Nghiên Cứu Phân Lập Và Tuyển Chọn Giống Vi Sinh Vật Nội Sinh Từ Vùng Sinh Thái Đất Bạc Màu Phục Vụ Cho Sản Xuất Nông Nghiệp Và Bảo Vệ Môi Trường - Pdf 42

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
----------&-----------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN
GIỐNG VI SINH VẬT NỘI SINH TỪ VÙNG SINH THÁI
ĐẤT BẠC MÀU PHỤC VỤ CHO SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Người thực hiện

: ĐỖ THỊ PHƯƠNG HẰNG

Lớp

: K57 - MTC

Khóa

: 57

Chuyên ngành

: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Giáo viên hướng dẫn

: TS. NGUYỄN THỊ MINH


Giáo viên hướng dẫn

: TS. NGUYỄN THỊ MINH

Địa điểm thực tập

: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Hà Nội – 2016


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan mọi kết quả trong bài viết này là hoàn toàn chân thực
và chưa từng được công bố trong một nghiên cứu nào trước đó.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016
Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Phương Hằng

i


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, được sự
giúp đỡ của các thầy cô, các đoàn thể, đặc biệt được bộ môn Vi sinh vật –
Khoa Môi trường tạo điều kiện, đến nay, em đã hoàn thành khóa học và thực

học trong nông nghiệp. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.............................64
16. Lê Xuân Phương (2008). Vi sinh vật môi trường. Đại học Đà Nẵng........64
17. Nguyễn Quang Thu (2002). Một số biện pháp phòng trừ, quản lý bệnh hại
Keo tai thượng ở lân trường Đạ Terh – Lâm Đồng. Tạp chí Nông nghiệp &
Phát triển nông thôn số 6/2002. Trang 532 – 533...........................................64
18. Dương Hoa Xô (2009). Ứng dụng chế phẩm sinh học cho cây trồng –
hướng đi đúng đắn của phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững (Phần 1).. 64
39. Hoàng Hà Nam, 2010. Cố định nitơ: mối quan hệ giữa thực vật và vi
khuẩn. http://khoasinhhoc.vinhuni.edu.vn/nghien-cuu-khoa-hoc/seo/co-dinhnito-moi-quan-he-giua-thuc-vat-va-vi-khuan-48896. Thứ 4, ngày 18/5/2016.
.........................................................................................................................67

iii


DANH MỤC VIẾT TẮT
CT1
CT2
IAA

: Công thức 1
: Công thức 2
: Indole-3-acetic acid

IFA

: Quỹ Nông nghiệp và phát triển quốc tế

IFOAM

: Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ quốc tế

gloeosporioides (Penz.) Sacc. gây bệnh hại với keo lai..................................64
14. Lương Đức Phẩm (2011). Giáo trình Sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh
học trong nông nghiệp. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.............................64
16. Lê Xuân Phương (2008). Vi sinh vật môi trường. Đại học Đà Nẵng........64
17. Nguyễn Quang Thu (2002). Một số biện pháp phòng trừ, quản lý bệnh hại
Keo tai thượng ở lân trường Đạ Terh – Lâm Đồng. Tạp chí Nông nghiệp &
Phát triển nông thôn số 6/2002. Trang 532 – 533...........................................64
18. Dương Hoa Xô (2009). Ứng dụng chế phẩm sinh học cho cây trồng –
hướng đi đúng đắn của phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững (Phần 1).. 64
39. Hoàng Hà Nam, 2010. Cố định nitơ: mối quan hệ giữa thực vật và vi
khuẩn. http://khoasinhhoc.vinhuni.edu.vn/nghien-cuu-khoa-hoc/seo/co-dinhnito-moi-quan-he-giua-thuc-vat-va-vi-khuan-48896. Thứ 4, ngày 18/5/2016.
.........................................................................................................................67

