Câu hỏi ôn thi môn đại cương văn hóa việt nam - Pdf 42

Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
Câu hỏi ôn thi môn Đại cương văn hóa Việt Nam
Câu 1: khái niệm văn hóa? Phân biệt khái niệm văn hóa, văn minh, văn hiến và văn
vật


Khái niệm văn hoá:

Đã có rất nhiều các tổ chức, các quốc gia và các chuyên gia nghiên cứu về văn hoá
đưa ra các khái niệm về văn hoá và các vấn đề liên quan, và hiện tại chưa có một
khái niệm nào về văn hoá được thống nhất tuyệt đối. Có thể đưa ra một số quan
niệm, khái niệm và định nghĩa về văn hoá như sau:
Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa
học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn,
ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là
văn hoá.
Cố TT Phạm Văn Đồng: Văn hóa bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình
cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái
mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề
kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.
PGS.TS Trần Ngọc Thêm: Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn
trong sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã hội của mình.
UNESCO: Văn hoá hôm nay có thể coi là một tổng thể những nét riêng biệt tinh
thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của
một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những
lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những
phong tục và những tín ngưỡng
Phân biệt khái niệm văn hóa, văn minh , văn hiến , văn vật:ư
-

vật chất

Thiên về giá trị vật
chất – kĩ thuật

Có bề dày lịch sử

Chỉ trình độ phát
triển

Có tính dân tộc

Có tính quốc tế

Gắn bó nhiều hơn với phương Đông nông nghiệp

Gắn bó nhiều hơn
với phương Tây đô
thị

Câu 2: đặc trưng ,chức năng cơ bản của văn hóa. Liên hệ với những chức năng và
đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam .
Các đặc trưng và chức năng của văn hóa

2


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
a. Tính hệ thống là đặc trưng hàng đầu của văn hóa ( "văn hóa là một hệ thống
hữu cơ ..." ). Chính nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một đối tượng

vực phải sinh sống bằng hai nghề khác nhau : trồng trọt và chăn nuôi.
Kinh tế trồng trọt bắt buộc phải sống định cư, còn lối sống chăn nuôi
lại là lối sống du cư lang thang nay đây mai đó đi tìm cỏ cho gia súc.
Môi trường sống quy định kinh tế, và, đến lượt mình, kinh tế quy định
văn hóa. Kết quả là hình thành một cách rất rõ ràng hai loại văn
hoá : Văn hóa nông nghiệp thì lo tạo dựng một cuộc sống ổn định lâu
dài, không xáo trộn - chúng mang tính chất trọng tĩnh; văn hóa du mục
thì lo tổ chức làm sao để có thể thường xuyên di chuyển một cách gọn
gàng nhanh chóng, thuận tiện - chúng mang tính chất trọng động. Các
nền văn hóa hiện đại dù đang thuộc giai đoạn văn minh nào (nông
nghiệp, công nghiệp, hay thậm chí hậu công nghiệp) cũng đều không
thoát ra ngoài hai loại hình ấy. Căn cứ theo nguồn gốc, có thể gọi
chúng là các nền VĂN HÓA GỐC NÔNG NGHIỆP và các nền VĂN
HÓA GỐC DU MỤC. Điển hình cho loại gốc du mục (trọng động) là
các nền văn hóa phương Tây; còn điển hình cho loại gốc nông nghiệp
(trọng tĩnh) là các nền văn hóa phương Đông.
Chính vì động cho nên các nền văn hóa phương Tây đã chuyển biến rất
nhanh. Trong khi phần lớn các nền văn hóa phương Đông đến nay về
cơ bản vẫn mang tính nông nghiệp thì các nền văn hóa phương Tây đã
chuyển sang công nghiệp từ lâu. Con đường chuyển biến từ du mục đến
công nghiệp đã đi qua giai đoạn thương nghiệp : Ban dầu là du mục,
5


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
nhưng trong khi lang thang từ nơi này sang nơi khác, người ta nhận ra
sự khác biệt về giá cả, vì vậy họ đã chuyển sang mô hình kết hợp du
mục + buôn bán. Rồi dần dà nhận ra rằng buôn bán có lợi hơn chăn
nuôi nên họ đã từ bỏ chăn nuôi mà chuyển hẳn sang thương nghiệp .
Nhưng thương nghiệp thì phải có kho bãi, phải có nơi gặp gỡ để trao

