Triết học trung quốc tư tưởng vô vi của đạo gia và những ảnh hưởng của tư tưởng này lên đời sống xã hội ngày nay_tiểu luận cao học - Pdf 42

LỜI NÓI ĐẦU
Trung Quốc là một trung tâm văn minh lớn của nhân loại và cũng là cái
nôi đầu tiên của lịch sử loài người. Trung Quốc có nền Triết học phát triển từ
rất sớm và đạt đến trình độ cao, góp vào dòng chảy chung của lịch sử tư
tưởng nhân loại.
Thời Xuân thu của Trung Hoa kéo dài từ năm 722 tới năm 481 trước
công nguyên với tình trạng chiến tranh liên miên, dân chúng lầm than, xã hội
bị suy đồi đạo đức. Chính trong bối cảnh lịch sử ấy đã xuất hiện nhiều triết
gia với nhiều lí thuyết khác nhau và họ được gọi là Bách gia chư tử. Nổi bật là
cuốn Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Ông là người đầu tiên đưa ra một quan niệm
về vũ trụ, làm cốt lõi cho nền văn hóa Trung Hoa, vừa tạo thú sống cho tao
nhân quân tử, vừa như một tôn giáo cho giới bình dân ngưỡng vọng. Nền
minh triết của Đạo Đức Kinh được khai triển bởi các danh gia tự xem là môn
đệ của Lão Tử, về sau trở thành một nền học thuật rồi dần biến thành một tôn
giáo thần bí.
Quan niệm Vô vi là tư tưởng triết học độc đáo và đặc sắc của Đạo gia.
Vô vi là khuynh hướng đưa con người trở về nguồn gốc sống tự nhiên, hợp
thể với Đạo.
Khoảng một trăm năm nay, ở phương Tây, triết học Lão- Trang ngày
càng có mặt trong phạm vi nghiên cứu của nhiều học giả thuộc bộ môn triết ở
các trường đại học, cho tới các trí thức muốn tìm cho mình một lối suy tư và
sống thanh thoát giữa lòng xã hội đang bị cơ khí hóa. Hơn bao giờ hết, xã hội
càng văn minh thì con người càng đánh mất chính mình. Sự tranh giành về
quyền lợi, vật chất đã làm cho con người ngày càng mất dần những giá trị đạo
đức. Vì vậy, quan niệm Vô vi của Đạo gia đã trở nên quan trọng và góp phần
làm cho xã hội tốt đẹp hơn.” Vô vi nhi bất vô vi nhi “ - Đề tài sẽ đi sâu nghiên
cứu tư tưởng vô vi của Đạo gia và những ảnh hưởng của tư tưởng này lên đời
sống xã hội ngày nay.

1


2


nhiều tháng sau đó, Khổng Tử và Lão Tử đã tranh luận về lễ nghi và phép tắc,
vốn là những nền tảng của Khổng giáo. Lão Tử cho rằng việc khôi phục lễ
giáo thời nhà Chu của Khổng Tử để giúp thiên hạ thái bình là không thực
dụng. Truyền thuyết Đạo giáo kể rằng những cuộc tranh luận đó có ích cho
Khổng Tử nhiều hơn so với những gì có trong thư viện.
Sau này, Lão Tử nhận thấy rằng chính sự của đất nước đang tan rã và
ông đã quyết định ra đi. Ông đi về phía Tây trên lưng một con trâu qua
nước Tần và từ đó biến mất vào sa mạc rộng lớn. Truyền thuyết kể rằng có
một người gác cửa tên Doãn Hỉ ở cửa phía tây của ải Hàm Cốc thuyết phục
Lão Tử viết lại những hiểu biết của mình trước khi đi vào sa mạc. Cho tới lúc
ấy, Lão Tử mới chỉ nói ra các triết thuyết của ông mà thôi, và giống như
trường hợp của Chúa Giêsu, Phật, và Khổng Tử (những cuốn văn tuyển của
họ hầu như được hoàn thành bởi các đệ tử). Theo yêu cầu của người lính đó,
Lão Tử đã viết để lại cuốn "Đạo Đức Kinh". Nhiều cuốn ghi chép và bức
tranh về Lão Tử còn lại đến ngày nay, thường thể hiện ông là một người già
hói đầu với một chòm râu trắng hay đen và rất dài; ông thường cưỡi trên lưng
một con trâu.
Một số vấn đề về cuộc đời Lão Tử vẫn còn được tranh luận như:


