SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài toán có lời văn theo mô hình trường học mới - Pdf 42

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài toán có
lời văn theo mô hình trường học mới”
2.Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:Giáo viên dạy lớp 2 và học sinh lớp 2 ở các
trường Tiểu học.
3.Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Bích Hương

Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 14/02/1979
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Long Xuyên.
Điện thoại: 0936676527
4.Đơn vị áp dụng sáng kiến : Trường Tiểu học Long Xuyên - huyện Kinh
Môn - tỉnh Hải Dương
5.Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Có phòng học riêng,có
đầy đủ bảng, bàn ghế,trang thiết bị dạy học như: sách giáo khoa, sách giáo
viên,sách tham khảo,… Học sinh phải say mê,chịu khó tìm tòi,sáng tạo,có ý
thức học tập, biết hợp tác trong nhóm ,tổ…
6.Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: .Năm học 2016 - 2017.
TÁC GIẢ
(ký, ghi rõ họ tên)

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP
DỤNG
SÁNG KIẾN

Nguyễn Thị Bích Hương
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT


- Điều tra thực trạng kết quả đạt được của học sinh khối 2 về kĩ năng giải
toán có lời văn.


- Tích cực đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với
mỗi tiết dạy trong từng hoạt động với các nội dung cụ thể:
+ Hướng dẫn học sinh hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giải
toán có lời văn. Tăng cường cho học sinh hoạt động thực hành,vận dụng kiến
thức làm tốt các bài tập.
+ Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Qua quá trình giảng dạy và thực hiện giải pháp này với lớp 2 tôi chủ
nhiệm, tôi thấy các em đã làm quen với phương pháp học mới và đã đi vào nề
nếp học tập. Trong tiết học tôi thấy nhẹ nhàng hơn, tất cả các đối tượng học
sinh trong lớp đã biết trình bày hoàn chỉnh bài toàn có lời văn. Nhiều em học
khá giỏi có câu trả lời sáng tạo phù hợp với yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng.
4. Kết quả đạt được.
- Năm học 2016 -2017 tôi đã và đang thực hiện , áp dụng thành công kinh
nghiệm này tại trường nơi tôi công tác. Tôi cũng đã chia sẻ với các đồng
nghiệp trong khối cùng thực hiện và bước đầu cũng đã gặt hái được những
thành công nhất định.
5. Đề xuất , kiến nghị
- Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình của môn học và chuẩn kiến
thức kĩ năng. Tích cực nghiên cứu đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học phù hợp với đối tượng hoc sinh.
- Các nhà trường, phòng giáo dục đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường chuyên đề
, hội thảo, hội giảng, báo cáo kinh nghiệm hay đẻ giáo viên có điều kiện học
tập nâng cao trình độ,chuyên môn nghiệp vụ.


MÔ TẢ SÁNG KIẾN

yêu cầu trình bày, kĩ năng suy luận và phân tích đề còn hạn chế. Với lí do trên
tôi đã chọn đề tài:


" Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải bài toán có lời văn theo Mô
hình trường học mới"
2.Cơ sở lí luận
- Người giáo viên muốn dạy tốt phải nắm vững chương trình, nắm vững
đặc trưng của môn toán, chuấn bị tốt các phương tiện, các đồ dùng cần thiết
cho tiết học. Luôn chọn cho mình phương pháp dạy phù hợp nhất cho từng
bài toán. Và bên cạnh đó người giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy
học mới theo mô hình trường học mới Việt Nam.
- Các em học sinh muốn học tốt thì trước hết phải tập trung học tập, phải
suy nghĩ kĩ và đọc đề toán nhiều lần. Tuy nhiên trong thực tế ý thức học tập
ở học sinh lớp 2 còn thấp, không chịu đọc đề vì các em còn nhỏ, đặc điểm
tâm sinh lý chưa ổn định, còn ham chơi. Việc dạy học theo mô hình trường
học mới học sinh phải ngồi học theo nhóm nên các em các em dễ quay cóp
khi làm bài nên từ đó suy tính ỷ lại không chịu tập trung suy nghĩ.
- Những bài toán có lời văn ở lớp 2 là những bài toán thực tế, nội dung bài
toán thông qua những câu nói về những quan hệ tương đương và phụ thuộc,
có liên quan đến cuộc sống hằng ngày. Cái khó ở đây là làm thế nào để lược
bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán.Hay
nói một cách khác làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố
toán học chứa đựng trong bài văn và tìm ra được những câu lời giải, phép
tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán.
3. Thực trạng của vấn đề.
Qua một năm giảng dạy lớp 2 theo mô hình trườn học mới, tôi nhận thấy
học sinh khi giải toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập
khác. Các em rất lúng túng khi viết câu lời giải tuy rằng các em biết ghi
phép tính đúng. Nhiều em nêu câu lời giải không phù hợp với yêu cầu đề

