ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Huyền
HÀ NỘI - 2011
5
1.1.1.1. Khái niệm vụán dân sự
51.1.1.2. Khái niệm quyền khởi kiện và khởi kiện vụ án dân sự
7
1.1.2.
Ýnghĩa của việc khởi kiện vụán dân sự
10
1.2.
Cơ sởcủa khởi kiện vụán dân sự
13
1.3.
Mối quan hê ̣giữa quyền khởi kiêṇ của công dân và trach
nhiêm bảo đảm quyền khởi kiêṇ của Tòa án và các cơ quan ,
tổ chức có liên quan
16
1.4.
Lươc sửhình thành vàphát triển của pháp luâṭtốtung dân
Kh¸i qu¸t về khởi kiêṇ vu ̣ viÖc dân sự theo pháp luâṭ tố t ụng
dân sự môṭ số nước
24
Chương 2: KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
29
DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1.
Điều kiện về nội dung khởi kiện vụ án dân sự
29
2.1.1.
Điều kiện về chủthể khởi kiện
29
2.1.2.
Điều kiện về thẩm quyền của tòa án
35
51
2.3.
Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự
57
2.4.
Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án và thủ tục nhận đơn khởi kiện
59
2.4.1.
Yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện
60
2.4.2.
Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự Chuyển
61
2.4.3.
đơn khởi kiện vụán dân sự
Cácgiải pháp khác
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
71
81
82
84
85
88
90
92
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
BLTTDS
: Bộ luật Tố tụng dân sự
PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủtục giải quyết các vụán dân sự
PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủtục giải quyết các vụán kinh tế
PLTTGQCTCLĐ
: Pháp lệnh thủtục giải quyết các tranh chấp lao động
động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ). Đây là văn bản pháp luật quy định đầy đủ và
có hệ thống các vấn đề về tố tụng dân sự (TTDS) như các nguyên tắc cơ bản
trong TTDS; quyền và nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; thẩm quyền của Tòa án nhân dân
(TAND); trình tự, thủ tục khởi kiện và thụ lý các vụ việc dân sự… Trong quá
trình triển khai, áp dụng BLTTDS, Tòa án các cấp đã có rất nhiều nỗ lực trong việc
áp dụng các quy định pháp luật nói chung và quy định về khởi kiện vụ án dân
sự (VADS) nói riêng. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết các VADS vẫn còn
gặp nhiều vướng mắc, bất cập và có nhiều ý kiến khác nhau trong việc thực hiện
các quy định này và chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích một cách đầy
đủ và thống nhất. Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002
của Bộ Chính trị " về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới"; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị "về
chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010
định hướng 2020" đều nhấn mạnh việc hoàn thiện pháp luật tố tụng, xác định rõ
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan tư
pháp, trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND, bảo
đảm các hoạt động tố tụng phải thực sự dân chủ, nghiêm minh, bảo đảm các
quyền cơ bản của công dân.
1
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lựa chọn đề tài "Khởi kiện
vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004" làm đề
tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Sau khi BLTTDS được ban hành đã có một số công trình nghiên cứu
khoa học pháp lý về vấn đề khởi kiện VADS nhưng các công trình này chỉ
nghiên cứu về các điều kiện khởi kiện trong mối quan hệ với vấn đề thụ lý
khác nhau của khởi kiện VADS như khái niệm VADS, khái niệm khởi kiện
VADS, điều kiện khởi kiện VADS, trình tự, thủ tục nhận đơn khởi kiện và
một số vấn đề khác có liên quan đến khởi kiện VADS. Trong khuôn khổ một
luận văn thạc sĩ luật học, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản
nhất về khởi kiện VADS như khái niệm khởi kiện VADS, ý nghĩa của khởi
kiện VADS, các quy định của BLTTDS về khởi kiện VADS, thực tiễn thực
hiện và phương hướng hoàn thiện pháp luật về khởi kiện VADS.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong qua trình đổi mới, xây dựng đất
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng Nhà
nước pháp quyền.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn,
dùng thực tiễn kiểm chứng lý luận. Các phương pháp nghiên cứu khoa học
chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng
hợp và phương pháp thống kê cũng được sử dụng để hoàn thành luận văn.