Những tranh cãi đã nổ ra về việc "Lão Tử" là một bút danh của

Đam, Thái sử Đam; hay một ông già từ Lai, một quận thuộc nước Tề; hay một
nhân vật lịch sử nào đó.


Cũng có người tin rằng "Đạo Đức Kinh" được viết như một cuốn sách

• Luật phản phục
• Triết lí Vô
• Thuyết vô vi
• Xây dựng một quốc gia lí tưởng
3. Quan niệm “Vô vi”
Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác không giả tạo,
không gò ép trái với bản tính của mình và ngược lại với bản tính của tự nhiên, là
từ bỏ tính tham lam, vị kỉ để không làm mất đức. Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư
lợi thì mới nhận thấy đạo, và chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi được.

4


CHƯƠNG 2

NỘI DUNG CHÍNH
1. Khái niệm “ vô vi”
Định nghĩa “ vô vi”
Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo,
không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên. Là
từ bỏ tính tham lam, vị kỉ để không làm mất đức.
Chỉ khi nào con người ta từ bỏ được thói tư lợi thì mới nhận thấy đạo, và
chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi được.
Cơ sở lí luận
Những tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia được thể hiện chủ yếu qua
tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử. Đây là một trong hai bộ sách kinh điển
của phái Đạo gia thể hiện qua những lí luận về Đạo và Đức. Những lí luận
này vừa thể hiện quan niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử, vừa là cơ sở lí
luận để Lão Tử xây dựng “Thuyết Vô vi”.
Vô Vi có thể gọi là danh từ gồm nắm tất cả bộ sách Đạo Đức Kinh. Đây

nghĩa là thuận với lẽ tự nhiên nhưng không cái gì mà nó không làm. Với tư
tưởng “Vô vi” cũng vậy, Lão Tử nói: “Vô vi” nhưng không có cái gì là
không làm được. Bởi vì, trong trời đất cái gì cũng có nguyên nhân. Có sông
mới có chết, có làm mới có thất bại, có cạnh tranh mới có người cạnh tranh
vớ mình. Đến trời đất là vật trường cửu, sở dĩ trường cửu được là bởi
không tự sinh ra, cho nên mới trường cửu mãi mãi. Bởi thế, thánh nhân để
thân mình ở sau mà thành ra thân mình ở trước, bỏ thân mình ra ngoài mà
thành ra thân mình còn mãi.
Theo Lão Tử, nguyên nhân của sự thất bại là “có làm” (hữu vi).

1. Nội dung tư tưởng “vô vi” của Lão Tử
Vô vi là tư tưởng của triết gia Lão Tử. Ông nói: “Vi vô vi nhi vô bất vi”.
Tạm dịch là: Không làm gì mà không gì là không làm. Hiểu nôm na là, nếu
bạn không làm gì mà thấy không việc gì thì không nên làm. Thiên nhiên, trời
đất vốn đã vận hành thành chu kì tự nhiên, nếu ta tác động vào một yếu tố nào
đó cũng sẽ làm đảo lộn chu trình này. Nếu ta không làm gì cả thì chu trình
6


trên vẫn sẽ hoạt động bình thường. Thuyết này đặc biệt hiệu quả trong trường
hợp ta chưa biết phải làm thế nào khi đứng trước một sự việc. Theo Lão Tử,
khi ấy tốt nhất ta không làm gì cả. Ví dụ như, khi chứng kiến cảnh con hổ
đang vồ con hươu để ăn thịt, nếu ta bắn chết con hổ để cứu con hươu thì ta có
thể sẽ giết hại cả đàn hổ con đang ở nhà chờ miếng ăn từ hổ mẹ. Nhưng nếu
chúng ta giúp con hổ để bắt con hươu dễ dàng hơn thì lại có lỗi với con hươu.
Vì thế, cúng ta cứ để cho sự việc xảy ra tự nhiên là phải đạo nhất.
Từ những lí luận của Lão Tử về “ vô vi” trong Đạo đức kinh, người ta có
thể nhận thấy tư tưởng của ông về “vô vi” bao gồm:
2.1


