ trung bình từ Nam ra Bắc của nước
17


ta sẽ nhanh hơn (ví dụ: Ấn Độ chỉ giảm 0,04 0C/1 độ vĩ tuyến, Lào chỉ giảm 0,2 0C/1 độ vĩ
tuyến).
Thế nhưng thực ra sự giảm nhiệt độ trung bình năm từ Nam ra Bắc không phải đều
là 0,35 0C/1 độ vĩ tuyến mà có sự khác nhau rõ rệt giữa hai miền Bắc và Nam. Ở miền
Bắc mỗi vĩ độ giảm tới 0,41 0C còn miền Nam mỗi vĩ độ chỉ giảm 0,16 0 C. Điều đó được lí
giải bởi miền Bắc chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc còn miền Nam thì hầu như
không. Nguyên nhân thứ hai là do miền Nam nằm ở vĩ độ thấp hơn miền Bắc.
Nếu xem xét kĩ về nhiệt độ các mùa thì sự khác biệt giữa hai miền Bắc và Nam
còn rõ hơn. Về mùa hạ nhiệt độ gần như đồng nhất trên khắp lãnh thổ: nhiệt độ trung
bình tháng nóng nhất của Hà Nội là 28,9 0 C (tháng 7), ở Huế là 29,4 0C (tháng 7) còn Tp.

18


b. Sự phân hóa theo độ cao
Sự phân hóa theo độ cao chỉ diễn ra ở các vùng núi. Nếu núi càng cao thì sự phân
hóa biểu hiện càng rõ rệt. Ở miền núi có sự giảm đi của nhiệt độ theo độ cao do sự tăng
nhanh bức xạ sóng dài của bề mặt đất khiến cho cán cân bức xạ có chiều hướng giảm đi
mỗi khi lên cao.
Bảng: Sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm của một số địa phương nước ta theo độ cao
Địa phương
Độ cao
Nhiệt độ trung bình năm
Sơn La
602 m
21,2 0C
Plây cu
772 m
22,4 0C
Tam Đảo
900 m
18,2 0C
Đà Lạt
1500 m
19,1 0C
Sapa
1581 m
15,2 0C
Sự phân hóa nhiệt theo độ cao khiến cho Việt Nam xuất hiện những đai cao khác
nhau. Đai nhiệt đới gió mùa (dưới 600 – 700m ở miền Bắc, dưới 900 – 1000m ở miền
Nam): khí hậu mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa với nhiệt độ trung bình năm trên

mùa.
Bảng: Nhiệt độ trung bình các tháng của Lạng Sơn và Lai Châu (đơn vị: 0C)
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Lạng Sơn 13,3 14,3 18,2 22,1 23,3 26,9 27,0 26,6 25,2 22,2 18,3 14,8
Lai Châu 17,1 18,0 21,3 24,6 24,5 26,5 26,5 26,6 26,1 23,7 20,6 17,7
Nguyên nhân do địa hình Đông Bắc có hướng vòng cung mở rộng về phía bắc và
đông bắc tạo điều kiện cho gió mùa Đông Bắc xâm nhập sâu vào lãnh thổ nên là nơi ảnh
hưởng mạnh nhất của gió mùa Đông Bắc. Tây Bắc có dãy Hoàng Liên Sơn chạy theo
hướng Tây Bắc- Đông Nam chắn gió mùa Đông Bắc nên hạn chế ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc. Gió mùa Đông Bắc phải đi vòng xuống Đồng bằng sông Hồng rồi sau đó mới
đi dọc theo các thung lũng sông để xâm nhập lên Tây Bắc. Do trải qua quãng đường dài
hơn nên gió mùa Đông Bắc bị suy yếu và làm cho Tây Bắc có mùa đông không lạnh bằng
Đông Bắc và đến muộn, kết thúc sớm hơn Đông Bắc
3. Chế độ nhiệt có tính thất thường
Nước ta nằm trải dài trên 15 0 vĩ tuyến lại nhiều núi, địa hình phức tạp và nhất là do
vị trí địa lí đặc biệt trong miền châu Á gió mùa mà chế độ nhiệt nước ta vừa phức tạp và
vừa thất thường nhất là ở miền Bắc (do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh).
a. Sự thất thường thể hiện ở sự dao động lớn của các trị số nhiệt

(năm 1960) thì lệch 19 ngày, năm mùa lạnh kết thúc muộn (1929) thì lệch 12 ngày. Tại
20


