Tài liệu ôn thi học sinh giỏi ngữ văn thpt chuyên đề CHI TIẾT NGHỆ THUẬT TRONG tác PHẨM văn CHƯƠNG tự sự - Pdf 42

CHUYÊN ĐỀ HỘI THẢO MÔN NGỮ VĂN:

CHI TIẾT NGHỆ THUẬT
TRONG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG TỰ SỰ
A. Phần mở đầu
Thực tế, trong những năm gần đây, các kì thi học sinh giỏi cũng như thi đại học
bộ môn Ngữ văn thường xuất hiện những dạng câu hỏi “nhỏ” đề cập đến một hoặc
một vài chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm văn chương tự sự. Chỉ là một tiểu
tiết của tác phẩm song nhiều chi tiết nghệ thuật luôn có khả năng hàm chứa trong nó
những nội dung tư tưởng và cả giá trị nghệ thuật lớn lao. Mỗi chi tiết nghệ thuật như
một viên gạch nhỏ góp xây nên tòa thành vĩ đại, lộng lẫy của ngôn từ - những tác
phẩm văn học. Phân tích, cảm nhận về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự, vì
thế, đã trở thành một việc làm cần thiết, thậm chí là một thử thách với nhiều giáo
viên và học sinh. Chính ở đây người viết, người nói có thể chứng minh khả năng
phát hiện, cảm thụ văn chương, bộc lộ tư duy sáng tạo. Khi con đường dạy, học văn
đang có nguy cơ đứng trước lối mòn, sự khuôn sáo thì việc đào sâu vào những chi
tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự là một hướng đi mới mẻ, ở đó mỗi khám phá lại
giúp ta mở thêm ra thế giới văn chương đa hình muôn sắc.
B. Phần nội dung
I. Những vấn đề lí thuyết
1. Khái niệm chi tiết nghệ thuật.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
đồng chủ biên), chi tiết nghệ thuật là “các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn
về cảm xúc và tư tưởng”. Nhà văn Nguyễn Công Hoan, bằng kinh nghiệm nhiều
năm trong nghề viết đã cho rằng: “Chi tiết là từng hòn gạch xây nên bức tường. Nếu
bản thân câu chuyện không có nội dung, thì những chi tiết cũng có thể kết hợp để
tạo cho chuyện một nội dung” (Đời viết văn của tôi, NXB Văn học, H.1971). Một tác
phẩm tự sự có thể bao gồm một đến một chuỗi các sự việc và mỗi sự việc như thế lại
được xây dựng bởi nhiều chi tiết. “Chi tiết có thể là một lời nói, một cử chỉ, một
hành động của nhân vật, hoặc một sự vật, một hình ảnh thiên nhiên, một nét chân
1

xây dựng hình tượng nghệ thuật. Theo đó, “hình tượng nghệ thuật cụ thể, gợi cảm
và sống động là nhờ các chi tiết về phong cảnh, môi trường, chân dung, nội thất, về
cử chỉ, phản ứng nội tâm, hành vi lời nói” (Từ điển thuật ngữ văn học, tlđd). Còn
2


theo Nguyễn Công Hoan: “xây dựng truyện, mà không có chi tiết thì không có
chuyện sinh động, gây cảm xúc” (Tlđd). Chi tiết nghệ thuật vừa làm cho sự vật, hiện
tượng hiện lên rõ nét, vừa soi tỏ ý nghĩa của chúng, tạo chiều sâu tính đa nghĩa cho
tác phẩm. Sức nén mạnh mẽ tạo khả năng bùng nổ cho chi tiết, gây bất ngờ cho bạn
đọc bởi những phát hiện, vỡ lẽ.
Cao hơn, chi tiết nghệ thuật có khả năng “thể hiện, giải thích, làm minh xác
cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả
trong tác phẩm” (Từ điển thuật ngữ văn học - tlđd). Theo TS. Chu Văn Sơn, những
chi tiết giàu tính tượng trưng, đa nghĩa còn có thể nâng lên thành biểu tượng hay ẩn
tượng trong tác phẩm (Ví dụ chi tiết những chiếc xe tăng hỏng và xe rà mìn sét gỉ
trên bãi biển – nơi người chồng đánh vợ trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
biểu tượng cho bạo lực tàn khốc một thời chiến tranh đã qua). Chi tiết nghệ thuật
gắn bó, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quan niệm nghệ thuật của nhà văn, nên đồng
thời người đọc có thể đi từ chi tiết nghệ thuật để tìm hiểu quan niệm của nhà văn về
thế giới, con người… “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” (M. Gor-ki), từ chi tiết
nghệ thuật có thể đánh giá tài năng, bản lĩnh của người cầm bút mà cụ thể chính là
khả năng phát hiện, lựa chọn, sử dụng chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm. Mỗi chi
tiết nghệ thuật là một sáng tạo riêng của nhà văn nhưng đồng thời cũng kết tinh từ
những gì thu lượm được trong đời sống sâu và rộng của người viết. Như giọt nước
kết tinh cái mặn mòi của biển, chi tiết đồng thời cho thấy vốn sống của người cầm
bút: liệu anh đã thực sự sống hết mình, sống sâu sắc “mở hồn ra đón lấy những
vang động của đời”?
4. Các dạng đề văn về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự.
a) Dạng đề yêu cầu phân tích, cảm nhận về chi tiết nghệ thuật.

