BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ VIỆT HƯNG
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ
BẰNG ĐƯỜNG BIỂN VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ VIỆT HƯNG
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ
BẰNG ĐƯỜNG BIỂN VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 62 38 01 08
: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN
: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
AWES
: Hiệp hội đóng tàu Tây Âu
BIMCO
: Công hội hàng hải quốc tế và vùng Ban tích
BLDS
: Bộ luật dân sự
BLHH
: Bộ luật hàng hải
CISG
: Công ước Viên của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá
quốc tế năm 1980
CMI
PICC
: Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế
SCMA
: Phòng Trọng tài hàng hải Singapore
TQTMQT
: Tập quán thương mại quốc tế
UCP
: Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
UNCITRAL
: Ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế
UNCTAD
: Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển
VIAC
: Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam
WTO
2.2 Pháp luật về hợp dồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển ......47
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về hợp đồng vận chuyển
hàng hóa quốc tế bằng đường biển. ....................................................................48
2.2.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thuê tàu chợ...........................................56
2.2.3 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thuê tàu chuyến .....................................65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................69
CHƯƠNG 3: QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIỀU ƯỚC
QUỐC TẾ VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA QUỐC TẾ BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN .........................................................................................................70
3.1 Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển ...70
3.2 Chủ thể của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển ......73
3.2.1 Người vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng
đường biển ..........................................................................................................73
3.2.2 Người thuê vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường
biển .....................................................................................................................74
3.3. Nội dung của hợp đồng thuê tàu chuyến trong vận chuyển hàng hóa quốc
tế bằng đường biển ..................................................................................................76
3.4. Nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa
quốc tế bằng đường biển theo chứng từ vận chuyển ...........................................85
3.4.1. Nghĩa vụ và trách nhiệm của người gửi hàng ..........................................85
3.4.2. Nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở ......................................89
3.5 Đặc thù giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng
đường biển .............................................................................................................109
3.5.1. Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường
biển bằng toà án ................................................................................................110
3.5.2. Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường
biển bằng trọng tài hàng hải .............................................................................112
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ......................................................................................121
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây Việt Nam đã đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, tích cực tham gia các cơ chế song phương và đa phương về hợp tác quốc tế,
đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại. Việt Nam là một nước có tiềm năng về vận
tải biển rất lớn, với bờ biển trải dài hơn 3200 km từ Móng Cái đến Hà Tiên, hiện
nay có tới trên 300 cảng biển với qui mô lớn nhỏ các loại. Đánh giá được tầm quan
trọng của kinh tế vận tải biển, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đúng
đắn để khuyến khích các hoạt động kinh tế liên quan đến biển. Nghị quyết số 09 –
NQ/TW ngày 9/2/2007 của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4
khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định mục tiêu là đưa
nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, với mục tiêu cụ thể
là phấn đấu để kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53- 55% tổng GDP
của cả nước. Điều đó cho thấy, cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của
thương mại quốc tế, kinh tế Việt Nam cũng đang trong quá trình hội nhập và phát
triển, trong đó ngành vận tải biển là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn được
đặc biệt chú trọng.
Chủ trương chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế được khẳng định trong
nhiều văn kiện như Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị về hội
nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 của Ban chấp hành
trung ương về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và
bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO),
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết
49-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị
quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế…
Trong những năm qua, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã không ngừng
phát triển và đóng vai trò quan trọng đối với nền hàng hải thế giới. Ở Việt Nam, vận
tải đường biển thực sự có ý nghĩa rất quan trọng. Ước tính lượng hàng hóa quốc tế
Nam về hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển nhằm bảo vệ các
quyền và lợi ích chính đáng cho các bên trong các giao dịch hợp đồng vận chuyển
3
hàng hoá quốc tế bằng đường biển, thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại hàng hải
của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu các vấn đề
pháp lý về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển có ý nghĩa cấp
thiết và mang tính thời sự trong giai đọan hiện nay. Chính vì vậy tác giả đã chọn đề
tài “Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển và vấn đề hoàn
thiện pháp luật Việt Nam” làm luận án Tiến sỹ, với mong muốn nghiên cứu thành
công đề tài này sẽ góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng vận chuyển
hàng hóa quốc tế bằng dường biển, pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa
quốc tế bằng đường biển cũng như đánh giá được thực tiễn áp dụng pháp về hợp
đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển tại Việt Nam. Trên cơ sở đó,
xác định quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng
hóa quốc tế ở Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
+ Đối tượng nghiên cứu:
- Qui định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế
bằng đường biển trong mối tương quan với các qui định của pháp luật quốc tế
- So sánh qui định của pháp luật Việt Nam với các công ước quốc tế về vận tải
biển và pháp luật một số nước trên thế giới về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc
tế bằng đường biển.
- Thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật hiện hành về hợp đồng vận
chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển.
+ Phạm vi nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu các qui định của pháp luật Việt Nam về hợp
đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển trong mối tương quan với các
hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ hội nhập.
Các phương pháp nghiên cứu: phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu, lịch sử,
chứng minh, tổng hợp, qui nạp, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn... Trong đó,
phân tích, thống kê, so sánh và chứng minh được xác định là những phương pháp
nghiên cứu chủ yếu của luận án. Cụ thể như sau:
- Phương pháp diễn giải được áp dụng để nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ
bản của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Thông qua việc
phân tích các vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, đặc điểm, lịch sử hình và phát
triển của pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển
nhằm luận giải ý nghĩa, sự cần thiết của việc nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, bình luận được áp dụng để trình bày các quy định
cụ thể của hệ thống pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam về hợp đồng
5
vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển nhằm làm rõ các ưu, nhược điểm của
các quy định này trong pháp luật thực định. Qua đó đưa ra các bình luận, đánh giá
sự bất cập hay khiếm khuyết của pháp luật Việt Nam so với các quy định của luật
pháp quốc tế.
- Phương pháp so sánh luật học cũng được sử dụng để nghiên cứu các quy
định của pháp luật quốc tế, nghiên cứu các án lệ quốc tế, pháp luật một số nước và
so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận chuyển hàng hóa
quốc tế bằng đường biển nhằm đánh giá sự tương thích, phù hợp, trên cơ sở đó đề
xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
- Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực
tiễn cũng được sử dụng nhằm khái quát hóa và rút ra các kết luận, đề xuất cơ bản về
những đóng góp mới của luận án với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp
đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển.
- Phương pháp tổng hợp, qui nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra
những ưu điểm và hạn chế các quy định trong pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận
chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển.
Thứ tư, Luận án phân tích, đánh giá một số vụ việc thực tế. Qua đó rút ra một
số bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình ký kết và
thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển, góp phần nâng
cao ý thức của cộng đồng doanh nghiệp trong các vụ việc giải quyết tranh chấp
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ năm, luận án cũng phân tích các yêu cầu, sự cần thiết phải hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường
biển. Trên cơ sở đó luận án đã phân tích, đề xuất các giải pháp cụ thể, có tính khả
thi nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế
bằng đường biển ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Từ việc tiếp cận, nghiên cứu và đánh giá pháp luật và thực tiễn về hợp đồng
vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển theo quy định của các công ước quốc
tế về vận tải biển, pháp luật Việt Nam, pháp luật của một số quốc gia điển hình trên
thế giới, có thể khẳng định rằng luận án là một công trình khoa học độc lập, công
phu, nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế
bằng đường biển và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Những phân tích, kết
luận và đề xuất mà luận án nêu ra có cơ sở khoa học và thực tiễn. Vì vậy, kết quả
7
nghiên cứu của luận án có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển ở Việt
Nam. Luận án là tài liệu có giá trị phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên
cứu khoa học trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng
đường biển ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
đường biển đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
nhằm phân tích, luận giải dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau. Điển hình là các
tác giả sau đây :
TS Trịnh Thu Hương, Vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương, Nhà xuất bản
thông tin và truyền thông Hà Nội, năm 2011[49]. Tác giả đã phân tích các vấn đề
liên quan đến chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển như vị trí, vai
trò của vận tải đường biển, tác dụng của vận tải biển đối với buôn bán quốc tế. Tác
giả đã phân tích rõ hiện nay vận tải đường biển giữ vị trí số một trong chuyên chở
hàng hóa trên thị trường thế giới, nó đảm nhận chuyên chở gần 80% tổng khối
lượng hàng hóa trong buôn bán quốc tế; vận tải đường biển thích hợp với chuyên
chở trên cự ly dài, khối lượng lớn. Ưu điểm nổi bật của vận tải đường biển là giá
thành thấp (bằng một phần mười so với đường hàng không). Chính vì vậy vận tải
đường biển là ngành vận tải chủ chốt so với các phương thức vận tải khác để
9
chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu. Tác giả cũng chỉ rõ vận tải biển là yếu tố
không tách rời buôn bán quốc tế và vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế
phát triển. Tác giả cuốn sách cũng giới thiệu phân tích các phương thức thuê tàu
thông dụng trong hàng hải quốc tế. Trách nhiệm của người vận chuyển và người
thuê vận chuyển trong vận chuyển hàng hải quốc tế, các vấn đề cơ bản về vận đơn
đường biển. Tác giả đã phân tích được một số nội dung cơ bản liên quan đến
chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển.