Hà Nội, năm rét sớm (năm 1948) mùa lạnh đến sớm hơn hơn trung bình 18 ngày, năm rét
muộn (1957) mùa lạnh chậm đến 17 ngày, năm mùa lạnh kết thúc sớm (năm 1946) thì
lệch 29 ngày, năm mùa lạnh kết thúc muộn (1927) thì lệch 15 ngày.
Tại khu vực Tây Bắc và Bắc Trung Bộ thời gian dao động mùa nóng và lạnh còn
mạnh mẽ hơn, lớn nhất đối với thời kì bắt đầu của mùa là 39-40 ngày và đối với thời kì
kết thúc mùa có thể tới 40-50 ngày
Tiểu kết: Do vị trí địa lí nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu nên chế độ
nhiệt nước ta thể hiện rõ đặc tính nhiệt đới. Nhưng tuy nhiên do tác động tổng hợp của
nhiều nhân tố khác nhau nên chế độ nhiệt nước ta có sự phân hóa rõ rệt và biến động thất
thường. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến thiên nhiên và mọi hoạt động sản xuất - đời sống
của nhân dân ta.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ NHIỆT ĐẾN TỰ NHIÊN VÀ SẢN XUẤT - ĐỜI
SỐNG
1. Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt đến tự nhiên
Nhiệt là một trong các yếu tố cơ bản của khí hậu và là một trong những yếu tố
quan trọng nhất có ảnh hưởng đến tự nhiên. Sự thay đổi của yếu tố nhiệt kéo theo sự thay
đổi của các thành phần tự nhiên khác (theo qui luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ
địa lí)
a. Khí hậu
Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm đều cao, quanh năm trên 25 0C là một
trong những nguyên nhân chính làm cho cân bằng ẩm của Nam Bộ thấp hơn hẳn so với
miền Bắc (nhiệt độ thấp hơn).
Bảng: Lượng mưa, lượng bốc hơi và cân bằng ẩm của Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh
(đơn vị: mm)
Địa phương
Lượng mưa

c. Sông ngòi:
Do nhiệt độ cao quanh năm nên nước trong hệ thống các sông ngòi Việt Nam
không có hiện tượng đóng băng vào thu đông. Nguồn cung cấp nước cho sông chủ
yếu là do nước mưa và nước ngầm, do vậy dẫn đến chế độ nước sông theo sát nhịp
điệu của chế độ mưa. Điều này khác với các nước ở miền khí hậu lạnh ngoài nước
mưa và nước ngầm thì nguồn cung cấp nước cho sông còn do băng tuyết tan, vì thế
các sông ở đây có lũ vào cuối xuân đầu hạ (khi băng tuyết tan).
d. Thổ nhưỡng
Vai trò của yếu tố nhiệt cực kì quan trọng đối với quá trình hình thành đất feralit ở
nước ta. Trong điều kiện nhiệt cao kết hợp với độ ẩm lớn thì quá trình phong hóa diễn ra
rất mạnh mẽ, trong đó phong hóa hóa học là chủ yếu, tạo nên lớp vỏ phong hóa dày từ vài
mét đến vài chục mét. Nhiệt độ cao làm tốc độ phân giải vật chất hữu cơ cao nên lượng
mùn tích lũy trong đất ít. Điều này hoàn toàn khác với ở các vùng rừng ôn đới mặc dù có
lượng sinh khối nhỏ hơn nhưng lớp mùn lại dày hơn nước ta. Lí do là vì nhiệt độ vùng ôn
đới thấp làm hạn chế các quá trình phân hủy, xác hữu cơ tồn tại và tích tụ trong khoảng
thời gian dài nên đã tạo nên lớp mùn dày.
Nhiệt độ thay đổi theo độ cao dẫn đến đất nước ta cũng thay đổi theo độ cao. Ở độ
cao dưới 600m-700m (ở miền Bắc) và dưới 900m-1000m (ở miền Nam) do nền nhiệt độ
cao nên nhóm đất chính là feralit. Từ độ cao tiếp theo đến độ cao 1600m-1700m nhiệt độ
giảm đã làm hạn chế quá trình phân giải chất hữu cơ, mùn được tích lũy, hình thành đất
feralit có mùn, đồng thời quá trình phong hóa yếu đi làm cho tầng đất mỏng hơn. Ở độ
cao trên 1600m-1700m đến dưới 2600m nhiệt độ thấp (trung bình dưới 18 0C), quá trình
feralit ngưng trệ, hình thành đất mùn. Ở độ cao từ 2600m trở lên (chỉ có ở Hoàng Liên
Sơn) do nhiệt độ thấp dưới 15 0C, mùa đông xuống dưới 5 0C nên đất ở đây là đất mùn thô.
e. Sinh vật.
Khí hậu nhiệt đới với nền nhiệt độ cao kết hợp với độ ẩm lớn nên rừng rậm nhiệt
đới ẩm lá rộng thường xanh là hệ sinh thái rừng nguyên sinh đặc trưng cho khí hậu nóng
ẩm ở Việt Nam nhưng hiện nay phần lớn nó đã biến biến dạng do tác động của con
người. Rừng nhiệt đới với đặc trưng là cấu trúc nhiều tầng tán (do nền nhiệt cao, số giờ
nắng nhiều), cây gỗ cao (lên đến vài chục m), thành phần loài đa dạng (vùng vĩ độ thấp,