chi tiết có tính nghệ thuật phục vụ nội dung đang phân tích, tìm hiểu, tránh suy diễn,
áp đặt hay phân tích ôm đồm, thiếu tập trung.
- Khi tiến hành phân tích cần chú ý đến các phương diện như: vị trí, tần suất
xuất hiện chi tiết, tác động của chi tiết tới nhân vật, cốt truyện... Chi tiết nghệ thuật
tự bản thân nó có tính độc lập tương đối nhưng nếu không đặt nó trong tương quan
với toàn thể tác phẩm, trong mối qua hệ qua lại mật thiết với những chi tiết khác thì
sự phân tích sẽ dễ rơi vào suy diễn tùy tiện. Ví dụ, ở phần cuối tác phẩm Chí Phèo,
khi Chí xách dao đến nhà Bá Kiến để “đòi lương thiện” cũng là lúc Bá Kiến đang
trong cơn ghen (vì bà Tư trẻ, đẹp đi đâu mãi chưa về). Nhìn bề ngoài, chi tiết này là
minh chứng cho bản chất dâm đãng của Bá Kiến, nhưng sâu xa hơn, khi liên hệ với
4


nhiều chi tiết xuất hiện trước, có thể thấy ý nghĩa của chi tiết này không dừng lại ở
đó. Vì ghen tuông vu vơ, Bá Kiến đẩy Chí vào tù, tạo bước ngoặt đầu tiên trong quá
trình tha hóa của nhân vật. Và chính khi cái ý nghĩ thâm độc của Bá Kiến lại trở về
“muốn cho tất cả những thằng trai trẻ đi ở tù” thì Chí Phèo xuất hiện, đòi công lý.
Không trả lời được những câu hỏi dồn dập của Chí Phèo, “Bá Kiến phải chết, chết
giữa cơn ghen đích đáng như một sự quả báo” (TS. Đặng Lưu – Một số đặc điểm
trong tư duy tự sự của Nam Cao qua Chí Phèo).
- Nếu sử dụng thao tác so sánh thì việc phát hiện, lựa chọn chi tiết so sánh là
hết sức quan trọng, tránh đặt những chi tiết thiếu cân xứng gây cảm giác khiên
cưỡng. Ví dụ, từng có đề bài yêu cầu so sánh hai chi tiết: tiếng chim hót ngoài kia
vui vẻ quá (trong Chí Phèo – Nam Cao) và tiếng sáo gọi bạn tình (trong Vợ chồng A
Phủ – Tô Hoài). Có thể nhận thấy sự chênh lệch rất rõ ràng ở đây. Âm thanh tiếng
chim hót được miêu tả như thứ âm thanh thường nhật, kết hợp cùng nhiều chi tiết
khác làm nổi bật lên sự sống thường ngày giản dị xung quanh Chí Phèo (sự tác động
đến nhân vật, nếu có, cũng chủ yếu nằm ở đây) và nó chỉ xuất hiện duy nhất một lần.
Ngược lại, âm thanh tiếng sáo gọi bạn tình lại là thứ âm thanh đặc biệt, giàu sức gợi,
có khả năng tác động sâu sắc đến tâm tư của nhân vật và được Tô Hoài dụng công