6


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
tất cả : trời, đất, nắng, mưa:
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm...
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.
Đó chính là đầu mối của lối tư duy tổng hợp. Tổng hợp kéo theo biện
chứng - cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là tập hợp của
các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng
hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến các
mối quan hệ giữa chúng. Người Việt tích lũy được một kho kinh
nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này :Trời đang nắng, cỏ
gà trắng thì mưa; Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa: Ráng mỡ gà ai có
nhà thì phải chống: Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì
đau mùa lúa; Mồng tám tháng tám không mưa, bỏ cả cày bừa mà nhổ
lúa đi...
Ngược lại, đối tượng quan tâm của nghề chăn nuôi không tản mạn mà
tập trung vào đàn gia súc, con vật. Xuất phát từ cái chỉnh thể, tư duy
của con người tất yếu đi theo lối phân tích để tách ra các yếu tố cấu
thành; từ con vật hoàn chỉnh mổ xẻ chia ra các bộ phận. Và đối tượng
quan tâm ở đây tập trung vào chính các bộ phận riêng lẻ ấy (vì mối liên
hệ giữa chúng trong chỉnh thể đã là đương nhiên), cho nên phân tích
kéo theo siêu hình - chú ý tới các yếu tố, trừu tượng hóa chúng khỏi các
mối liến hệ.
Tư duy phân tích và siêu hình là cơ sở cho sự hình thành và phát triển
của KHOA HỌC theo con đường thực nghiệm, khách quan, lí tính.
Tính chặt chẽ và sức thuyết phục của khoa học từ dó mà ra. Ngược lại,

họ mẹ... Thời kỳ sau này, đặc biệt là từ khi nhà Lê lấy Nho giáo làm
quốc giáo, nền văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn
hóa Trung Hoa; nó đã du nhập nhiều tư tưởng gốc du mục, trong đó có
tư tưởng "Nam tôn nữ ti". Nhiều người chỉ biết tới những quan niệm
"nhập cảng" như thế rồi tưởng rằng tình trạng đó vốn có ở Việt Nam từ
ngàn xưa là hết sức sai lầm.
5. Về cách thức tổ chức cộng đồng, ta thấy lối tư duy tổng hợp và
biện chứng, luôn phải đắn do cân nhắc của người làm nông nghiệp đã
dẫn đến lối sống linh hoạt. luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn
cảnh cụ thể (dẫn đến triết lí sống của người Việt Nam là : Ở bầu thì
tròn, ở ống thì dài; Đi với Bụt mặc áo cà sa - Đi với ma mặc áo giấy).
Ngược lại, tư duy phân tích và siêu hình của văn hóa gốc du mục dần
đến cách thức tổ chức cộng đồng theo nguyên tắc : cuộc sống du cư của
tổ tiên khi xưa đòi hỏi con người luôn phải tuân thủ kĩ luật chặt chẽ,
sớm dẫn đến sự hình thành một nếp sống theo pháp luật, với tính tổ
chức cao. Cách thức tổ chức theo nguyên tắc liên quan đến lối sống
trọng lí - đề cao lí trí theo lối nói cực đoan Tây phương là duy lí . Để
duy trì được nguyên tắc, kỉ luật, văn hóa gốc du mục có thiên hướng
8


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
coi trọng sức mạnh, trọng võ, trọng nam giới. Thiên hướng đó tạo ra
cách cư xử mà quyền lực tuyệt đối nằm trong tay người cai trị (quân
chủ).
Mỗi lối sống có cái ưu và nhược điểm riêng của nó. Không phải cứ linh
hoạt, trọng tình, dân chủ là tốt; ngược lại, nguyên tắc, trọng võ, quân
chủ là xấu. Nếu như mặt trái của nguyên tắc là máy móc, rập khuôn
cứng nhắc; mặt trái của quân chủ là áp đặt thiếu bình đẳng thì mặt trái
của linh hoạt là tùy tiện. Biểu hiện tiêu biểu của tùy tiện là tật co giãn

Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
VH GỐC NÔNG
NGHIỆP

VH GỐC DU
MỤC

Địa hình

Đồng
thấp)

Đồng cỏ (khô,
cao)