địa hình đem lại. Nhưng muà đông của nước ta ngắn, mà nhiệt độ lại không xuống thấp
lắm, địa hình nước ta phần lớn là đồi núi thấp cho nên tính chất nhiệt đới vẫn là chủ yếu
chi phối đến mọi đặc điểm của thiên nhiên nước ta.
2. Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt đến sản xuất và đời sống
Yếu tố nhiệt ảnh hưởng đến nhiều mặt hoạt động sản xuất và đời sống, trực tiếp
nhất và rõ rệt nhất là hoạt động sản xuất nông nghiệp.
a. Đối với nông nghiệp
Do ảnh hưởng của yếu tố nhiệt mà nền nông nghiệp nước ta thể hiện rõ tính nhiệt
đới: nền nhiệt cao nên trong cơ cấu cây trồng vật nuôi, các sản phẩm có nguồn gốc nhiệt
đới chiếm ưu thế (ví dụ cây lương thực: lúa gạo, sắn, ..; cây công nghiệp: cà phê, cao su,
mía, điều, hồ tiêu, ...). Sản xuất nông nghiệp diễn ra quanh năm. Áp dụng có hiệu quả các
biện pháp thâm canh, tăng vụ, xen canh, gối vụ.
Nền nông nghiệp nước ta khá đa dạng: mùa đông lạnh cho phép phát triển tập
đoàn cây trồng vụ đông đặc sắc ở Đồng bằng sông Hồng và các cây trồng vật cận nhiệt
và ôn đới trên các vùng núi. Sự phân hóa của yếu tố nhiệt là cơ sở để có lịch thời vụ khác
nhau giữa các vùng, nhờ thế mà có sự chuyển dịch mùa vụ từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng
lên trung du miền núi.

23


Chế độ nhiệt thất thường không ổn định do hoạt động của gió mùa kết hợp với nền
nhiệt ẩm cao và nhiều thiên tai tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh, phát triển và lan tràn
trên diện rộng làm tăng thêm tính chất bấp bênh vốn có của nền nông nghiệp. Ví dụ: hiện
tượng rét đậm, rét hại năm làm …
Đối với lâm nghiệp: nền nhiệt cao kết hợp với độ ẩm lớn là cơ sở để nhanh chóng
phục hồi lớp phủ rừng trên đất trống bằng mô hình nông lâm kết hợp. Đối với ngư
nghiệp: nhiệt độ cao và ổn định quanh năm nhất là ở Nam Bộ tạo điều kiện thuận lợi cho
ra khơi.
b. Đối với các ngành kinh tế khác

24


cần sử dụng để trả lời câu hỏi là chỉ dựa vào Atlat hay khai thác cả Atlat kết hợp với kiến
thức đã học bên ngoài.
Các yêu cầu làm việc với Atlat rất đa dạng. Do đó giáo viên cần giúp học sinh xây
dựng một dàn bài có được từ vốn tri thức địa lí sẵn có của bản thân vào việc đọc các
trang Atlat.
2. Một số dạng câu hỏi về yếu tố nhiệt của khí hậu khai thác từ Atlat
Đối với chuyên đề yếu tố nhiệt của khí hậu Việt Nam, chúng ta có thể gặp một số
dạng câu hỏi như sau:
- Dạng 1: Trình bày đặc điểm của chế độ nhiệt nước ta (các vùng, miền)
- Dạng 2: Chứng minh sự phân hóa của nhiệt độ nước ta (các vùng, miền)
- Dạng 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nhiệt của nước ta (các
vùng, miền)
- Dạng 4: So sánh đặc điểm chế độ nhiệt của các trạm khí hậu.
- Dạng 5: Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố nhiệt với các thành phần tự nhiên
khác.
2.1. Dạng 1: Trình bày đặc điểm chế độ nhiệt nước ta (các vùng, miền)
Mở bài: Giới thiệu về ranh giới, phạm vi các miền (nếu là vùng, miền), khái quát
về đặc điểm chế độ nhiệt vùng đó:
- Nền nhiệt cao
- Sự phân hóa
Riêng tính thất thường của chế độ nhiệt nước ta, ít được thể hiện rõ Atlat
Bài tập: Dựa vào Átlát địa lý Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày đặc điểm chế
độ nhiệt của nước ta?
Mở bài: Giới thiệu khái quát về đặc điểm chế độ nhiệt nước ta và đặc điểm đó
được hình thành do tác động tổng hợp của nhiều nhân tố
a. Nền nhiệt độ trung bình năm của nước ta cao:
+ Phần lớn lãnh thổ nước ta có nhiệt độ trung bình năm trên 20 0 C (trừ vùng núi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status