của Tô Hoài nhằm tạo quãng ngắt, là khoảng lặng bề ngoài cho những đấu tranh dữ
dội trong nội tâm nhân vật: cuộc đấu tranh giữa thói quen sống nô lệ, những nỗi sợ
hãi vô hình với khát vọng sống, khát vọng tự do. “Dòng nước mắt lấp lánh bò
xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ mới chỉ kịp đánh thức lòng đồng
cảm, tình thương, sự căm giận bè lũ thống trị độc ác chứ chưa đánh thức sức sống
mạnh mẽ trong Mị (Mị vẫn nghĩ: “ta là thân đàn bà, nó bắt ta về trình ma ở nhà nó
rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi”). Phải đến khi “A Phủ quật sức
vùng lên, chạy” – bên cạnh một sức sống bừng bừng như thế, Mị mới bàng hoàng
rồi sực tỉnh. Phút đứng lặng kia của nhân vật quý giá biết bao, chính nó đã tạo ra
chuyển biến quan trọng trong tâm hồn người con dâu gạt nợ: cô dũng cảm vùng lên,
cắt đứt sợi dây trói của thần quyền, cường quyền, tìm đến với cuộc đời tự do.
Nhằm làm sâu hơn sự phân tích, có thể thực hiện thao tác đối sánh đơn giản
ngay trong giờ giảng văn. Để việc làm đúng trọng tâm, giáo viên cần gợi ý cho học
sinh những hướng liên hệ đối sánh, học sinh tiếp tục phát hiện những điểm tương
đồng và dị biệt, khám phá thêm những tầng ý nghĩa ẩn sâu của chi tiết. Sự đối sánh
có thể tiến hành với những chi tiết trong cùng một tác phẩm hoặc với những chi tiết
ở các tác phẩm khác nhau. Ví dụ, khi phân tích quang cảnh mới mẻ trước mắt Tràng
trong buổi sáng hôm sau (Vợ nhặt – Kim Lân), có thể lựa chọn phân tích một âm
6


thanh khỏe khoắn, vui tươi: “tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất” và liên
hệ so sánh với “tiếng cười nói của mấy người đàn bà đi chợ” trong Chí Phèo (Nam
Cao). Đó đều là những thanh âm giản dị của sự sống thường ngày, nhưng vì những
bất thường (cái đói trong Vợ nhặt, những trận say và sự tha hóa trong Chí Phèo) mà
các nhân vật chưa bao giờ được nghe hay để ý tới. Chúng đánh thức khát vọng về
cuộc sống với hạnh phúc mộc mạc đơn sơ. Cùng là những âm thanh sự sống thường
ngày song ở Chí Phèo, nó (kết hợp với những âm thanh, hình ảnh khác) gợi nhắc về
mơ ước xa xôi trong quá khứ, kéo theo nhiều trạng thái phức tạp phía sau còn ở Vợ
nhặt, nó gợi lên ở Tràng ý thức vun vén gia đình và khát vọng hướng tới tương lai.

Hãy phân tích ý nghĩa hình ảnh dòng nước mắt trên của A Phủ.
Hướng dẫn làm bài:
Bài làm của học sinh cần đảm bảo được các nội dung cơ bản sau:
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm và chi tiết nghệ thuật “dòng nước mắt lấp lánh
bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”.
* Phân tích:
- Hoàn cảnh xuất hiện chi tiết dòng nước mắt của A Phủ:
+ Do sơ ý để hổ bắt mất bò, A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng, bỏ mặc cho
đói rét suốt mấy đêm liền giữa kì sương muối khắc nghiệt ở Hồng Ngài, còn Mị sau
bao năm bị đọa đày cùng cực cũng đã trở nên chai lì. Những đêm trước, tuy vẫn trở
dậy thổi lửa, hơ tay, nhìn thấy A Phủ bị trói nhưng Mị chỉ dửng dưng, vô cảm.
+ Đêm ấy, trong nỗi bất lực, bế tắc và hoàn toàn tuyệt vọng, A Phủ đã khóc,
đúng lúc đó, Mị nhìn sang và bắt gặp dòng nước mắt của A Phủ.
- Về nội dung, chi tiết dòng nước mắt của A Phủ có ý nghĩa:
+ Trực tiếp bộc lộ những cảm xúc: đau đớn, tuyệt vọng… trong hoàn cảnh
cùng đường của A Phủ. Đó cũng là một dạng “biểu hiện lộn trái” của lòng yêu đời,
sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân vật. Chàng trai trẻ, khỏe, phơi phới sức xuân
lại sắp phải chịu cái chết bi thảm (chết trong tư thế bị trói đứng). Đây cũng là bằng
chứng tố cáo sự tàn ác của giai cấp thống trị miền núi.
+ Tạo ra bước ngoặt quan trọng trong tâm lí nhân vật Mị:
 Mị nhớ lại lần cũng bị hành hạ như thế, mà xót thương mình, từ đó
đồng cảm với nỗi đơn độc và tuyệt vọng của A Phủ.
 Từ mối đồng cảm ấy, Mị càng hiểu sâu sắc hơn sự độc ác của cha con
thống lí Pá Tra, thấy rõ sự nguy khốn đang ập xuống A Phủ, lòng trắc