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân về
khởi kiện VADS để hoàn thành chương trình học tập và báo cáo tốt nghiệp
lớp Cao học Luật dân sự khóa XIV của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà
3
Nội, việc nghiên cứu đề tài còn có ý nghĩa đi sâu phân tích khái niệm, ý nghĩa
và cơ sở của khởi kiện VADS, điều kiện khởi kiện VADS, kết hợp với việc
nghiên cứu, so sánh pháp luật về khởi kiện VADS của một số nước trên thế
giới để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây dựng và
hoàn thiện pháp luật.
cầu khởi kiêṇ của cá nhân , cơ quan, tổ chức đáp ứng đầy đủ các điều kiện về
nội dung, về hình thức khởi kiện, tạm ứng án phí thì Tòa án thụ lý và vụ án
dân sự đươc hinh thành. Do đó, khi nghiên cứu, xem xét khái niêm khởi kiêṇ
̣̣̀
vụ án dân sự thì phải đặt trong mối liên hệ với khái niệm vụ án dân sự.
Trước khi BLTTDS ra đời, theo quy định của PLTTGQCVADS,
PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ tồn tại ba khái niệm VADS, vụ án
kinh tế, vụ án lao động. Theo đó vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp
đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có
đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công
ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt
động, giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái
phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Vụ án lao
động bao gồm các tranh chấp lao động giữa cá nhân giữa người lao động
5
và người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền
lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thực hiện hợp đồng lao
động và trong quá trình học nghề; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể
người lao động và người sử dụng lao động về thực hiện thoả ước lao động tập
thể; về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn. VADS bao gồm
những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân
gia đình như: Tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích
hoặc đã chết...
Năm 2004, BLTTDS ra đời, khái niệm VADS đã có sự thay đổi.
VADS bao gồm các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động (gọi chung là VADS) thuộc thẩm quyền giải
được làm một việc. Nghĩa vụ này phát sinh từ những quan hệ dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, được pháp luật bảo vệ. Yếu tố
tranh chấp được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu để xác định có là VADS hay
không. Và đây cũng chính là yếu tổ để phân biệt giữa VADS và việc dân sự.
"Trong vụ án dân sự ta có thể xác định được các bên là nguyên đơn (người có
đơn khởi kiện); bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong việc
dân sự vì không có tranh chấp nên chỉ xác định được bên yêu cầu còn bên kia
có thể xác định hoặc không xác định" [52, tr. 5]. Thời hiệu khởi kiện VADS là
2 năm trong khi thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là một năm và thời hạn
chuẩn bị xét xử VADS dài hơn thời hạn giải quyết việc dân sự. Do thủ tục giải
quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự có những khác nhau cơ bản nên
khi nhận đơn khởi kiện Toà án phải xác định ngay đó là VADS hay việc dân sự
để thụ lý giải quyết đúng thủ tục.
1.1.1.2. Khái niệm quyền khởi kiện và khởi kiện vụ án dân sự
Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng pháp
luật của nhà nước và được bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà
nước thiết lập. Theo đó, quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đã được pháp
luật ghi nhận và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
7
phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước quy
định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ở Việt Nam, Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Ở nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và
được quy định trong Hiến pháp và luật" [18]. Trong đó, quyền dân sự có ý
nghĩa rất quan trọng, cá nhân, tổ chức được thực hiện các hành vi theo quy
cầu bảo vệ. Việc khởi kiện được thực hiện bằng hình thức nộp đơn khởi kiện
tại Toà án có thẩm quyền. Về nguyên tắc chỉ có cá nhân, cơ quan, tổ chức
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có lợi ích bị xâm phạm mới có
quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của mình. Bên cạnh đó, để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong một số
trường hợp đặc biệt Điều 162 BLTTDS nước ta quy định:
Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ
trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ
án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và
gia đình quy định. Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có
quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định.
Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích
công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách [24].
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam các đương sự hoàn
toàn tự do lựa chọn các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình. Nhà nước
chính thức xác nhận quyền khởi kiện VADS của các cá nhân, cơ quan, tổ
chức yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật cũng
ghi nhận các chủ thể khác như Hội liên hiệp phụ nữ, tổ chức công đoàn... có
quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích của người khác. Viêc ̣
thưc hiêṇ quyền này của các chủ thể đươc goị là khởi kiêṇ vu ̣ án dân sự. Theo
nghĩa hẹp, khởi kiện được hiểu là việc nguyên đơn hoặc người đại diện của
9
nguyên đơn, cơ quan, tổ chức gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải
quyết VADS để bao vê q ̣ uyền, lơị ich hơp phap của minh, của người khác hay
bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước. Theo nghĩa rộng, khởi kiện
Khi kiờn vu an dõn s l hanh vi u tiờn cua ca nhõn , phap nhõn v
cac chu thờ khac tham gia vo quan hờ phap lut tụ tung dõn s , l c s phap
ly lm phat sinh quan hờ phap lut tụ tung dõn s . Khụng cú hoat ụng khi
kiờn thi cung khụng cú qua trinh tụ tung dõn s cho cac giai oan tip theo
Toa ch thu ly giai quyt vu an dõn s khi cú n khi kiờn cua cac chu thờ
.
ap ng u cac iu kiờn do phap lut quy nh. Khi ngi khi kiờn thc
hiờn quyn khi kiờn cua minh bng viờc np n khi kiờn cho To an cú thm
quyn, To an cú trach nhiờm nhn n, vo s theo dừi ờ xem xột giai quyt.
To se phai xem xột viờc khi kiờn cú ap ng u cac iu kiờn do phap lut
nh: T cach phap ly cua ngi khi kiờn; ngi khi kiờn cú nng lc hnh vi
TTDS, cú quyn v li ớch hp phap b xõm phm hay ang tranh chp khụng,
trong trng hp ngi i diờn khi kiờn thi phai tuõn thu cac quy nh v i
diờn; ni dung ng s yờu cu giai quyt cú thuc thm quyn giai quyt cua
Toa an minh khụng; n khi kiờn cú np trong thi hiờu khi kiờn khụng v
s viờc ó c giai quyt bng an, quyt nh ó cú hiờu lc cha... Khi viờc
khi kiờn ap ng c cac yờu cu thi To an tin hnh thu ly VADS. Trong
trng hp ngi khi kiờn phai np tin tm ng phớ thi To an se thụng bao ờ
h bit v i np tin tm ng an phớ. Sau khi nhn c biờn lai thu tin tm ng
an phớ do ng s np, To an se vo s
thu ly vu an ờ giai quyt. Nh vy, khi kiờn vu an dõn s l c s , tin
ờ Toa an nhõn danh nhnc giai quyt cac vu an dõn s . Cac phan quyt
cua Toa an buc cac ca nhõn , c quan, t chc cú liờn quan tụn trng v triờt
ờ thi hnh nờn viờc thc
hiờn quyn khi kiờn se bao am cho viờc bao vờ cú
tớnh cht cua mi loi tranh chp khac nhau . Vi mục thi gian chu thờ nụp
n khi kiờn , Toa an se cú cn c ờ xac nh viờc khi kiờn ú cú am bao
v thi hiờu khi kiờn hay khụng.
Viờc ghi nhn quyn khi kiờn yờu cu Toa an bao vờ quyn, li ớch
hp phap cua cac chu thờ v s bao am cua Nh nc trong viờc thc hiờn
quyn khi kiờn gúp phn nõng cao y thc phap lut cua ngi dõn. Thụng
qua cac quy nh cua phap lut v quyn khi kiờn v khi kiờn VADS se gúp phn
nõng cao y thc tuõn thu phap lut cua cac chu thờ tham gia quan hờ dõn s, hụn
nhõn gia inh, kinh doanh, thng mi, lao ng ng thi cú y nghia rn e,
ngn chn cac hnh vi xõm phm quyn li cua cac chu thờ, am bao s n nh
cua cac quan hờ xó hi.