Lớp 2B có 28 học sinh, trong đó có 14 em nữ.
Chất lượng đầu năm:
Toán: Giỏi: 10 em =35,7 % ; K: 12 em = 42,9% ;
TB: 5 em = 17,8.%; Y: 3 em = 10,7%
Tuy 100% các em có đầy đủ bố mẹ, có một em thuộc diện gia đình nghèo
và đa số các em là con gia đình nông dân, cha mẹ ít quan tâm đến việc học
hành của con em mình. Thực sự đây là lớp mà GV chủ nhiệm nào khi gặp
cũng cần có sự quan tâm và lo lắng.
.Nhìn chung phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học
Toán nói chung và việc giải toán có lời văn nói riêng của học sinh nên phụ
huynh chưa có sự đầu tư đúng mức. Đầu năm học, đối với chương trình môn
toán lớp 2. Nhìn chung các em đều thực hiện được các phép tính cộng, trừ
có nhớ trong phạm vi 100, nắm được tên gọi, thành phần và kết quả phép
cộng, trừ, hay tìm x trong bài toán, nhưng ở phần giải toán có lời văn thì lớp
2B có 59,3% học sinh giải và trình bày được, 10% các em biết tóm tắt bài
toán, ghi đúng lời giải nhưng thực hiện phép tính thì sai. 30,7% các em chưa
biết ghi lời giải của bài toán, chưa có em nào có sáng tạo hay có lời giải hay
hơn, gọn hơn. Đặc biệt là những em trung bình, yếu, việc đọc, viết đã chậm
thì giải toán có lời văn lại càng khó khăn hơn rất nhiều .
3.2 Về phía giáo viên:
Trong quá trình dạy học theo mô hình trường học mới người giáo viên chưa
có sự chú ý đúng mức tới việc làm thế nào để học sinh nắm vững được lượng
kiến thức, đặc biệt là dạng giải toán có lời văn. Nguyên nhân là do giáo viên
mới tiếp cận với chương trình dạy học theo kiểu mới này. Thời gian dành
nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học mới này còn hạn chế. Bên


cạnh đó việc ý thức về tầm quan trọng của việc giải toán có lời văn của các
em chưa đầy đủ. Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh lên lớp 3 vẫn còn nhiều
em chưa ghi được lời giải và phép tính đúng cho một bài toán.