Không làm nhưng kết quả ngàn muôn
Nào ngờ không nói không làm
Chứa chan ích lợi người phàm đâu hay.”
2.2

Vô vi trong đạo đấu tranh

Thế thường, theo đạo Hữu Vi, thì phải lấy Mạnh mà thắng Mạnh, còn
Vô Vi thì trái lại lấy Nhu mà thắng Cương, lấy Nhược mà thắng Cường, hơn
nữa lấy “cái không tranh mà thắng được một cách vẹn toàn” ( bất tranh nhi
thiện thắng) (不爭而善勝) (Đạo Đức Kinh, chương 73).
Lão Tử viết: “Dĩ nhu khắc cương”. Ông tin rằng: “Nhu nhược thắng
cương cường”, và giải thích rằng: “Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công
kiên cường giả mạc chi năng thắng” (Dưới bầu trời này, còn thứ gì yếu mềm
hơn nước, thế mà kẻ mạnh phá được thành trì kiên cố, cũng chẳng thể thắng
nổi nước). Thuyết “Nhu khắc cương” là một trong những đặc điểm tiêu biểu
của triết lí Lão Tử. Đạo Đức Kinh, chương 43 “Biến dụng”, Lão Tử viết:
“Thiên hạ chi chí nhu, trì sính thiên hạ chi trí kiên. Vô hữu nhập vô gián…”,
hiểu là: cái mềm nhất trong trời đất chi phối được cái cứng nhất trong trời đất.
Cái “không có” lọt được vào chỗ “không có kẽ hở”.
2.3 Vô vi trong lối sống
Người đời thường bảo “biết người là Trí”, Lão Tử lại bảo “biết mình
là sáng”. Người đời thường bảo “thắng người là có sức”, ông bảo “thắng mình
là sức mạnh”. Biết người, thắng người là Hữu Vi, biết mình và thắng mình đó
là Vô Vi.

8


Người đời tranh nhau để làm cho cái bản ngã của mình càng thêm lớn

càng nghèo khổ, khốn khó; vì thiếu tự do mà dân chúng trở nên đa mưu xảo
kế để trục lợi thì nước nhà càng sa vào hỗn loạn, tối tăm. Người dân cần thật
thà, ít dục vọng, thì nước mới dễ trị. Bậc trị nước mà quá khắt khe, đem pháp
lệnh mà áp đặt trên đầu dân thì dân chúng cũng sẽ tìm đủ thủ đoạn, mánh
khóe để trốn tránh, mưu mô gian trá càng ngày càng nhiều, dân càng khó trị,
bọn đạo tặc càng nhiều. Dùng vô vi để trị thì ít can thiệp đến việc người, dùng
“bất ngôn chi giáo” mà dạy dân, lấy gương mẫu của mình mà sửa dân thì dân
không biết là mình đã làm gì, nhưng rồi dân chúng sẽ tự sửa đổi bản thân mà
không cần đến sự bắt buộc hay cấm đoán, ban hành pháp lệnh: “Ngã vô vi nhi
dân tự hóa”. Chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ tự biến thành chất phác.
Chính phủ tích cực làm việc thì dân đầy tai họa.
Theo Lão Tử, hành động hay nhất là không can thiệp vào việc đời, việc
người, nhưng nếu đời cần ta phải làm thì hãy làm một cách kín đáo, khéo léo.
Do vậy, Lão Tử viết: “thiện hành vô triệt tích” và ôn gọi đó là giải pháp “an
bang tế thế”.
Lão Tử viết: “vi nhi vô bất vi, thủ thiên hạ thường dĩ vô sự. Cập kì hữu
sự bất túc dĩ thủ thiên hạ”. Tức là, không làm mà không gì là không làm,
muốn được thiên hạ phải dùng vô vi, dùng hữu vi không đủ để được thiên hạ.
“Vô vi huyền diệu khôn bì,
Không làm mà chẳng việc chi không làm.
Vô vi mà được thế gian,
Càng xoay xở lắm đời càng rối beng”
Bậc thánh nhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi, chủ
trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về đạo đức, pháp luật đối với con người để
trả lại cho con người cái bản tính tự nhiên vốn có.
Lão Tử mơ ước đưa xã hội trở về thời nguyên thủy chất phác, mơ ước cô
lập cá nhân với xã hội để hòa tan con người vào đạo. Xã hội lí tưởng theo Lão
Tử là xã hội của những nước nhỏ, dân ít, có thuyền xe nhưng không đi, có
gươm giáo nhưng không dùng, bỏ văn tự, từ tư lợi, không học hành. Dân hai
10