Nghề chính

Trồng trọt

Chăn nuôi

Cách sống

Định cư

Du cư

Ứng xử với môi trường
tự nhiên


Trọng tình, trọng
đức, trọng văn,
trọng phụ nữ

Trọng
sức
mạnh,trọng tài,
trọng võ, trọng
nam

Cách thức
tổ
chức
cộng đồng

Linh hoạt và dân
chủ

Nguyên tắc và
quân chủ

Dung

Chiếm đoạt và

TIÊU CHÍ

Đặc
trưng
gốc

phó

Bảng 3 : So sánh các đặc trưng của hai loại hình văn hóa
Đây là hai loại hình văn hóa cơ bản có tính cách bao trùm. Mọi nền văn
hóa trên thế giới đều không thoát ra ngoài hai loại hình văn hóa này. Tự
thân các thuật ngữ "gốc nông nghiệp" và "gốc du mục" đã nói lên rằng
không có nền văn hóa nào là nông nghiệp hoàn toàn hoặc du mục hoàn
toàn. Căn cứ vào những đặc trưng đã nêu, ta luôn có thể nhận diện và
xác định mức độ nông nghiệp (trọng tĩnh) hay du mục (trọng động) của
từng nền văn hóa.
Chẳng hạn, theo các đặc trưng này thì ta còn có thể thấy rằng trong
phương Đông trọng tĩnh thì văn hóa Trung Hoa ở phía Bắc lại thiên về
tính động, còn văn hóa Việt Nam thiên về tính tĩnh. Như vậy, Trung
Hoa là động ở trong tĩnh, còn Việt Nam là tĩnh ở trong tĩnh (rất tĩnh =
nông nghiệp điển hình). Ngay trong nội bộ Trung Hoa cũng không khó
khăn gì có thể phân biệt khu vực phía Bắc thiên về tính động (kinh tế
thì thiên về chăn nuôi, xã hội thì phát triển thương nghiệp và đô thị....);
còn khu vực phía Nam thiên về nông nghiệp tính tĩnh.
Văn hóa nông nghiệp và du mục còn có thể được nói đến trong mối
quan hệ với "Văn hoá đô thị", "Văn hoá công nghiệp", "Văn hoá hậu
công nghiệp"... Đây là sự phân loại trong nội bộ mỗi nền văn hóa hoặc
mỗi loại hình văn hóa. Thực chất, đây chính là sự phân loại các nền
văn minh chủ yếu là theo phương diện đồng đại. Học thuyết các hình
thái kinh tế – xã hội của C. Mác phân chia xã hội loài người thành các
giai đoạn công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản,...
hoàn toàn có thể vận dụng làm cơ sở cho việc phân loại các nền văn
minh theo phương diện lịch đại (xét theo các giai đoạn phát triển của
chúng).

11

nhà của người Việt rất coi trọng gian bếp, thể hiện sự coi trọng phụ nữ. Người
Việt coi: Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bằng cồng bà… Người phụ nữ cũng
được xem là người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con cái: Phúc đức tại
mẫu; Con dại cái mang… Sự gắn bó cộng đồng tạo nên lối sống trọng tình nghĩa:
Lá lành đùm lá rách; Bầu ơi thương lấy bí cùng…; các quan hệ ứng xử thường đặt
lý cao hơn tình: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình…
Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông
nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đên lối sống linh hoạt, luôn thay đổi
để thích hợp với từng hoàn cảnh: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo
cà sa, đi với ma mặc áo giấy; … Mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu
12


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
hiện ở tật co giãn giờ giấc, sự thiếu tôn trọng pháp luật, tệ đi “ cửa sau” để giải
quyết công việc( Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế).
Vì sống theo tình cảm nên mọi người phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân
chủ với nhau. Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lý coi trọng
cộng đồng, coi trọng tập thể. Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể,
luôn có tập thể sau lưng.
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp vfa phong cách linh hoạt
còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có
chiến tranh tôn giáo mà mọi tôn giáo đều được tiếp nhận. Đối phó với các cuộc
chiến tranh xâm lược người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa.
Như vậy, hầu như tất cả những đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp
trồng trọt đều được thể hiện rõ nét trong cách tố chức đời sống, phương thức tư
duy, lối ứng xử của người Việt truyền thống.
Câu 5: tính thích ứng của con người Vn với môi trường tự nhiên và xã hội
1. Môi trường tự nhiên:


bắc trung hoa thiên về ăn thịt, còn bữa ăn của người Việt luôn mang đậm dấu ấn
truyền thống nông nghiệp lúa nước.
+. Tục ngữ có câu: " Người sống về gạo
Cá bạo về nước
Cơm tẻ mẹ ruột "
Hay:

"Đói thì thèm thịt thèm xôi
Hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường "

Không phải ngẫu nhiên mà người Việt gọi " bữa ăn là bữa cơm" coi cây lúa là
tiêu chuẩn của cái đẹp (em xinh là xinh như cây lúa).
+ Trong bữa ăn của người Việt Nam sau lúa gạo thì đến " Rau Quả " nằm ở 1
trong những trung tâm trồng trọng, Việt Nam có 1 danh mục rau quả mùa nào thức
ấy, phong phú vô cùng . Đối với người Việt Nam thì " đói ăn rau, đau uống thuốc "
là chuyện tất nhiên.
" Ăn cơm không rau như người già chết ko kèn trống "
Hay " Ăn cơm không rau như đánh nhau ko có người đỡ ".
Tuy nhiên nói đến rau trong bữa ăn không thể ko nhắc đến 2 món đặc thù là rau
muống và dưa cà.
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
14


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
Các loại gia vị đa dạng như: hành , gừng, tỏi , ớt, tiêu, húng, mùi, răm, thì là...
cũng ko thể thiếu đc trong bữa ăn của người Việt
+ Đứng thứ 3 trong cơ cấu ăn và đứng hàng đầu thức ăn động vật của người Việt
là các loại thủy sản, sản phẩm của vùng sông nước. Sau " Cơm rau" thì " Cơm cá"

bữa ăn gia đình tạo nên nét ấm cúng trong bữa ăn của người Viêt và thú uống rượu
15


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
cần của người vùng cao là biểu hiện triết lý thâm thúy về tính cộng đồng sống chết
có nhau.
Tính cộng đồng đòi hỏi ở con người 1 thứ văn hóa cao trong ăn uống " Ăn trong
nồi ngồi trong hướng". Vì nét truyền thống của người Việt trong bữa ăn là mực
thước, tính mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bình trong âm dương
nó đòi hỏi " ăn chậm nhai kĩ "
Khi ăn cơm khách 1 mặt phải ăn cho ngon miệng để tỏ lòng biết ơn và tôn trọng
chủ nhà, mặt khác phải chừa ra 1 ít trong các đĩa đồ ăn để tỏ rằng mình không chết
đói, không tham ăn. Tục ngữ có câu : Ăn hết bị đòn. ăn còn mất vợ "
Tính cộng đồng và tính mực thước trong bữa ăn thể hiện qua nồi cơm và chén
nước mắm.


Tính biện chứng , linh hoạt trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt.

* Tính linh hoạt của người Việt Nam thể hiện rất rõ trong cách ăn
* Tính linh hoạt còn thể hiện trong dụng cụ ăn : truyền thống sử dụng dụng cụ là
đôi đũa, đó là cách ăn đặc thù mô phỏng động tác của con chim nhặt hạt xuất phát
từ những thứ ăn những thứ ko thể dùng tay bốc hoặc mó tay vào được ( cơm, cá,
nước mắm..)
* Biểu hiện ko kém quan trọng hơn cả của tính biện chứng trong việc ăn là ở chỗ
người Việt Nam đặc biệt chú trọng đến quan hệ biện chúng Âm- Dương bao gồm 3
mặt liên quan mật thiết với nhau là: âm dương của thức ăn, sự quân bình âm dương
trong cơ thể và sự cân bằng âm dương giữa con người với môi trường tự nhiên.
+ Để tạo nên những món ăn có sự cân bằng âm dương người Việt phân biệt thức ăn

- Ăn chắc mặc bền
- Ăn no mặc ấm
- Người đẹp vì lụa lúa tốt vì phân
- Chân tốt vì hài , tai tốt vì hoa
* Trang phục vủa người Việt:
Nam giới: Khố , áo bà ba , áo the , quần , khăn đóng,…
Nữ giới: yếm , áo cánh , áo dài, váy , quần , khăn , nón ,…
Ở và đi lại
• Ứng phó với khoảng cách giao thông.
+) Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do bản chất nông nghiệp sống định
cư cho nên con người ít có nhu cầu di chuyển.Đặc biệt nhiều cụ già ở nông thôn
thậm chí còn ít khi đi xa.Vì vậy ,dễ dàng hiểu được giao thông trước đây chủ yếu
bằng đường bộ,thuộc loại lĩnh vực kém phát triển.
Từ thế kỉ XX còn phát triển các phương tiện đi lại bằng gia súc: trâu, ngựa, voi.
Nhưng phổ biến vẫn là đôi chân.
+) Hoạt động chủ yếu của người nông nghiệp Việt Nam là di chuyển gần từ nhà ra
đồng,từ nhà lên nương.Ruộng nước và nương rẫy là nơi không thể đưa các phương
tiện xe nên họ dùng sức là chủ yếu là dùng sức.Chính vì vậy trên thế giới này
không một ngôn ngữ có số lượng chỉ hoạt động vận chuyển bằng sức người đa
dạng và phong phú như tiếng việt.
• Ứng phó với thời tiết, khí hậu : nhà cửa, kiến trúc
c)