GS.TS Hoàng Văn Châu, Logistics và vận tải quốc tế, Nhà xuất bản thông tin
và truyền thông, Hà Nội 2009 [12]. Tác giả đã giới thiệu khái quát chung về
Logistics, vận tải đường biển và thương mại quốc tế. Tác giả cũng khẳng định vận
tải biển đóng vai trò quan trọng nhất trong việc vận chuyển hàng hóa ngoại thương,
chiếm tới 80% khối lượng hàng hóa trong buôn bán quốc tế do có những ưu điểm
nổi bật như: Vận tải biển có năng lực vận chuyển lớn, thích hợp cho việc vận
quốc tế bằng đường biển. Cuốn sách đã giới thiệu về hợp đồng chuyên chở hàng
hoá quốc tế bằng đường biển, trong đó đề cập đến hai loại hợp đồng đó là hợp đồng
vận tải bằng tàu chuyến và hợp đồng chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng tàu
chợ. Trong đó tác giả có lý giải Tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ dân sự theo
nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, trong đó bao gồm cả quan hệ hợp đồng vận
chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển. Tác giả đã lý giải tính chất quốc tế của
hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường biển theo quan niệm Tư pháp
quốc tế được thể hiện qua các dấu hiệu:
Các bên chủ thể ký hợp đồng có quốc tịch khác nhau; hợp đồng được ký kết ở
nước ngoài; đối tượng của hợp đồng là hàng hoá mua bán quốc tế có yếu tố nước
ngoài và việc thực hiện hợp đồng diễn ra giữa các cảng biển của quốc gia hay vùng
lãnh thổ này với các cảng biển của quốc gia hay vùng lãnh thổ khác. Ngoài ra cuốn
sách cũng giới thiệu những vấn đề cơ bản về chủ thể của hợp đồng; đối tượng của
hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển và nội dung của hợp đồng, tác giả
cũng phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản của vận đơn đường biển và trách nhiệm
của người vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường
biển.
Bùi Gia Anh, ThS. Phan Thế Nguyên và một số tác giả khác, Phân tích một số
bộ luật, đạo luật, điều ước liên quan đến vận tải và bảo hiểm hàng hải, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007 [1].
11
Theo các tác giả trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thì pháp Luật hàng
hải là một ngành luật có mối liên quan trực tiếp và chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp
luật quốc tế đồng thời là ngành luật có ảnh hưởng đến quá trình hội nhập và phát
triển. Nội dung quốc sách đi sâu nghiên cứu các qui định, các khái niệm, các thuật
ngữ có trong các qui tắc Hague - Visby và qui tắc Hamburg 1978. Cuốn sách đã
giới thiệu về sự ra đời của các qui tắc, ý nghĩa của các qui tắc; trách nhiệm pháp lý
Dự án EU- Việt Nam Mutrap III tổ chức, Hội thảo đánh giá tác động của việc
Việt Nam gia nhập các công ước quốc tế về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển,
tháng 7/2011 tại Hà Nội. Kỷ yếu hội thảo đã giới thiệu các công ước quốc tế liên
quan đến vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đó là công ước Brussels1924; công
ước Hamburg 1978 và công ước Roterdam 2009. Các tác giả cũng đã giới thiệu các
qui định của pháp luật Việt Nam về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển và tác
động về mặt pháp lý của các công ước quốc tế có liên quan. Trên cơ sở so sánh các
công ước quốc tế tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt với các qui định của
pháp luật Việt Nam; Nội dung so sánh chủ yếu liên quan đến trách nhiệm của người
chuyên chở.