v


DANH MỤC HÌNH
4. Vũ Văn Định (2008). Nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn nội sinh để phòng trừ
bệnh đốm lá, khô cành ngọn keo lai (Acacia auriculiformis x Acacia
mangium) do nấm Colletotrichum gloeosp orioides (Penz.) Sacc. gây hại tại
lâm trường Tam Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Luận văn thạc sĩ
khoa học lâm nghiệp. Trường đại học Nông lâm............................................63
13. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Quang Thu (2006). Vai trò của vi khuẩn nội
sinh trong cơ chế kháng bệnh loét thân, cành do nấm Colletotrichum
gloeosporioides (Penz.) Sacc. gây bệnh hại với keo lai..................................64
14. Lương Đức Phẩm (2011). Giáo trình Sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh
học trong nông nghiệp. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.............................64
16. Lê Xuân Phương (2008). Vi sinh vật môi trường. Đại học Đà Nẵng........64
17. Nguyễn Quang Thu (2002). Một số biện pháp phòng trừ, quản lý bệnh hại
Keo tai thượng ở lân trường Đạ Terh – Lâm Đồng. Tạp chí Nông nghiệp &

tác dụng làm tăng năng suất cây trồng trực tiếp và có tác dụng tổng hợp như
các sản phẩm của nước ngoài. Sở dĩ như vậy vì chúng ta còn thiếu những
chủng vi sinh vật (VSV) thực sự hữu ích, nhất là các chủng vi sinh vật nội
sinh (VSV NS) có hoạt tính sinh học cao và phát huy tốt hiệu quả trên nhiều
loại cây trồng ở các điều kiện sinh thái khác nhau.
Vi sinh vật nội sinh là VSV sống trong mô thực vật được tìm thấy ở
vùng rễ, rễ, thân, lá, quả của thực vật. VSV NS thường xâm nhập vào thực vật
qua vùng rễ, thúc đẩy các quá trình chuyển hóa trong cây cũng như sự phát
triển lông rễ một cách mạnh mẽ và giảm sự kéo dài rễ (Harari et al., 1988),
kích thích sự phát triển cây, cải thiện sự phát triển bệnh và tăng cường sự
1


chống chịu của cây với các yếu tố bên ngoài (Hallmann et al., 1997). VSV NS
đã được nghiên cứu và ứng dụng nhiều trên thế giới. Ở Việt Nam đã có một
số nghiên cứu về VSV NS như: Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự (2009) đã
phân lập được 7 dòng VSV NS trong một số loại cỏ chăn nuôi có đặc tính cố
định đạm, phân giải lân và tổng hợp IAA cao,… Tuy nhiên, hầu hết các dòng
vi khuẩn nội sinh đã phân lập được vẫn chưa được đánh giá đầy đủ và chưa
được ứng dụng trong thực tiễn. Vì vậy, việc phân lập và tuyển chọn các
loài VSV NS phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường, đặc
biệt thích ứng với đất bị bạc màu là vô cùng cần thiết. Xuất phát từ thực
tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phân lập và tuyển chọn
giống vi sinh vật nội sinh từ vùng sinh thái đất bạc màu phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường.”
Mục tiêu nghiên cứu
Tuyển chọn được các giống VSV NS có nguồn gốc bản địa từ đất bạc
màu, có tác dụng phân giải và chuyển hóa chất hữu cơ, tạo dinh dưỡng dễ
tiêu, chống chịu cao với điều kiện bất lợi, tăng cường sinh trưởng phát triển
của cây trồng,…phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

dầu (0,47 triệu ha). Có 7/160 nước đạt diện tích nông nghiệp hữu cơ cao trên
10% (FiBL và IFOAM, 2012).
Tại Châu Âu, có 10 triệu ha nông nghiệp hữu cơ với 219.431 hộ/ trang
trại. Những nước có diện tích nông nghiệp hữu cơ lớn là: Tây Ban Nha (1,46
3