- Cơ sở vật chất tốt, đầy đủ. Trường lớp sạch sẽ, thân thiện.
- Bản thân tôi nhiệt tình, có tay nghề vững vàng và được tham gia đầy đủ
các lớp tập huấn về phương pháp, nội dung dạy học theo Mô hình trường tiểu
học mới VN.
- Tài liệu học tập của học sinh được cấp phát đầy đủ, có màu sắc, tranh ảnh
đẹp thuận tiện cho dạy và học. Hoạt động học tập rõ ràng nên thu hút được sự
hứng thú học tập của học sinh.
- Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em. Phối hợp tốt giữa
gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục học sinh.
- Các em ngoan, chăm học, lễ phép, vâng lời.
- Ở lớp 1 bước đầu các em đã làm quen với dạng toán có lời văn.
5.2. Khó khăn
- Qua khảo sát đầu năm và quá trình giảng dạy lớp 2 theo Mô hình trường
học mới, tôi thấy học sinh còn hạn chế về kĩ năng giải toán có lời văn như
sau:
- Các em từ lớp 1 lên lớp 2 chưa nắm chắc các bước giải toán có lời văn,
chưa biết lựa chọn phép tính để giải bài toán.
- Một số em chưa biết tóm tắt bài toán.
6 Các giải pháp,biện pháp thực hiện.,
6.1. Giúp các em nắm được các bước giải toán có lời văn, biết lựa chọn
phép tính để giải
6.1.1. Ôn lại các bước giải bài toán có lời văn
Do ở lớp 1các em mới bước đầu làm quen với dạng toán có lời văn, vì vậy
khi học đến lớp 2 và bài đầu tiên của dạng toán có lời văn, tôi đã hướng dẫn
các em ôn lại kiến thức đã học, nêu được các bước giải một bài toán có lời
văn các em đã học.
Tôi cho học sinh thảo luận nhóm, làm vào phiếu bài tập.
Phiếu bài tập.
Câu 1: Để làm tốt bài toán có lời văn bước đầu tiên em phải làm gì?

Một bài giải của bài toán có lời văn, được trình bày đúng quy định gồm có
mấy phần? (Gồm có 3 phần: Câu lời giải, phép tính (với đơn vị viết trong


ngoặc và ở sau kết quả), đáp số (với đơn vị viết bình thường, không có ngoặc
đơn)).
Sau khi các em được ôn lại các bước giải toán có lời văn, tôi yêu cầu mỗi
nhóm thảo luận và thống nhất viết lại 3 phần trong một bài giải toán có lời
văn, rồi dán lên góc học tập để giúp các em nhớ cách làm bài.
Phần 1: Câu lời giải
Phần 2: Phép tính
Phần 3: Đáp số
6.1.2. Một số dạng toán thường học
6.1.2.1. Dạng toán "nhiều hơn"
Theo tài liệu hướng dẫn học Toán 2, tập 1A, bài 6: "Bài toán về nhiều
hơn", nhiệm vụ 4 trang 28 là: Bạn Hòa có 4 bông hoa, bạn Bình có nhiều hơn
bạn Hòa 2 bông hoa. Hỏi bạn Bình có mấy bông hoa? Khi dạy bài này tôi
thấy học sinh chỉ áp dụng được một phương pháp đó là làm theo mẫu có sẵn
trong tài liệu. Học sinh khó phát triển kĩ năng phân tích đề và tóm tắt bài toán.
Vì vậy tôi đã thay đổi hình thức học tập bằng các bước cụ thể sau:
- Học sinh làm việc trrong nhóm.
Bước 1: Đọc đề và tìm hiểu đề bài toán
- Đây là một bước rất quan trọng tôi đã nhắc nhở học sinh đọc đề bài toán
trong sách tài liệu, hướng dẫn học Toán 2 đọc nhiều lần trong nhóm để hiểu.
Tôi cho các nhóm thảo luận. Trong khi học sinh thảo luận tôi đến từng nhóm
hướng dẫn thêm, tuyên dương khen thưởng cá nhân, nhóm làm tốt bằng hình
thức trao hoa tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Học sinh đọc đề bài, tìm hiểu đề, sau đó tự nêu cho nhau nghe theo hệ
thống câu hỏi sau:
+ Bài toán cho biết những gì? (bạn Hòa có 4 bông hoa, bạn Bình có nhiều