Các tác giả đã nhận xét đánh giá các nhà soạn thảo Bộ Luật hàng hải Việt
Nam đã tham khảo cả qui tắc Hague-Visby và qui tắc Hamburg, về nội dung qui tắc
Rotterdam là đầy đủ và hiện đại nhất. Các tác giả cho rằng Việt Nam nên nghiên
cứu cân nhắc kỹ tham gia một trong các công ước quốc tế nêu trên đồng thời sửa
đổi bổ sung pháp Luật hàng hải Việt Nam trên cơ sở tham khảo những ưu điểm của
các công ước. Tài liệu đã gợi mở cho tác giả kiến nghị về việc gia nhập công ước
quốc tế về vận tải biển và hoàn thiện Bộ Luật hàng hải Việt Nam.
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam tổ chức Hội thảo Báo cáo rà soát
Bộ Luật hàng hải Việt Nam 2005, tháng 8/ 2011 tại Hà Nội [63]. Kỷ yếu hội thảo đã
nhận xét việc xây dựng và ban hành Bộ Luật hàng hải Việt Nam năm 1990 là một
trong những thành tựu pháp lý sớm nhất và lớn nhất của hệ thống pháp Luật hàng
hải Việt Nam so với nhiều quốc gia hàng hải khác trong khu vực, kể cả Trung Quốc
mới có Bộ Luật hàng hải vào năm 1993. Bộ luật HHVN năm 2005 đánh dấu tiếp
một bước trưởng thành hơn và toàn diện hơn trong việc tiếp cận và chuẩn hóa các
điều ước quốc tế về hàng hải vào hệ thống pháp Luật hàng hải quốc gia. Cả hai Bộ
luật HHVN năm 1990 và năm 2005 đều có tác động rất lớn, mạnh mẽ và tích cực
đến sự phát triển của ngành công nghiệp hàng hải của Việt Nam, nâng cao hiệu lực,
13
pháp luật về kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi thông qua các chính sách
và hệ thống pháp luật chuẩn mực, phù hợp sẽ có tác động quyết định đến sự phát
14
triển của hoạt động quyết định đến sự phát triển của hoạt động vận tải biển. Trong
luận án tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò quản lý nhà nước, phân tích
thực trạng về quản lý nhà nước trong việc nâng cao thị phần vận tải đã đưa ra những
số liệu và phân tích về đội tàu biển quốc gia, chính sách phát triển tàu biển, cảng
biển từ đó đề xuất các giải pháp chính sách cơ bản nhằm nâng cao thị phần vận tải
của đội tàu biển Việt Nam như phát triển cảng biển, phát triển đội tàu và phát triển
dịch vụ hàng hải.
Luận án Tiến sĩ của Tác giả Nguyễn Thị Như Mai (2004), Những vấn đề lý
luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp Luật hàng hải Việt Nam [54]. Tác giả đã
phân tích tầm quan trọng của pháp Luật hàng hải trong việc phát triển kinh tế xã hội
của đất nước. Mối quan hệ của pháp Luật hàng hải Việt Nam với các ngành luật
khác như Luật dân sự, Công pháp quốc tế, Tư pháp quốc tế, Luật tố tụng dân sự….
Tác giả cũng đã phân tích thực trạng của pháp Luật hàng hải Việt Nam đặc biệt là
các quy định của Bộ Luật hàng hải Việt Nam 1990 đã bộc lộ những điểm chưa phù
hợp cần phải sửa đổi bổ sung kịp thời đó là những nội dung không còn phù hợp;
những nội dung chưa rõ cần quy định cụ thế và những nội dung cần bổ sung để phù
hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam và pháp Luật hàng hải quốc tế. Trên cơ sở
thực tiễn tác giả đã đưa ra các giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp Luật hàng hải
Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập và nâng cao khả năng cạnh
tranh của ngành Hàng hải Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ngoài ra, Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển đã được đề
cập trong một số giáo trình Luật Thương mại quốc tế. Nội dung chủ yếu các giáo
trình cung cấp các kiến thức lý luận cơ bản về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc
tế bằng đường biển. Ví dụ một số công trình tiêu biểu sau:
bằng đường biển trên cơ sở điều 70 của Bộ Luật hàng hải Việt Nam 2005, hợp đồng
vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là văn bản cam kết giữa người vận chuyển
và người thuê vận chuyển. Người vận chuyển cam kết sẽ vận chuyển hàng hoá từ
cảng này đến cảng khác theo yêu cầu của người thuê, còn người thuê vận chuyển
cam kết sẽ thanh toán cước phí. Tác giả đã phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường biển thành hai loại theo qui định của điều 71 Bộ Luật hàng hải Việt
Nam 2005 đó là hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển và hợp đồng vận
chuyển theo chuyến.