triệu ha), Italia (1,113 triệu ha) và Đức (0,99 triệu ha). Có 7 nước đạt diện tích
NNHC cao hơn 10% là: Công Quốc Liechtenstein (27,3%), Áo (19,7%), Thụy
Điển (12,6%), Estonia (12,5%), Thụy Sỹ (11,4%) và Séc (10,5%) (FiBL và
IFOAM, 2012).
Bắc Mỹ gồm Mỹ và Canada có 2,652 triệu ha nông nghiệp hữu cơ,
trong đó Mỹ 1,948 triệu ha và Canada 0,702 triệu ha.
Châu Á có 2,8 triệu ha nông nghiệp hữu cơ với 460.764 trang trại/ hộ
sản xuất , trong đó dẫn đầu là Trung Quốc (1,39 triệu ha) và Ấn Độ (0,78
triệu ha). Nước có tỉ lệ diện tích nông nghiệp hữu cơ cao nhất là Đông Timor
(7%).
Châu Phi có khoảng 1,1 triệu ha nông nghiệp hữu cơ được chứng nhận
với khoảng 544 ngàn trang trại. Các nước sản xuất nông nghiệp hữu cơ chủ
lực là Uganda (228.419 ha), Tunisia (175.006 ha) và Ethiopia (137.196 ha).
Mỹ la tinh có 8,389 triệu ha nông nghiệp hữu cơ với 272.232 hộ/ trang
trại, trong đó Argentina 4,177 triệu ha, Brazil 1,76 triệu ha và Uruguay là
930.965 ha (2009). Ba nước có tỷ lệ giá trị sản phẩm nông nghiệp hữu cơ cao
so với GDP nông nghiệp là Malninas (35,7%), Cộng hòa Đô- mi- ca- na
(8,3%) và Uruguay (6,3%) Tại Châu Đại Dương bao gồm: Úc, Niu- di – lân,
các quần đảo Fiji, Papua New Guinea, Tonga, Vannuatu…. Có 12,144 triệu
ha nông nghiệp hữu cơ, trong đó 97% là Oxtralia và đất đồng cỏ tự nhiên với
8.432 trang trại đang sản xuất. Ngoài diện tích nông nghiệp hữu cơ, thế giới
còn có 43,0 triệu ha đất rừng nguyên sinh để khai thác sản phẩm hữu cơ tự
nhiên (tăng 1,1 triệu ha so với năm 2009 và 11,1 triệu ha so với năm 2008)

Năm 2015 so với

năm 2014 (%)
năm 2015
623220,0
637446,6
102,3
456775,7
463920,4
101,6
156796,1
163571,1
104,3
9648,2
9955,1
103,2
(Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

Sản lượng lúa cả năm 2015 ước tính đạt 45,2 triệu tấn, tăng 240,9
nghìn tấn so với năm 2014 do diện tích gieo trồng ước tính đạt 7,8 triệu ha;
tăng 18,7 nghìn ha; năng suất đạt 57,7 tạ/ha; tăng 0,2 tạ/ha. Nếu tính thêm
5,3 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay ước tính đạt
50,5 triệu tấn, tăng 319,8 nghìn tấn so với năm 2014. Trong sản xuất lúa,
diện tích gieo trồng lúa đông xuân đạt 3,1 triệu ha, giảm 4,1 nghìn ha so với
vụ đông xuân trước; năng suất đạt 66,5 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha nên sản lượng
đạt 20,7 triệu tấn, giảm 158,8 nghìn tấn, chủ yếu do bị ảnh hưởng của nắng
nóng tại hầu hết các địa phương và xâm nhập mặn ở vùng Đồng bằng sông
Cửu Long (Tổng cục thống kê, 2015).
Bảng 1.2. Sản lượng lương thực có hạt tại Đồng bằng sông Hồng.
5

2012
2013
2014
7277,0
7062,7
7176,0
1301,5
1256,5
1273,2
355,9
373,6
395,8
474,0
442,5
456,8
232,6
232,9
233,3
800,4
760,8
762,2
497,2
498,1
491,0
575,4
548,0
540,2
1109,1
1098,0
1116,6