Hỏi Bình: .....bông hoa?
? bông hoa
- Mỗi em tự chọn cách tóm tắt của mình, làm vào giấy nháp và sau đó trình
bày bài của mình cho nhóm nghe. Kết hợp, tôi đi kiểm tra, hướng dẫn thêm
cho các em và nghiệm thu kết quả.
Bước 3: Tìm lời giải đúng và cách ghi
Việc đặt lời giải đúng trong phần bài giải tôi để học sinh tự diễn giải, yêu
cầu viết ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, đúng ý, tôi lưu ý cho học sinh khi viết lời
giải, đầu câu viết hoa cuối câu có dấu hai chấm.
Học sinh tự suy luận từ câu hỏi của bài toán đến dữ kiện đã cho để tìm lời
giải của bài toán, tôi gợi ý cho học sinh căn cứ vào câu hỏi cuối bài (Hỏi bạn
Bình có mấy bông hoa?) hoặc dòng tóm tắt cuối cùng (hỏi Bình:.... Bông
hoa?). Học sinh sẽ sửa lại câu hỏi thành câu lời giải hoàn chỉnh, lấy các từ
"Bạn Bình có ... bông hoa" trong câu hỏi của bài toán. Bỏ từ "mấy" sau đó
thêm chữ "số" vào vị trí chữ "mấy" và bỏ dấu "?" cuối câu hỏi thay vào đó


chữ " là", thêm dấu ":" ở cuối câu. Từ đó ta được lời giải của bài toán, đó là:
"Bạn Bình có số bông hoa là:"
Tôi khuyến khích các em đặt nhiều lời giải khác nhau mà vẫn phù hợp
với yêu cầu đề bài. Qua đó giúp các em tự tìm tòi, sáng tạo và rèn luyện óc
suy nghĩ linh hoạt, độc lập.
Chẳng hạn như:
- Bạn Bình có số bông hoa là:
- Số bông hoa của bạn Bình là:
- Số bông hoa bạn Bình có là:
Bước 4: Tìm phép tính đúng và đáp số
Đây là bước suy luận để tìm cách giải bài toán đúng và kết quả. Học sinh
có thể ghi sai phép tính hoặc không ghi tên đơn vị trong ngoặc đơn, viết đáp
số sai. Vì vậy tôi đã định hướng các em tìm từ trọng tâm trong bài, đó là từ

từ "kém" thay cho từ "ít hơn"...
6.1.2.3. Bài toán theo 3 mức độ
Ví dụ: Năm nay anh 20 tuổi, em kém anh 5 tuổi. Hỏi:
a. Năm nay em bao nhiêu tuổi ?
b. Tính số tuổi của hai anh em hiện nay ?
c. Tìm số tuổi của anh sau 5 năm nữa ?
Bài toán này tôi dành cho những em đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ học
tập, trình bày tốt bài toán có lời văn. Nhằm nâng cao chất lượng giải toán có
lời văn, phát huy kĩ năng giải toán cho học sinh khá giỏi.
Để thực hiện, tôi cung cấp phiếu bài tập cho các em bằng cách để các
phiếu bài tập trong hộp thư, học sinh đến nhận nhiệm vụ. Trong phiếu ghi đề
toán, và hướng dẫn gợi ý để học sinh suy nghĩ tự làm:
Câu a: Em hãy tự làm bài để tìm số tuổi của người em.
Câu b: Em dựa vào kết quả câu a, ta biết số tuổi của người em, đã biết tuổi
của em và tuổi của anh, em hãy tính tuổi của 2 anh em.
Câu c: Tuổi của anh hiện nay đã biết. "Tuổi của anh sau 5 năm nữa" có nghĩa
là tìm tuổi anh đã tăng thêm so với hiện nay.
Tương tự như vậy, trong mỗi bài học, tôi đều phải thiết kế thêm để giúp
học sinh nâng cao hơn so với chuẩn kiến thức kĩ năng, đồng thời rèn kỹ năng
giải toán có lời văn tốt hơn.
6.2. Hướng dẫn học sinh cách tóm tắt bài toán có lời văn. (Ở lớp 2 chưa
tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng)


Đây là bước diễn đạt đề toán ngắn gọn, tóm tắt đúng giúp các em có cách
giải dễ dàng hơn. Nhìn vào tóm tắt ta có thể định ra được các bước giải toán.
Vì vậy từ đầu năm học tôi đã tiến hành hướng dẫn các em cách học, chẳng
hạn qua bài: Hùng có 8 hòn bi, Lâm có 7 hòn bi. Hỏi hai bạn có tất cả bao
nhiêu hòn bi? (nhiệm vụ 5 trang 46, sách tài liệu hướng dẫn học Toán lớp 2
tập 1A)