17


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
Đối với nông nghiệp thì ngôi nhà chính là tổ ấm để đối phó với thời tiết nóng lạnh,
nắng mưa, gió bão- 1 trong những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cho họ 1
cuộc sống định cư ổn định: " Có an cư thì mới có lạc nghiệp " hay " thứ nhất

kinh tế, xã hội, nghề nghiệp,…) xung quanh con người
Cơ cấu xã hội Việt Nam cổ truyền:
Gia đình và dòng họ
Làng

Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội đó chính là cách chọn lọc, dung hòa và tích
hợp nhiều nguồn gốc tạo ra văn hóa Việt Nam. Đó là quá trình:◊Văn hóa ứng xử
với môi trường xã hội đó chính là cách chọn lọc, dung hòa và tích hợp nhiều nguồn
gốc bộc lộ tính chủ động và khả năng chi phối, tác dộng trở lại của văn hóa bản địa
trong quá trình tiếp nhận. Dung hợp giữa văn hóa bản địa và văn hóa ngoại lai
Sự dung hợp của các hiện tượng văn hóa ngoại lai với nhau
tổng hợp các tôn giáo – xuất hiện đạo Cao Đài◊+ Sự tồn tại của Tam giáo (Phật
giáo, Lão giáo, Nho giáo) cao hơn là sự tích hợp văn hóa Đông – Tây với học
thuyết Mác. Sự dung hợp VH Đông – Tây
Chính sự dung hòa, hiếu hòa, linh hoạt đã làm các yếu tố VH ngoại lai sau khi
được tiếp nhận không hề xung đột.
Ứng xử là một biểu hiện của sự giao tiếp, giữa con người với con người,
giữa cá nhân với cộng đồng xã hội. Đồng thời nó cũng là sự phản ứng của người
này trước sự tác động của người khác trong một tình huống nhất định, một hoàn
cảnh nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con
người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau.

19


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó được
hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân đó
trong một môi trường gia đình và xã hội nhất định. Hành vi ứng xử văn hóa được
coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân Nó được biểu hiện

phải biết thích ứng với những gì đang diễn ra xung quanh mình. Sự cân bằng tình
20


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
cảm đó sẽ đem lại cho ta một cảm giác thoải mái, tin tưởng trong sự giao tiếp.
Khéo ứng xử, và ứng xử có tế nhị là không nên làm phiền người khác, không đi
sâu vào đời tư của họ, biết giữ một khoảng cách tình cảm giữa mình với người tiếp
xúc, đặc biệt khi mới gặp, không nên kể chuyện đời tư của mình một cách dễ đãi,
không mời đến nhà những người ít quen biết.
Nếu có cách đối nhân xử thế đúng đắn, có phép lịch sự trong giao tiếp thì
người ta sẽ có nhận thức đúng đắn về đạo đức tư cách lối sống của mình. Điều này
giúp chúng ta ngày càng trưởng thành lên và có kinh nghiệm sống ngày càng
phong phú. Cách đối nhân xử thế là thể hiện vốn sống của mỗi cá nhân, sự hiểu
biết của mỗi người về các mối quan hệ xã hội người với người.

Câu 6: các thành tố cơ bản của văn hóa qua phân tích một số thành tố cơ bản
của văn hóa Vn
Văn hóa có 4 thành tố cơ bản:
1.
2.
3.
4.

Văn hóa nhận thức
Văn hóa tổ chức cộng đồng
Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội

Một số thành tố cơ bản của văn hóaViệt Nam:

xuất hiện từ lúc nào thì văn hóa xuất hiện từ lúc ấy.
- Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa. Trong suốt lịch sử hình thành
và phát triển, con người luôn sáng tạo không ngừng để làm nên các giá trị văn hóa .
Ví dụ cho những giá trị văn hoá có thể kể đến ngôn ngữ, nghệ thuật, phong
tục tập quán và lối sống từ xưa đến nay (Chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ, nghệ thuật
tuồng, chèo, tục ăn trầu , hay phong tục thờ cúng tổ tiên là những nét đẹp do con
người sáng tạo ra để bày tỏ long biết ơn, tầm long hiếu thảo với ông bà , tổ tiên, tới
những người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng)
- Con người là khách thể của văn hóa khi con người là một vật mang văn
hóa tiêu biểu. Các giá trị văn hóa vật chất có thể mất đi nhưng nếu con người – vật
mang văn hóa còn thì nên văn hóa vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. Ví như trong
suốt thời kì Bắc thuộc, thực dân phương Bắc luôn tìm cách đồng hóa văn hóa, xóa