6


đất, các hạt thuốc bảo vệ thực vật rơi vào đất, theo mưa lũ và xác sinh vật vào
đất. Theo kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tới 50% số
thuốc rơi xuống đất một phần được cây hấp thụ, phần còn lại được keo đất giữ
lại. Thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân giải qua hoạt động sinh học
của đất và qua các tác động của các yếu tố hóa, lý (Vũ Năng Dũng và cộng
sự, 2009).
Lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trong đất gây hại đến sinh vật đất
(các sinh vật làm nhiệm vụ phân hủy, chuyển hóa chất hữu cơ thành chất
khoáng đơn giản hơn cần cho dinh dưỡng cây trồng) như thế là cách gián tiếp
ảnh hưởng tới chất dinh dưỡng có trong đất (Lưu Nguyễn Thành Công, 2013)
1.2.2. Sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng tới môi trường nước.
Hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ảnh
hưởng trước hết là đến môi trường nước mặt như ao, hồ, sông, … và sau đó là
đến nước ngầm. Chúng làm ảnh hưởng đến các loài sinh vật trong nước như
tôm, cua, cá,… các loài động trên cạn và con người sử dụng đến nguồn nước
đó một cách tiêu cực, gây tổn hại đến sức khỏe và đời sống hàng ngày (Vũ
Năng Dũng và cộng sự, 2009).
1.2.3. Sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng tới môi trường không khí
Khi phun thuốc trừ sâu thì môi trường không khí cũng bị ô nhiễm dưới
dạng bụi, hơi. Dưới tác dụng của ánh sáng, nhiệt độ, gió,… làm thuốc trừ sâu
bị biến đổi và phân tán trong môi trường không khí. Lượng tồn lưu trong
không khí sẽ khuếch tán và có thể di chuyển đến nơi khác. Từ đó ảnh hưởng
đến đời sống của con người và vật nuôi sống ở xung quanh (Lưu Nguyễn
Thành Công, 2013).
1.2.4. Sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng tới sức khỏe con người và vật
nuôi.
Đa số các loại thuốc trừ sâu đều có tính độc cao. Trong quá trình dùng

Diện tích

hiệu

(1000 ha)