vô dục. Sở phù trí giả bất cảm vi dã.”. Tức là bậc thánh nhân trị nước là phải
11


làm cho dân: trống lòng, no dạ, yếu chí, mạnh xương. Thường khiến cho dân
không biết, không ham. Khiến cho kẻ trí không dám làm gì cả.
Vô vi về đạo trị nước có nghĩa là: “phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi”,
nghĩa là không làm cho dân khôn lanh, mà làm cho dân trở nên thật thà. Chữ
“ngu” ở đây không mang nghĩa là ngu dốt mà là thật thà. Đó là cái “ngu” của
những bậc thánh trí “minh đạo nhược muội”.
Chúng ta thấy rằng ngày nay các nhà cầm quyền bày vẽ quá nhiều luật
pháp, lễ nghi, hình thức nên đã làm cho nhân dân mất đi thiên chân thiên tính,
để chạy theo những văn minh, những kiến thức kiến văn giả tạo bên ngoài.
Những thứ đó không đem lại hạnh phúc, bình an cho con người. Mà trái lại,
chúng chính là mầm mống của loạn lạc, chia ly. Vì vậy, Lão Tử chủ trương
không can thiệp vào đời sống của dân, không đem kiến văn, kiến thức dạy
dân. Bởi:
• Con người là một nghệ phẩm tối cao, không được nhào nặn bậy bạ.
“Những muốn nặn muốn nhào thiên hạ,
Suy cho cùng chẳng khá được nào.
Lòng người nghệ phẩm tối cao,
Ai cho ta nặn ta nhào tự do?
Lòng người ai nắm giữ hoài,
Già tay nặn bóp bao đời tiêu ma.”
(Đạo Đức Kinh, chương 29)
• Thánh nhân chỉ giúp cho vạn vật sống tự nhiên theo thiên chân, thiên lí.
“Cho nên hiền thánh trên đời,
Chỉ say Đạo cả chơi vơi ngàn trùng.
Của khan vật hiếm chẳng mong,
Của đời người tế đèo bòng mà chi.

Giữ sao đức cả khỏi phai, khỏi mờ.
Tinh toàn đức tính trời cho,
Ắt là thái thịnh, ắt là bình an.
Cần chi mòn mỏi tâm can,
Càng bày vẽ lắm, càng oan trái nhiều.
Trị dân chớ có đặt điều,
Làm dân vui, khổ trăm điều mà chi.
Càng nhiều lễ độ, lễ nghi,
Gian ngoan càng lắm, gian phi càng nhiều.
Nghĩa phân mầm mống đăm chiêu,
Nặng bề hình thức, nhẹ chiều tinh hoa.
Cho nên đường lối cao xa,
Con đường tuyệt diệu phải là vô vi.
Khi người quân tử trị vì,
Cần chi thao thức, suy vi hình hài.
Vô vi bắt trước lối trời,
Ngồi yên dùng mắt tuyệt vời mà xem.
14


Im lìm vẫn tựa sấm rền,
Dùng thần vận chuyển khắp miền trời mây.
Im lìm lặng lẽ khoan thai,
Thế mà muôn vật muôn loài nhởn nhơ.
(Trang Tử)

2.