Tác giả cũng nêu ra khái niệm và đặc điểm của từng loại hợp đồng và giới
thiệu các qui định liên quan đến quyền, nghĩa vụ trách nhiệm của các bên trong Bộ
16
Luật hàng hải Việt Nam 2005 và nguồn luật dành riêng để điều chỉnh hoạt động vận
chuyển hàng hoá theo vận đơn đường biển như Công ước Brussels 1924 và Công
ước Hambung 1978.
Về hợp đồng thuê tàu chuyến trong hàng hải quốc tế, bài viết của tác giả T.S
Nguyễn Vũ Hoàng, Th.S Hà Việt Hưng (tác giả luận án), Tạp chí Luật học, Trường
đại học Luật Hà Nội, số 3/2012 [43]. Bài viết trong tạp chí phân tích những vấn đề
pháp lý cơ bản của hợp đồng thuê tàu chuyến như khái niệm, phân loại, nguồn luật
điều chỉnh. Bài viết này phân tích rõ việc xác định được chủ thể của hợp đồng thuê
tàu chuyến có vai trò đặc biệt quan trọng đối với khả năng thực hiện hợp đồng thuê
tàu chuyến. Bài viết trong tạp chí đã phân tích rõ các điều khoản quan trọng và tiêu
chuẩn của hợp đồng thuê tàu chuyến.Thực tế hàng hải đã phát sinh nhiều tranh chấp
từ hợp đồng thuê tàu chuyến liên quan đến các điều khoản của hợp đồng. Vì vậy các
bên ký hợp đồng cần qui định rõ ràng cụ thể nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ và
trách nhiệm của các bên. Bài viết cũng đã giới thiệu một số hợp đồng mẫu thông
dụng về hợp đồng thuê tàu chuyến. Bài viết trong tạp chí cũng nhận xét hợp đồng
thuê tàu chuyến là loại hợp đồng phổ biến trong thương mại và hàng hải quốc tế
ĐHQGHN, Luật học 27 (2011) [83]. Bài viết trong tạp chí phân tích hiện trạng và
xu hướng vận động của pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường
biển.Tác giả đã phân tích thực trạng về các công ước quốc tế quan trọng điều chỉnh
hợp đồng vận tải hàng hoá bằng đường biển; Pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển trong mối tương quan với qui định của pháp luật
quốc tế.
Tác giả đã đi đến nhận xét các qui định của Bộ Luật hàng hải Việt Nam
năm 2005 hầu như tiếp nhận các qui định của qui tắc Hague- Visby, một số các qui
định của qui tắc Hamburg 1978. Sự tiếp nhận có chọn lọc qui định của hai qui tắc
này dẫn đến hệ quả là các qui định của Bộ Luật hàng hải Việt Nam 2005 hiện hành
có nhiều điểm thống nhất với các qui định hoặc của Qui tắc Hague-Visby, hoặc của
qui tắc Hamburg. Bên cạnh đó, cũng có những điểm mà Bộ Luật hàng hải Việt Nam
2005 có sự khác biệt với hai qui tắc trên, đặc biệt với những phát triển mới trong
qui tắc Rotterdam.
Những thay đổi căn bản của công ước Rotterdam và hướng sửa đổi Luật
hàng hải Việt Nam, bài viết của TS Dương Văn Bạo, Tạp chí Khoa học Công nghệ
hàng hải số tháng 1/2011 [4]. Bài viết trong tạp chí giới thiệu Công ước của liên
18
hợp quốc tế về vận chuyển hàng hoá quốc tế một phần hoặc toàn bộ bằng đường
biển được thông qua ngày 23/5/2009 tại Rotterdam. Sự ra đời của công ước được
nhiều quốc gia trông đợi và áp dụng cho phép thay thế các công ước hiện tại vẫn
được áp dụng rất khác nhau giữa các nước trong cả vận chuyển hàng hóa bằng
đường biển và trong vận tải đa phương thức. Những thay đổi đó đang tác động tới
thị trường thế giới và Việt Nam. Tác giả bài viết đánh giá những điểm bất lợi và lạc
hậu của các công ước quốc tế cũng như Bộ Luật hàng hải Việt Nam trên cơ sở xem
xét những điểm mới, tiến bộ của công ước Rotterđam. Công ước Rotterdam đã mở
ra một cơ sở pháp lý cho sự phát triển của thương mại điện tử bao gồm các các