22


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
bỏ văn hóa nước ta , nhưng với lòng yêu nước, người Việt Nam vẫn bảo tồn văn
hóa Việt Nam trường tồn cùng năm tháng.
Ví dụ xét trên phương diện lối sống : Môi trường tự nhiên đã tác động đến
văn hóa ăn mặc của con người. Ở miền Bắc, khí hậu có 4 mùa rõ rệt , con người ăn
vận theo thời tiết từng mùa, mùa đông mặc áo ấm, mùa hẹ mặc áo mát. Trong miền
Nam, phần lớn quanh năm nằng nóng, con người chọn cho mình chất liệu vải mát,
mặc áo cộc tay. Hay những người sống trên rẻo cao thường ăn mặc quần áo có màu
sặc sặc sỡ giống như đặc trưng của núi rừng ….
Xét trên phương diện con người , “sản phầm” văn hóa tiêu biểu nhất là các danh
nhân. Họ luôn xuất hiện ở mọi dân tộc , mọi thời đại. Họ là những đại diện kiệt
xuất cho nên văn hóa của dân tộc mình , trong thời đại của mình , góp phần quan
trọng vào sự phát triển , nâng tầm nền văn hóa của dân tộc mình . Có thể kể đến
trong lịch sử Việt Nam có : Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi……

2. trình bày dấu ấn nông nghiệp trong chất liệu may mặc của người việt
- cái riêng trong cách ăn mặc của người việt trước hết là cái chất nông nghiệp,
mà chất nông nghiệp thì thể hiện rõ nhất trong chất liệu may mặc để ứng phó hữu
hiệu với môi trường tự nhiên, người phương nam sở trường ở việc tận dụng các
chất liệu có nguồn gốc thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng là những
chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng, rất phù hợp với xứ nóng. trước hết đó là tơ
tằm. cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang có từ rất sớm. trong những di chỉ khảo
cổ thuộc hậu kì đá mới cách đây khoảng 5000 năm , đã thấy có dấu vết của vải, có
dọi xe chỉ bằng đất nung, cấy lúa và trồng dâu, nông vaftang là 2 công việc chủ
yếu luôn gắn liền nhau của người nông dân. từ tơ tằm nhân dân ta đã dệt nên nhiều
loại sản phẩm phong ohus như tơ, lụa, lượt, là gấm vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, đũi,
địa nái sồi...mỗi loại lại có hàng mấy chục mẫu khác nhau
ngoài tơ tằm, ngề dệt truyền thống của nước ta còn sử dụng các chất liệu thực vật
đặc thù khác như tơ chuối, tơ đay, gai, sợi bông. vải tơ chuối là một mặt hàng đặc
sản của việt nam mà tk16, kĩ thuật này đã đạt đến trình độ cao và đc người trung
quốc rất thích, sách nam phương dị vật chí viết: " phụ nữ lấy tơ chuối dệt thành 2
loại vải hi và khích, đều là vải giao chỉ. sách quảng chí chép: : thân chuối xé ra như
tơ, đem dệt thành vải, vải ấy dễ rách nhưng đẹp, màu vàng nhạt, sản xuất ở giao
chỉ:. cho đến tận thế kỉ 18, loại vải này vẫn đc ưu chuộng, Cao Hùng Trưng trong
sách An Nam chí nguyên còn ca ngợi: :loại vải này mịn như lượt là, mặc vào mùa
nực thì hợp lắm". vải dệt bằng sợi tơ đay, gai cũng xuất hiện khá sớm. đất đai và
khí hậu nước ta rất thích hợp cho loại cây này phát triển, tổ tiên ta ko những biết
24


Đề cương cơ sở văn hóa Việt Nam – Vi Thị Nga KH16A6
tận dụng khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có này mà còn thuần dưỡng chúng thành
loại cây trồng phổ biến. sách trung quốc thời hán, đường đều nói rằng đay, gai ở an
nam mọc thành rừng, dùng để dệt vải. vải đay, gai bền hơn vải tơ chuối nhiều, đem
cây đay, gai ngâm nước cho thịt thối rữa ra, còn lại tơ đem xe thành sợ dệt vải thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status