Tư tưởng vô vi của đạo Phật


tưởng của Lão giáo, Phật giáo đều đề cập tới. Xét về bản chất thì tư tưởng vô
vi của hai đạo có khác nhau, đó là sự chấp nhận cái “nguyên lí ban đầu” của
Lão không giống với “nhân duyên” của Phật, còn “hành xử vô vi thì giống
nhau”.
Lão Tử viết: “Đại Đáo phế hữu nhân nghĩa”, “hành vô vi chi Đạo” tức là
ông tin có một quyền năng rất lớn bao trùm thế giới, đó là Đạo. Đạo có sức
mạnh lan tỏa khắp vũ trụ ảnh hưởng tới thịnh suy của mọi đời người, mọi thời
cuộc. Đó là cái “nguyên lí ban đầu” mà Lão Tử đưa ra như một đấng toàn
năng điều khiển thế giới. Đó là nguyên lí “hữu thần” trong hầu hết giáo lí của
các tôn giáo ngoại trừ Phật giáo. Phật chỉ ra rất nhiều thế giới thần linh nhưng
tất cả đều bị chi phối bởi luật nhân quả. Vì thế, dưới góc nhìn của Phật giáo,
chúng thần, thiên, nhân… cũng chỉ là quảng đại chúng sinh cần phải tu tập,
tuyệt nghiệp mới trở thành Phật đạo. Phật nói: “Ta là Phật, các ngươi sẽ là
Phật” tức là chỉ ra nhân duyên sinh quả Phật do tu đắc mà thành, chứ không
có vị Phật nào điều khiển sự “thành Phật” của chúng sinh, hay nói khác đi là
sự thịnh suy của mọi đời người, mọi thời cuộc do chính nhân duyên của đời
người, thời cuộc đó quyết định. Đây là nguyên lí “vô thần” của Phật giáo và
nó là sự khác nhau cơ bản về tư tưởng so với các tôn giáo khác, trong đó có
Lão giáo.
“Hành vô vi chi đạo” hiểu theo nghĩa đen tức là không làm gì cả, nhưng
ở đây Lão Tử muốn dạy ta rằng “không làm cái không nên là” chứ không bảo
ta lười biếng. Các bậc đế vương thấy được cái không nên làm để không làm
tức là Thánh đế, nhưng người đời lại thường xảo biện nên Đạo lớn của Lão
Tử khó thành.
16


Lão Tử nói “Đại Đáo phế hữu nhân nghĩa, huệ trí xuất hữu đại ngụy”.
Loài người càng khôn ngoan thì sự dối trá càng nhiều và việc lấy “Lễ” để che
đậy càng khéo léo hơn. Cái sự làm “cái không nên làm” ngày càng nhiều.

người khác chỉ mới là trí, phải tự biết mình thì mới là sáng. Ông chú trọng
đến việc tự chinh phục bản thân hơn là chinh phục người khác. Nên bằng lòng
với những gì mình có, “tri túc chi túc hà thời túc, tri nhàn chi nhàn hà thời
nhàn”, nghĩa là biét đủ thì đủ và lúc nào cũng đầy đủ, biết nhàn thì nhàn và
lúc nào cũng nhàn. Đặc tính căn bản của sách lược “vô vi” của Lão Tử là tiết
kiệm. Thánh nhân không phí sức, phí công thi triển tài năng, mà ngược lại thì
tằn tiện trong mọi trường hợp. Sự sung mãn, dồi dào đến từ nỗ lực tiết kiệm
lâu dài sẽ mang đến thắng lợi. Đạo Phật cũng khuyên con người nên biết đủ
với những gì mình đang có, không lãng phí mà biết giữ gìn phúc đức về sau.
Sự tạo phúc rất khó khăn nên cần phải biết tích trữ, nếu không khi phúc ko
còn thì ắt sẽ bị đọa lạc.