Hùng:

Hùng có mấy hòn bi? Học sinh đếm và trả lời (Hùng có 8 hòn bi)

Lâm:

Lâm có mấy hòn bi? Học sinh đếm và trả lời (Lâm có 7 hòn bi)
Bài toán hỏi gì? (hai bạn có tất cả bao nhiêu hòn bi)
Kết quả cuối cùng là:

Hùng:
? hòn bi

Lâm:

Tôi yêu cầu học sinh nêu lại bài toán theo hình minh họa (Hùng có 8 hòn bi,
Lâm có 7 hòn bi. Hỏi hai bạn có tất cả bao nhiêu hòn bi?), sau đó hướng dẫn
cho các em tự trình bày bài giải vào vở. Trước khi làm vào vở, học sinh nhắc
lại các bước giải bài có lời văn.
6.3. Tăng cường tiếng Việt cho học sinh.
Để thực hiện tốt việc tự học của các em học sinh lớp 2 theo Mô hình
VNEN, các em cần phải đọc thông viết thạo, do đó tôi đã thực hiện tăng
cường tiếng Việt cho các em. Không chỉ trong môn tiếng Việt mà còn rèn qua
các môn học khác trong đó có môn toán như:


- Tổ chức kèm cặp phụ đạo học sinh vào các tiết toán bổ sung, trong
những tiết này thông qua việc ôn tập, củng cố kiến thức cho các em, tôi xen
kẽ tăng cường tiếng Việt cho các em.


Hoạt động cơ bản

Hoạt động thực hành

1

2

3

4

5

Nhi

1

2

2

1

1

Uyên

4


4

1

2

Trong các tiết học, bài học đều dùng bảng đo tiến độ để đánh giá mức độ
tiếp thu kĩ năng làm bài của mỗi học sinh trong nhóm.
Bạn nào trong nhóm làm xong trước thì ghi số 1, lần lượt các bạn làm
xong thì ghi thứ tự các số tiếp theo vào bảng đo tiến độ.
Chẳng hạn, trong phiếu trên:
+ Trong dòng 2: các số 1, 2, 3, 4, 5... chỉ thứ tự các nhiệm vụ hoạt động
cơ bản được thiết kế trong sách tài liệu học, các số 1, 2, ... chỉ thứ tự các
nhiệm vụ của hoạt động thực hành được thiết kế trong sách tài liệu hướng dẫn
học toán.
+ Các số 1, 2, 3, 4, ở cột dọc biểu thị thứ tự bài làm xong trước hoặc sau
của các thành viên trong nhóm.
Khi nhìn bảng đo tiến độ giáo viên xác định được mức độ làm bài nhanh,
chậm của các em trong nhóm.
6.4.2.2 Đánh giá tiến độ nhóm: Dùng hoa thi đua theo quy định.
Nhóm nào trong nhiệm vụ 1 mà làm xong thì đưa tín hiệu báo trước. Giáo
viên đến kiểm tra lại các em trong nhóm và ghi nhận các em đã thực hiện đạt
yêu cầu của hoạt động thì lần lượt trao hoa: Nhóm nhất (màu đỏ 5 điểm);
nhóm nhì (màu xanh 4 điểm); nhóm 3 (màu vàng 3 điểm); nhóm 4 (màu tím 2
điểm). Sau mỗi tiết học các nhóm sẽ tổng kết điểm để tìm ra nhóm về nhất,
nhì, ba, tư. Rồi đưa lên bảng thi đua.
6.4.2.3. Tổ chức thi đua, khen thưởng.