8


ẩn của người phụ nữ bỗng chốc thức dậy đã đem lại sức mạnh cho Mị,
khiến Mị dám liều mình cứu A Phủ.



- Làm rõ những điểm tương đồng, dị biệt giữa các chi tiết, lí giải được nguyên
nhân sự tương đồng, dị biệt đó.
Ví dụ:
“Từ thức dậy, Từ hiểu ngay, không cần hỏi một câu nào cũng hiểu. Và Từ
cảm động. Mắt Từ giàn giụa nước.”
(Đời thừa – Nam Cao)
“Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào
người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống
những dòng nước mắt”
(Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu)
Cảm nhận của anh (chị) về “dòng nước mắt” của hai người phụ nữ trong
những câu văn trên.
Đáp án, thang điểm:
1. Vài nét về tác giả và tác phẩm (0,5 điểm)
- Nam Cao là cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại;
“người kết thúc vẻ vang cho trào lưu văn học hiện thực phê phán”. Một trong những
truyện ngắn xuất sắc nhất của ông là Đời thừa. Trong tác phẩm, bên cạnh những giọt
nước mắt đau khổ, ân hận của Hộ người đọc còn xúc động trước những giọt nước
mắt của Từ - người vợ hiền lành, đáng thương. (0,5 điểm)
- Nguyễn Minh Châu là “người mở đường tinh anh và tài năng nhất” của văn
học Việt Nam thời kì đổi mới. Nếu trước thập kỉ tám mươi, ông là ngòi bút sử thi có
khuynh hướng trữ tình lãng mạn thì sau thập kỉ tám mươi, nhà văn chuyển hẳn sang
cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh sâu sắc. Một trong
những sáng tác nổi tiếng nhất của Nguyễn Minh Châu ở giai đoạn sáng tác thứ hai
này chính là Chiếc thuyền ngoài xa. Và một hình ảnh gây xúc động cho bạn đọc là
hình ảnh những giọt nước mắt của người đàn bà hàng chài - những giọt nước mắt soi
tỏ nhiều góc khuất trong tâm hồn nhân vật. (0,5 điểm)


những người vợ, người mẹ trong bi kịch gia đình, đều thể hiện biệt tài sử dụng chi
tiết của các nhà văn lớn. (0,5 điểm)
- Khác biệt: Giọt nước mắt của Từ chủ yếu bộc lộ thái độ đồng cảm, xót xa
của người vợ, (cùng với những hành động khác của nhân vật) nó có tác dụng cứu
chuộc nhân tính, thức tỉnh lương tri của Hộ. Giọt nước mắt của người đàn bà hàng
11


chài chủ yếu thể hiện nỗi đau, sự bất lực của người mẹ không thể bảo vệ được tâm
hồn ngây thơ, trong sáng cho đứa trẻ (0,5 điểm)
* Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng
phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức.
III. Giới thiệu một số đề văn tiêu biểu về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự
sự của các năm gần đây
1. Thi Quốc gia
Năm 2013:
Câu 2: (12 điểm)
“Trong tác phẩm văn học, sáng tạo nghệ thuật quan trọng, đặc sắc nhất, nhiều
khi không phải ở hình tượng con người mà ở hình tượng đồ vật, sự vật: Một thứ
thuốc chữa bệnh quái lạ (Thuốc - Lỗ Tấn), một bức thư pháp đẹp và quý (Chữ người
tử tù - Nguyễn Tuân) một công trình kiến trúc kỳ vĩ, tinh xảo (Vũ Như Tô - Nguyễn
Huy Tưởng), một cây đàn huyền thoại (Đàn ghi ta của Lor-ca - Thanh Thảo)… Đó
là những đồ vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý chí,
khát vọng, số phận… của con người.
Ý kiến của anh chị về nhận định trên? Hãy phân tích hai trong những hình
tượng đồ vật, sự vật đã nêu để làm sáng tỏ ý kiến của mình”.
2. Thi Đại học
Khối C:
Năm 2008:
Câu IIIa. (3 điểm)