12
1.2. Cơ sở của khởi kiện vụ án dân sự
QuyÒn vµ lîi Ých cña c¸c chñ thÓ lµ mét vÊn ®Ò quan träng, lµ ®éng
lùc ®Ó c¸c chñ thÓ tham gia vµo c¸c quan hÖ x· héi. Trong lĩnh vực dân sự, lợi
ích của các bên được xem như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự. "Tranh
chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu không có yêu cầu khởi kiện của các bên"
[65, tr. 70]. Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
là cơ sở để các chủ thể khởi kiện. Các quyền và lợi ích này có thể là các
quyền về tài sản hoặc nhân thân. Khởi kiêṇ vu ̣ an dân sự chinh là công cu ̣
pháp lý hữu hiệu để bảo vệ các quyền dân sự của công dân . Cơ sở để pháp
luâṭ quy điṇ h khởi kiêṇ vu ̣ an dân sự xuất phat từ nguyên tắc quyền dân sự
của công dân được tôn trọng và bảo vệ.
Ở Việt Nam, chương V Hiến pháp năm 1992 về quyền và nghia vụ cơ bản của
công dân đã quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người về chính trị , dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hôị đươc tôn
trọng, thể hiêṇ ở cac quyền công dân và đươc quy điṇ h trong Hi
việc ly hôn hoặc trong tr-ờng hợp đ-ơng sự là ng-ời từ đủ m-ời lăm tuổi đến
ch-a đủ m-ời tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc
giao dịch dân sự bằng tài sản của mình v.v... Đối với những tr-ờng hợp này,
ng-ời vợ từ đủ m-ời bảy tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổi, ng-ời từ đủ m-ời
lăm tuổi đến ch-a đủ m-ời tám tuổi vẫn đ-ợc coi là có năng lực hành vi tố
tụng dân sự về việc ly hôn, việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan
hệ dân sự đó.
Trong trng hp ny nu nguyờn n khụng muụn trc tip khi
kiờn thi h cú thờ uy quyn cho ngi khac khi kiờn thay. Viờc uy quyn phai
c thc hiờn bng vn ban, trong ú nờu rừ ni dung v thi hn uy quyn.
Tuy nhiờn, nguyờn n ch c uy quyn khi kiờn ụi vi cac tranh chp v ti
san. ụi vi ca nhõn khụng cú nng lc hnh vi TTDS, thi ngi khi kiờn se l
ngi i diờn theo phap lut. ú l, cha, me ụi vi con cha thnh niờn; ngi
giam h ụi vi ngi c giam h; ngi c To an ch nh ụi vi ngi
b hn ch nng lc hnh vi dõn s. ụi vi c quan, t chc thi ngi khi kiờn
phai l ngi i diờn theo phap lut cua c quan t chc ú. ú l, ngi
ng u phap nhõn theo quy nh cua iu lờ phap nhõn hoc quyt nh cua
c quan nh nc cú thm quyn; chu h gia inh ụi vi h gia inh; t trng
t hp tac ụi vi t hp tac.
Ngoi ra yờu cu, vu viờc c khi kiờn cha c giai quyt bng
mt ban an hay quyt nh cua Toa an hoc quyt nh cua c quan Nh nc cú
thm quyn ó cú hiờu lc phap lut, tr cac trng hp c biờt; viờc khi kiờn
cua cac chu thờ phai c thc hiờn ỳng thm quyn xột x v dõn s cua Toa
an; ụi vi mt sụ loi viờc trc khi khi kiờn, yờu cu Toa an giai quyt ngi
khi kiờn, yờu cu phai yờu cu cac c quan, liờn quan, xem xột, giai quyt
trc; thi hiờu khi kiờn, thi hiờu yờu cu con v tuõn thu cac yờu cu v
hinh thc khi kiờn.