3. Ảnh hưởng của tư tưởng vô vi lên đời sống xã hội.
4.1 Ảnh hưởng của tư tưởng vô vi lên đời sống xã hội Trung Quốc cổ
đại.
Tư tưởng vô vi của Lão Tử đã vạch ra một lối thoát cho những kẻ bất
mãn với thế cuộc nhiễu nhương, đầy cạm bẫy như thời Xuân Thu Chiến
Quốc, có được một lẽ sống riêng, hợp với bản chất chân thật của mình.
Đồng thời tránh được lối phản kháng bằng hành động phạm pháp cá nhân
hay bạo lực tập thể, khiến cho xã hội mà mình đang bất mãn càng thêm
hỗn loạn, rối ren.
Tuy nhiên, thuyết vô vi của Lão Tử dễ trở thành cái cớ để người ta trốn
tránh trách nhiệm, nhất là những người làm công chức ăn lương nhà nước và
lại có tâm lí rất tiêu cực: “Ít làm ít lỗi, không làm không có lỗi”.
4.2 Ảnh hưởng của tư tưởng vô vi lên đời sống xã hội ngày nay.
Vô vi không phải là không làm gì mà là hành động được tiến hành theo
hai nguyên tắc:
• Hành động không cố sức, không hoang phí năng lực.
• Hành động không đi ngược lại với tự nhiên.
18

đánh giá một cách trực quan rồi hành động một cách tự nhiên không suy tính,
19


từ đó gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển cả xã
hội.
Cũng giống như ở xã hội thời trước, tư tưởng vô vi dễ trở thành cái cớ để
con người trốn tránh trách nhiệm và có tâm lí tiêu cực.
và thất bại khi chủ quan, duy ý chí, phủ định sạch trơn chủ nghĩa tư
bản.Trước khi tiến hành bất cứ việc gì, con người nên suy xét, đánh giá vấn
đề, lựa chọn phương thức và trình tự thực hiện từ dễ đến khó, từ lớn đến nhỏ.
Thời kì đầu quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một ví dụ điển hình khi
không đi theo trình tự con đường từ xã hội phong kiến, sang chủ nghĩa tư bản
và đến chủ nghĩa xã hội, đã có không ít sai lầm
Trong sự phân biệt giữa Thiện và Ác, Nho gia và Đạo gia có hai lối tiếp
cận đạo đức học rất khác nhau. Là người nhập thế, Nho gia luôn ở trong tư thế
sẵn sàng can thiệp vào cuộc đời để xác định cách ta nên ứng xử theo các
hướng hành động nhất định. Nói cách khác, đối với Nho giáo, “chính nhân
quân tử” có những hành động nên được thể hiện vì cái thiện của xã hội, còn
kẻ tiểu nhân thì không cần làm vậy. Ngược lại, với Đạo học, “không nệ chính
tà”, đó là một sự can thiệp trong tinh thần sẽ khiến cho con người không thể
tri giác trật tự tự nhiên của Đạo.
Tư tưởng này của Đạo gia đã hình thành nên quan niệm: ẩn sâu bên
trong của một con người vẫn luôn là một trái tim biết yêu thương, rung động
trước những cảnh đời, cần phải biết khơi gợi nó lên không kể là người giàu
hay nghèo, đàn ông hay phụ nữ, để họ thành thiện một cách tự nhiên, không
chủ ý.
Vô vi tạo sự “đồng nhất” để giảm thiểu sự tác động. Cuộc sống gây nên
cho mọi người những vấn đề tương đối giống nhau, nhưng Đạo học lại cho
rằng bằng cách sống tự nhiên, ta có thể giảm thiếu tối đa những tác động của