Đất xám bạc màu

Tỷ lệ (%) so
với diện tích tự
nhiên

Vùng kinh tế nông nghiệp (nghìn ha)
TD ĐBS DHB DH
TN ĐNB ĐB
MN

BB
0,44 58,2

H
38,5

TN

NT

34,9

N

65,3

52,7 60,4

SCL
1,2

0,7

1,2

0,7

trên phù sa cổ
2

Đất xám bạc màu

1,3

tên macma axit
3

Đất xám bạc màu

glây
Tổng diện tích đất xám bạc

318,5


dao động từ 3,6-8,5%, trung bình 6,1%. Đất có phản ứng ít chua (pH kcl 4,06,9; trung bình 5,3). Hàm lượng chất hữu cơ từ nghèo đến trung bình (0,81,1%, trung bình 0,95%). Đạm tổng số nghèo (0,06-0,08%, trung bình
0,07%). Lân và kali tổng số thấp P 2O5: 0,02-0,14%, trung bình 0,08%; K2O từ
0,03-0,24%, trung bình 0,14%. Lân và kali dễ tiêu rất nghèo (P 2O5: 0,1-9,4
mg/100g đất, trung bình 4,7 mg/100g đất; K 2O: 2,8-5,0 mg/100g đất, trung
bình 3,9 mg/100g đất).Dung tích hấp thu thấp (5,3-9,8 me/100g đất, trung
bình 6,0 me/100g đất). Độ no bazơ
triển của cây, giúp cây có khả năng chống chịu các điều kiện bất lợi của môi
trường sống, đồng thời hạn chế được sâu bệnh. Vùng rễ thường là nơi VSV
NS xâm nhập vào thực vật để sống nội sinh hoặc cộng sinh; sau khi xâm nhập
vào cây chủ chúng có thể tập trung tại vị trí xâm nhập hoặc di chuyển đi khắp
nơi trong cây đến các hệ mạch của rễ, thân, lá, hoa (Zinniel et al., 2002), thúc
đẩy các quá trình chuyển hóa trong cây cũng như sự phát triển lông rễ một
cách mạnh mẽ và giảm sự kéo dài rễ (Harari et al., 1988), kích thích sự phát
triển của cây trồng nhờ sản sinh các chất kích thích sự sinh trưởng thực vật và
sự cố định đạm từ không khí (sturz et al., 2000), cải thiện sự phát triển bệnh
(Benhamou et al., 1996) và tăng cường sự chống chịu của cây trồng đối với sự
tác động của các nhân tố môi trường (Hallmann et al., 1997). Hiện nay, các
nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến loài VSV NS có đặc tính tốt với hoạt lực
cao như vi khuẩn có khả năng cố định nitơ không khí (Rosenblueth và
Martinez, 2004; Xu và cộng sự, 1998), vi khuẩn tổng hợp kích thích tố auxin
(Barbieri và cộng sự, 1986), VSV giúp loại bỏ chất gây ô nhiễm môi trường
(Rosenblueth và Martinez, 2006), làm tăng hàm lượng các chất khoáng và khả
năng kháng bệnh (Saikia và cộng sự, 1991) hay vi khuẩn hòa tân lân, kali, sắt
tạo dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng (Biswas et al., 2000 a. b).
Tóm lại, vi khuẩn nội sinh thực vật giúp tăng trưởng thực vật, kháng
bệnh và tăng năng suất cây trồng. Để sử dụng chúng hiệu quả hơn cần phải
chọn lọc, cải tạo quần thể vi khuẩn nội sinh cây trồng và các nguồn đất của
chúng để ổn định chúng ở mức độ tối ưu. Do các chất hoá học sử dụng trong
nông nghiệp có thể phá vỡ trạng thái bền vững của quần thể vi khuẩn nội sinh
nên cần xem xét sự liên quan của các tác động có hại tiềm tàng trên cây trồng,
đất trồng và ngay bản thân bên trong quần thể vi khuẩn nội sinh. Chẳng hạn
như việc sử dụng bừa bãi các loại thuốc hoá học nông nghiệp có thể phá vỡ
12


thế bền vững của vi hệ sinh thái đất - cây trồng. Thách thức với cộng đồng


1.4.2.1. Nhóm chế phẩm sinh học ứng dụng cho phòng trừ sâu bệnh.
Đây là nhóm sản phẩm được ứng dụng khá rộng rãi và được ứng dụng
sớm nhất trong lĩnh vực cây trồng. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, trong danh mục các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, từ
năm 2000 chỉ có 2 sản phẩm trừ sâu sinh học được công nhận cho đăng ký.
Đến năm 2005 đã có 57 sản phẩm các loại, đến 6 tháng đầu năm 2007 có 193
sản phẩm được cấp giấy phép đăng ký. Nâng tổng số có 479 sản phẩm sinh
học được phép lưu hành, trong đó 300 loại thuốc trừ sâu và 98 sản phẩm
thuốc trừ bệnh (Dương Hoa Xô, 2013).
Một số sản phẩm tiêu biểu trong nhóm chế phẩm sinh học ứng dụng
cho phòng trừ sâu bệnh gồm có:
- Nguồn gốc thảo mộc: Các sản phẩm chế biến từ cây Neem hiện nay
đã được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong công tác bảo vệ thực vật. VINEEM
1500 EC- đây là sản phẩm của Công ty thuốc sát trùng Miền Nam, được chiết
xuất từ nhân hạt Neem (Azadirachta india A. Juss) có chứa hoạt chất
Azadirachtin, có hiệu lực phòng trừ nhiều loại sâu hại trên cây trồng như lúa,
rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả và hoa kiểng. Loại thuốc có nguồn gốc
thảo mộc này không tạo nên tính kháng của dịch hại, không ảnh hưởng tới
thiên địch và không để lại dư lượng trên cây trồng. Thuốc tác động đến côn
trùng gây hại bằng cách gây sự chán ăn, xua đuổi và ngăn sự lột xác của côn
trùng như ngăn cản sự đẻ trứng làm giảm khả năng sinh sản. Các sản phẩm
tương tự từ cây Neem còn có Neemaza, Neemcide 3000 SP, Neem Cake
(Dương Hoa Xô, 2009).
- Nguồn gốc vi sinh: Thuốc trừ sâu vi sinh BT (Bacillus thuringiensisvar)
thuộc nhóm trừ sâu sinh học, có nguồn gốc vi khuẩn, phổ diệt sâu rộng và có
hiệu quả đối với các loài sâu cuốn lá, sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, sâu ăn tạp,
… Sâu khi ăn phải thuốc sẽ ngừng ăn sau vài giờ và chết sau 1-3 ngày. Các
loại sản phẩm thương mại có trên thị trường khá nhiều như Vi-BT 32000WP,
16000WP, BT Xentary 35WDG, Firbiotox P dạng bột, Firbiotox C dạng dịch