Giáo dục Việt Nam, 2011), việc Mị nhìn thấy “dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai
hõm má đã xám đen lại” của A Phủ diễn ra trong hoàn cảnh nào? Sự việc ấy có ý
nghĩa gì đối với tâm lí của nhân vật Mị?
Câu IIIa. Theo chương trình Chuẩn (5 điểm)
Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và
vắng người lại qua… (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155)
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)
Cảm nhận của anh chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.
Năm 2013:
13


Câu I (2 điểm)
Trong tùy bút Người lái đò sông Đà (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục
Việt Nam, 2013), Nguyễn Tuân từng nhìn “Sông Đà như một cố nhân”.
Người “cố nhân” ấy có tính nết như thế nào? Cách ví von này có ý nghĩa gì?
IV. Một số đề luyện tập mở rộng
Đề 1: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh đôi bàn tay rực lửa của Tnú trong
đêm nổi dậy của dân làng Xô Man (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành):
“Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng
nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc”
Gợi ý:
Bài làm của học sinh cần đảm bảo các nội dung sau:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và hình ảnh đôi bàn tay rực lửa của Tnú.
- Hình ảnh đôi bàn tay rực lửa của Tnú là minh chứng cho tội ác dã man của
kẻ thù. Chúng đốt bàn tay Tnú trước hết là để trả thù, hành hạ kẻ đã dám cầm súng
chống lại chúng, sau nữa là để đe dọa dân làng khiến họ run sợ mà không dám nổi

lời thề…)
- Về nghệ thuật, chi tiết tiếng hò cho thấy khả năng khám phá tâm lí của
Nguyễn Thi. Những cảm xúc tâm lí khó nắm bắt, những diễn biến phức tạp trong
tâm hồn người chú (đã lớn tuổi, là người giàu tình cảm nhưng ít và khó bộc lộ tình
cảm trực tiếp) đã được bộc lộ qua tiếng hò. Hình tượng nhân vật hiện lên nhờ thế
cũng tự nhiên, sinh động hơn, tính cách nhân vật cũng được khám phá dưới nhiều
góc độ: vừa anh hùng, vừa chân chất, mộc mạc…
+ Tiếng hò tạo màu sắc Nam Bộ cho tác phẩm: Ai đó đã nói thức ăn tinh thần
chính của người Nam Bộ buổi đầu tiên là tiếng hò câu hát. Âm thanh tiếng hò vang
lên giữa không gian sông nước, vườn cây trái mênh mông ... rất giàu sức gợi về một
không gian văn hóa đặc trưng Nam Bộ.
Đề 3: Về những câu hát được Tô Hoài trích dẫn trong Vợ chồng A Phủ.
Gợi ý:
Bài làm của học sinh cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần phân tích: những câu hát được Tô
Hoài trích dẫn trong tác phẩm.
- Những câu hát được chọn lọc kĩ càng theo dụng ý nghệ thuật riêng: Tô Hoài
có một khoảng thời gian dài đi thực tế Tây Bắc (hơn tám tháng). Trong khoảng thời
gian ấy, ông đã cùng ăn, cùng ở, học tiếng của các đồng bào dân tộc ít người và
15


trong cuốn sổ tay của mình, nhà văn ghi lại nhiều lời hát của họ. Tư liệu phong phú
song khi đưa vào tác phẩm, Tô Hoài chỉ lựa chọn rất ít, có 3 lần nhà văn nhắc tới
những lời hát:
-“Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu.”
-“Anh ném pao, em không bắt