15
tình, có trách nhiệm cho công dân khi họ đến liên hệ khởi kiện VADS. Bên cạnh
đó, trong thời hạn pháp luật quy định, thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ
sơ khởi kiện của công dân cần kiểm tra các điều kiện
16
khởi kiện, đối chiếu với quy định của pháp luật nếu thấy đáp ứng đầy đủ thì
phải hướng dẫn họ nộp tiền tạm ứng án phí và thụ lý vụ án ngay. Ngược lại,
nếu Tòa án không coi trọng quyền khởi kiện của công dân thì sẽ gây khó dễ cho
họ, khiến cho họ phải đi lại nhiều lần, tốn thời gian và chi phí đi lại cho việc
khởi kiện, và như vậy quyền khởi kiện không được đảm bảo trên thực tế.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo đảm cho cá nhân, tổ chức được
thực hiện quyền khởi kiện VADS yêu cầu Toà án bảo vệ khi quyền và lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm. Toà án có trách nhiệm xem xét thụ lý giải quyết hồ sơ khởi
kiện của công dân. Thụ lý VADS là một bước quan trọng trong quá trình Toà
án giải quyết các tranh chấp dân sự và chính là một sự bảo đảm quyền khởi
kiện của công dân trên thực tế. Sau khi thụ lý Toà án sẽ phải thực hiện các bước
để giải quyết vụ án đúng thời hạn, đúng pháp luật; các đương sự sẽ thực hiện
quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình. Thực hiện tốt hoạt động
nhận đơn khởi kiện và thụ lý sẽ góp phần rất lớn để việc giải quyết VADS được
nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật. Việc Toà án nhận trách nhiệm giải
quyết vụ án góp phần tạo niềm tin của quần chúng nhân dân vào tính nghiêm
minh của pháp luật.
Trong lĩnh vực dân sự, đương sự khi đưa ra yêu cầu, khởi kiện, bác bỏ
yêu cầu của người khác có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho
yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp hay bác bỏ yêu cầu của người
khác. Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Như vậy,
cung cấp tài liệu, chứng cứ khi đương sự có yêu cầu.
1.4. Lƣơcsƣ
̣ ƣ hình thành vàphát triển của pháp luâṭtốtung dân
sƣ ̣ Viêṭ Nam về khởi kiên vu ̣ án dân sƣ ̣
1.4.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong
lịch sử phát triển đất nước. Ngày 02/09/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam
18
dân chủ cộng hoà. Bản tuyên ngôn không chỉ khẳng định độc lập dân tộc cơ
bản của con người. Từ đó, bộ máy nhà nước cách mạng cũng được khẩn
trương xây dựng. Ngày 13/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số
33C/SL về việc thành lập các Toà án quân sự cơ quan xét xử của nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà, Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 quy định về tổ
chức các Toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà chỉ rõ ngoài các việc hình Toà án còn giải quyết các việc về dân sự và
thương sự (Điều 17). Do thời kỳ này đất nước mới thành lập tình hình thù
trong giặc ngoài rất nguy cấp nên mọi việc tập trung chủ yếu để trấn áp bọn
phản cách mạng bảo vệ sự an nguy của đất nước, chưa có điều kiện để soạn
thảo các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật về TTDS nói riêng
nên ngày 10 tháng 10 năm 1945 Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 47/SL cho
phép áp dụng luật lệ cũ để xét xử nhưng "không trái với nguyên tắc độc lập
của nước Việt Nam và chính thể cộng hoà" trong đó có Điều 11 quy định về thủ
tục tố tụng cho giữ tạm thời thủ tục tố tụng của chế độ cũ. Trong điều kiện đất
nước còn non trẻ, chưa thể ban hành tất cả văn bản điều chỉnh mọi lĩnh vực,
việc áp dụng luật lệ cũ là cần thiết với thời điểm lúc bấy giờ. Ngày 17/4/1946
Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 51-SL có quy định về việc kiện, khởi tố và thụ