sự tác động của VSV hoặc các hợp chất sinh học được chuyển hóa thành mùn.
Trong phân loại này có đầy đủ thành phần chất hữu cơ, có phối chế thêm tác
nhân sinh học (vi sinh, nấm đối kháng) bổ sung thêm thành phần vô cơ đa
lượng (NPK) và vi lượng.
15


Thông thường trong các nhóm VSV chuyển hóa xenlulo và lingo
xenlulo là các loại Aspegillus Niger, Trichoderma reesei, aspegillus sp,
Penicilllium sp,…
Nhóm phân hữu cơ sinh học có bổ sung VSV trợ giúp và làm giàu dinh
dưỡng (phân hữu cơ vi sinh) thường được chế biến bằng cách đưa thêm một
số VSV có ích khác vào sau khi đống ủ đã ổn định (30 oC). Nhóm vi khuẩn cố
định nitơ tự do (Azotobacter), vi khuẩn hoặc nấm sợi phân giải photphat khó
tan (Bacillus polymyxa, Bacillus megaterium,…), xạ khuẩn Streptomyces. Rất
nhiều loại phân hữu cơ vi sinh và phân lân vi sinh đang được thông hành
(Dương Hoa Xô, 2009).
1.4.2.3. Chế phẩm vi sinh cải tạo đất và xử lý phế thải,
Ứng dụng trong cải tạo đất nông nghiệp
Trong các chế phẩm cải tạo đất, nhóm VSV cũng được ứng dụng cải
tạo đất bị ô nhiễm do kim loại nặng và các thuốc hóa học bảo vệ thực vật hữu
cơ. Các VSV này sống ở vùng rễ cây có khả năng sinh ra các axit hữu cơ và
tạo phức với kim loại nặng hoặc kim loại độc hại với cây trồng (nhôm, sắt,
…), một số VSV khác có khả năng phân hủy hợp chất hóa học có nguồn gốc
hữu cơ. Các VSV có khả năng phân giải hoặc chuyển hóa các chất gây ô
nhiễm trong đất, qua đó tạo lại cho đất sức sống mới và ngoài ra, các VSV sử
dụng còn có khả năng phân hủy các chất phế thải hữu cơ và cung cấp dinh
dưỡng cho cây trồng, đồng thời giúp cây tăng khả năng kháng bệnh do các tác
nhân trong đất gây ra (Dương Hoa Xô, 2009).
Ứng dụng trong xử lý các phế phẩm nông nghiệp

đó có một chủng VSV NS có tiềm năng tăng cường các chất hữu cơ dễ bay
hơi phytoremediation. Các đặc tính của VSV NS sống trên thân, rễ, củ,… đã được
phân tích và nhận diện bằng chạy RFLP với đoạn mồi là 16S rRNA. Năm đơn vị
phân loại triển vọng nhất, có khả năng tồn tại và được xác định là Cellulomonas,
Clavibacter, Curtobacterium, Pseudomonas và Microbacterium. Các đơn vị này
được xác định thông qua trình tự gen 16S rRNA, axid béo và sử dụng nguồn
phân tích cacbon (Elvira-Recuenco và Van Vuurde, 2000; Zinniel et al., 2002;
Frank et al., 2006).
Chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp bắt đầu có đăng ký sáng
chế từ năm 1917. Theo cơ sở dữ liệu tiếp cận được, từ năm 1917 đến nay có
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status