nấu ăn vậy; người đầu bếp có thể thay đổi hương vị của món ăn chỉ bằng cách thêm
vào chút gia vị lạ - người sáng tác cũng chỉ dụng ý khéo léo trong một chi tiết nhỏ
nhưng lại đem đến tầng sâu giá trị nội dung và nghệ thuật cho tác phẩm. Dễ dàng
nhận thấy, trên trang viết của nhà văn Nam Cao, có một chi tiết nghệ thuật trở đi trở
lại, ám ảnh người đọc trong nhiều cung bậc cảm xúc, ấy là hình ảnh giọt nước mắt,
tiêu biểu là giọt nước mắt của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên.
Nam Cao là một trí thức nghèo, sống tại nơi thôn quê xa phủ xa tỉnh, gắn bó
hàng ngày với những người nông dân khổ đau chốn ấy. Đề tài sáng tác của ông, bởi
thế, cũng tập trung ở hai đối tượng: người trí thức nghèo và người nông dân nghèo.
Tuy nhiên, dù viết về đề tài nào, truyện Nam Cao cũng đau đáu một nỗi băn khoăn
đến đau đớn trước tình trạng con người bị huỷ hoại về nhân phẩm do cuộc sống đói
nghèo đẩy tới. Và như thế, giọt nước mắt chảy ra dưới ngòi bút nghệ thuật như một
lẽ tất yếu, khi thì biểu hiện cho uất ức khổ đau, lúc lại là thứ nước rửa trôi bụi bặm
quá khứ, thức tỉnh nhân vật…
Chí Phèo được coi là kiệt tác của Nam Cao nói riêng, của văn học thời kì bấy
giờ nói chung. Truyện kể về cuộc đời Chí Phèo – một đứa trẻ bị bỏ rơi từ lúc mới lọt
lòng, được người làng chuyền tay nuôi. Năm hai mươi tuổi, Chí trở thành một anh
canh điền khoẻ mạnh, làm thuê cho nhà bá Kiến. Vì lòng ghen tuông vô lí của cụ bá,
Chí bị đẩy vào tù, bắt đầu những chuỗi ngày dài trên con đường tha hoá. Bảy năm
sau, hắn trở về, anh nông dân “hiền như đất” ngày nào bỗng thành tên lưu manh côn
đồ, uống rượu say khướt rồi rạch mặt chửi bới, ăn vạ. Và rồi, bằng những thủ đoạn
“khôn róc đời”, Bá Kiến tiếp tục đẩy Chí Phèo lấn sâu hơn trên con đường tha hóa,
trở thành “con quỷ dữ làng Vũ Đại”, gieo bao tội ác cho dân làng. Cuộc đời Chí cứ
triền miên trong một cơn say dài của men rượu và tội lỗi cho tới khi gặp được thị
Nở, được ăn cháo hành thị nấu, được thị chăm sóc và yêu thương bằng một thứ tình
thương bình thường nhưng không người dân làng Vũ Đại nào có được. Chí tỉnh
rượu, và tỉnh cả phần tâm thức từ lâu đã vùi lấp dưới hơi rượu. Chí khao khát trở về
17



một người đàn bà cho”. Từ khi lọt lòng, Chí không có cha mẹ chăm lo, không bao
18


giờ biết mặt người đã sinh ra mình, rồi Chí bị bán, bị đem cho, bị trao đổi như một
thứ hàng hoá. Suốt bao nhiêu tháng năm, Chí đâu đã một lần được yêu thương, quan
tâm săn sóc vô điều kiện như thế! “Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì.
Hắn vẫn phải doạ nạt hay là giật cướp. Hắn phải làm cho người ta sợ.” Những gì
trước giờ Chí “có”, thì ra đều là kết quả của đe doạ, đánh đấm, bạo lực, của mắng
chửi, quát nạt, của rượu say và cái trò rạch mặt ăn vạ - tuyệt nhiên không xuất hiện
tình yêu thương giữa người với người, dù chỉ một chút ít.
Ở lâu trong cô độc, sống lẻ loi giữa xã hội loài người, sự có mặt của thị Nở,
đối với Chí, giống như đốm lửa chợt bùng lên giữa đêm tối. Những gì thị mang đến
cho Chí, lớn hơn rất nhiều so với bát cháo hành nấu giản đơn – một thứ vật chất quá
đỗi bình thường. Nó là tình thương, tình yêu và tấm lòng nhân đạo cao cả! Thị có
thể mang hình hài của kẻ “xấu ma chê quỉ hờn”, mả hủi mấy đời, tính tình thì dở
hơi, nhưng trái tim thị vẫn đẹp đẽ và nguyên vẹn, lành lặn, đủ đầy thương yêu với kẻ
khác. Chính từ lòng yêu đó, thị đã quan tâm tới Chí, từ những suy nghĩ trăn trở (cái
thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm
còng queo một mình) cho tới hành động thiết thực (chạy đi tìm gạo, nấu cháo hành,
mang sang cho Chí, ngồi nhìn Chí ăn, giục hắn ăn nóng,…). Ngọn lửa tình người ấm
áp trong thị, cháy sáng và lan toả hơi ấm sang Chí, để ngay đến cả một “con quỷ dữ
làng Vũ Đại” cũng “thấy mắt hình như ươn ướt”, khao khát hoà nhập với cuộc sống
xung quanh. Niềm vui, hạnh phúc, lòng tin yêu kết thành giọt, đọng trên khoé mắt…
Những tưởng, từ đây, cuộc đời Chí sẽ trôi đi trong yên ả, bồng bềnh giữa hai
bờ yêu thương – lương thiện. Thế nhưng, định kiến xã hội đã không cho phép điều
ấy, nó cắt phăng sợi dây gắn kết Chí với thế giới, để cái ước mong giản dị và chính
đáng “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải…” của Chí mãi mãi tồn tại trong
mộng tưởng. Bà cô thị Nở - đại diện cho tư tưởng xã hội bấy giờ - ngăn cấm thị qua
lại với Chí, bà la lối, bà nhiếc móc thị: “đàn ông đã chết cả rồi hay sao mà lại đâm