Tư tưởng vô vi bảo vệ lợi ích của nhân dân, vì một cộng đồng tốt đẹp
hơn. Dương Chu - một nhà tư tưởng Đạo học tiền phong thuộc thế hệ thứ nhất
và là nhà tư tưởng “thủ thân chủ nghĩa” của Đạo học. Ông quả quyết rằng thật
lầm lạc khi ta có hành động làm tổn thương bản thân cho dù hành động ấy
mang lại lợi ích cho toàn thế gian, vì cuộc sống có hai mục đích: một là giữ
21


cho bản thân không bị tổn hại, hai là sống hết sức lâu dài có thể được. Tuy
nhiên, tư tưởng này của Đạo gia đã vô hình tạo nên một tầng lớp cổ vũ cho
chủ nghĩa cá nhân, chỉ nghĩ đến lợi ích cục bộ mà không chăm lo cho lợi ích
của tập thể và của xã hội.
Trong “Thiên tề vật luận”, Trang Tử viết hễ hai người tranh luận không
thể phân định ai đúng ai sai, ai hơn ai thua thì khó có khả năng phân xử công
bằng, vì dù có người thứ ba phân xử thì cũng hoặc sẽ theo quan điểm của bên
này, bên nọ hoặc theo quan điểm của riêng họ. Vì vậy hệ thống luật pháp ra
đời, quy định rõ những quy tắc ứng xử, những chuẩn mực đạo đức, xem như
một tiêu chuẩn để đánh giá đúng sai, hơn thua một cách khách quan. Tuy
nhiên, tư tưởng này lại dẫn đến thái độ không chịu thỏa hiệp trong các cuộc
tranh luận và không tin tưởng vào sự phán xét của người thứ ba.
4.2.3 Trong lĩnh vực quân sự - quốc phòng
Lão Tử chủ trương không dùng sức mạnh quân sự để “trị quốc, bình
thiên hạ”. Sinh trưởng trong giai đoạn chiến tranh triền miên nên Lão Tử rất
ghét binh lửa. Quân đội đi đến đâu là mang đau thương đến đó, và còn gây
nhiều hậu quả cho tương lai. Nếu lãnh tụ quốc gia sử dụng sức mạnh binh đao
thì sớm muộn cũng sẽ thất bại dưới vó ngựa của một đạo quân mạnh hơn.
Không có sức mạnh quân sự nào là trường cửu vĩnh viễn. Trong thời đại ngày
nay, tư tưởng này càng phát huy giá trị, các quốc gia chủ trương giải quyết
các vấn đề xung đột, tranh chấp trên bàn đàm phán.
Tuy nhiên, theo Lão Tử, quốc gia chỉ điều động sức mạnh quân sự khi

nhập, năng lực sản xuất, nguồn vốn, hành lang pháp lí cái nào tăng, cái nào
giảm. Để từ đó hình thành nên những nguyên tắc trong cơ chế vận hành của
nền kinh tế.
4.2.5

Trong hoạt động đối ngoại

Lão Tử đưa ra chủ trương bất tranh: “Dĩ kì bất tranh cố thiên hạ mạc
năng dữ chi tranh” (Không tranh với ai cho nên thiên hạ không ai tranh với
mình). Nước lớn phải biết khiêm nhường để cho nhân dân các nước nhỏ mến
phục và hướng về quy phục nước lớn. Trái lại, nếu các nước lớn dùng sức
mạnh để xâm lăng các nước nhỏ thì sớm muộn nhân dân bị trị sẽ đứng dậy
chống lại quân xâm lược.
4.2.6

Trong quan điểm bảo tồn thiên nhiên

23


Thiên nhiên đất trời vốn đã vận hành thành chu kì tự nhiên, nếu chúng ta
tác động vào bất kì một yếu tố nào thì cũng có thể làm thay đổi chu trình trên.
Thuyết vô vi giải thích tại sao cần phải bảo tồn thiên nhiên, đảm bảo sự cân
bằng sinh thái. Hạn chế chặt phá rừng để bảo vệ đất, hạn chế thiên tai lũ lụt.
4.2.7

Trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, hội họa

• Tư tưởng văn nghệ dùng phương pháp hư cấu và tượng trưng để biểu
hiện cảnh giới siêu hiện thực một cách tự nhiên, hướng gần đến chủ nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status