28,6%

42,9%

17,8%

10,7%

71.4%

25.0%

0%

3.6%

-Trên đây là bảng kết quả được tính dựa trên kết quả của bài kiểm tra chất
lượng đầu năm và bài kiểm tra chất lượng cuối kì I trong năm học 2016-2017
vừa qua, tôi nhận thấy chất lượng vượt bậc của học sinh.Đó cũng chính là tính
khả quan của sáng kiến kinh nghiệm này mà tôi đã nêu trên đây.100% số học
sinh đạt bài kiểm tra trên trung bình và học sinh giỏi ở môn Toán khá cao đó
cũng nhờ một phần lớn các em nắm bắt được kĩ năng giải Toán có lời văn do
giáo viên khắc sâu được kiến thức bài dạy trên lớp.
Qua quá trình giảng dạy và thực hiện giải pháp này với lớp 2 tôi chủ nhiệm,
tôi thấy các em đã làm quen với phương pháp học mới và đã đi vào nề nếp
học tập. Trong tiết học tôi thấy nhẹ nhàng hơn, tất cả các đối tượng học sinh
trong lớp đã biết trình bày hoàn chỉnh bài toàn có lời văn. Nhiều em học khá
giỏi có câu trả lời sáng tạo phù hợp với yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng.
8. Bài học kinh nghiệm.
- Để thực hiện biện pháp giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn hiệu

1. Kết luận
Quá trình giúp học sinh lớp 2 giải toán có lời văn thành thạo là một quá
trình rất khó khăn đối với giáo viên và là một đòi hỏi thiết thực trong nhà
trường hiện nay Khi mà dạy học theo mô hình mới đòi hỏi các em tự lập, tự
học, tự sáng tạo khi mà rất nhiều em khi giải toán có lời văn chưa biết cách
giải hoặc giải sai nhiều. Khi mà học sinh còn quá nhỏ tuổi bởi vậy các em
chưa có ý thức cao trong học tập hơn nữa khả năng đọc viết còn chậm nói
riêng khả năng tư duy nói chung của các em còn nhiều hạn chế do đó đòi hỏi
người giáo viên khi dạy phải tận tuỵ với công việc mới tìm ra được những
giải pháp kịp thời giúp các em khắc phục được những khó khăn ấy. Bản thân
tôi cũng rất tâm đắc với việc tìm ra một vài biện pháp để giúp các em giải
toán có lời văn. Chính điều ấy mà tôi đã giúp được học sinh của mình, đặc
biệt là những em yếu bước đầu đã hoàn thành tốt các bài toán có lời văn.
2. Khuyến nghị
Để việc làm trên đạt hiệu quả cao khi áp dụng thì điều cần thiết và không
thể xem nhẹ là giáo viên cho các em trong nhóm thực hiện tốt phần hoạt động
cơ bản từ đó mới phát triển được tư duy suy luận của các em để phần hoạt
động các em mới nắm chắc bài và làm bài tốt hơn. Để rèn kĩ năng giải toán có
lời văn ở lớp ở 2 thì trong quá trình giảng dạy giải toán nên kết hợp và lựa
chọn các phương pháp dạy tốt, cần đặt ra các tình huống để các em suy nghĩ,
tìm tòi cách giải. Một điều không kém phần quan trọng nữa là người giáo
viên khi đứng lớp phải có lòng tận
tình, say mê với nghề nghiệp, làm hết lương tâm, trách nhiệm của người thầy.
Qua một tiết dạy Toán trên lớp phải nắm bắt được những cái gì học sinh làm
được và những điều gì học sinh còn vướng mắc , khó khăn để từ đó người
giáo viên nghiên cứu và tìm ra được hướng giải quyết tốt hơn cho tiết học
Toán sau.
Trên đây là một số giải pháp giúp học sinh lớp 2 giải các bài toán có lời
văn. Tôi đã áp dụng vào lớp học nhằm nâng cao chất lượng học toán ở lớp 2
tôi chủ nhiệm. Bước đầu đem lại kết quả tốt rất khả quan. Tuy nhiên trong


4. Phạm vi đề tài

Trang 7

5. Thuận lợi - khó khăn

Trang 8

6. Giải pháp, biện pháp thực hiện

Trang 8

7. Kết quả đạt được

Trang 19

8. Bài học kinh nghiệm

Trang 20

9. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng

Trang 21

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Trang 22

1. Kết luận



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status