chỉ vỏn vẹn năm ngày, sao mà nó ngắn ngủi đến thế? So sánh hành trạng thường
ngày của Chí với những giọt nước mắt bất lực kia, sao mà nó nhỏ bé, yếu ớt, đớn
đau đến thế? Nhưng chỉ cần năm ngày được sống ấy, chỉ cần những giọt nước mắt
nhỏ bé ấy đủ chuộc lại nhân tính, đủ tạo nên ý nghĩa sự sống cả một đời! Ngòi bút
Nam Cao quả thực đã đạt đến tài năng bậc thầy trong cách diễn tả tâm lí nhân vật.
Tiếng khóc “rưng rức” của Chí cũng là tiếng lòng thổn thức, tiếng nói của nỗi đau,
bi kịch số phận của một kiếp người đáng thương trong xã hội khi ấy.
Bên cạnh khả năng bộc lộ cảm xúc tâm lí nhân vật, hình ảnh giọt nước mắt
Chí Phèo còn góp phần phơi bày hiện thực xã hội bấy giờ. Ở đó, đồng tiền và cường
20


quyền nắm giữ tất cả, đẩy đưa bao nhiêu cảnh vô tội đi đến đường cùng tha hoá, rồi
chính nó lại phủ nhận người ta từ bờ mê trở về bến giác. Đồng thời, cũng qua chi tiết
nhỏ, bạn đọc thấy được cái nhìn nhân đạo của nhà văn. Với Nam Cao, nước mắt là
thấu kính biến hình của vũ trụ, là sự cứu chuộc cho nhân tính: Còn biết khóc nghĩa
là còn biết đau, biết xót, còn giữ được nhân tính trong mình. Một tâm hồn biến chất,
cằn cỗi, tưởng chừng đã thành “thú tính”, nhưng chỉ cần chất xúc tác mang tên tình
thương, tâm hồn ấy sẽ biết hướng thiện, biết khát thèm, hi vọng một ngày nào đó
mình lại được “nhận vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương
thiện”.
Như đã nói, trên trang viết của Nam Cao thường thấy xuất hiện hình ảnh giọt
nước mắt. Đó là lão Hạc (Lão Hạc) với khuôn mặt nhăn nhúm, méo mó, “cố ép cho
nước mắt chảy ra” khi cay đắng kể cho ông giáo nghe: “Hoá ra tôi đến bằng này tuổi
đầu, còn lừa một con chó”, là lời tự xỉ vả mình trong nước mắt đầm đìa của văn sĩ
Hộ (Đời thừa) : “Anh… anh… chỉ là… một thằng… khốn nạn!...”, là nước mắt âm
thầm của anh cu Chuột (Nghèo) trước khi tự kết liễu đời mình vì không muốn thêm
gánh nặng cho gia đình… Ở đâu, những giọt nước mắt ấy cũng hiển hiện như một
bằng chứng đầy đủ cho đói nghèo, khổ đau, những kiếp người cùng cực lúc bấy giờ.
Và ở đâu, ẩn sau giọt nước mắt cũng nhức nhối một trái tim nhân đạo thổn thức của




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status