1
NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TRIẾT HỌC THEO DÒNG CHẢY TỪ CỔ ĐẠI
ĐÊN HIỆN NAY
Lịch sử triết học với tư cách là dòng chảy liên tục từ thời cổ đại đến hiện
nay luôn là cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luận triết học của các trường phái triết
học khác nhau từ Đông sang Tây . Nó chỉ rõ tính chất đúng đắn, tiến bộ của thế
giới quan duy vật và tính chất hạn chế, sai lầm của thế giới quan duy tâm. Nghiên
cứu lịch sử triết học cho ta khả năng hiểu biết về sự phát sinh, hình thành và phát
triển tư tưởng triết học của nhân loại. Lúc nào, ở đâu có sự nghiên cứu trên bình
diện vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức thì lúc đó, ở đó việc nghiên cứu triết
học được bắt đầu.
Với tính cách là một khoa học, lịch sử triết học là sự phát triển của tư tưởng
triết học theo một dòng chảy liên tục qua các giai đoạn khác nhau của xã hội
không những giúp ta nắm được nhiệm vụ, đối tượng của triết học và vấn đề cơ
bản của nó. Mà còn, qua việc giải quyết hai mặt của vấn đề cơ bản như thế nào đã
cho ta chuẩn mực để phân biệt được thế nào là chủ nghĩa duy vật và thế nào là
chủ nghĩa duy tâm. Nó khẳng định, chỉ có triết học nào gắn liền mật thiết với đời
sống, với thực tiễn thì mới giúp con người tìm ra được chân lý khách quan, và
hơn thế nữa, giúp con người không những giải thích thế giới mà còn cải biến thế
giới phù hợp với qui luật, vì mục tiêu hạnh phúc của con người. Nghiên cứu lịch
sử triết học cho ta những kinh nghiệm của những nhận thức khoa học, sự hình
thành và phát triển của những phương pháp nhận thức khoa học, góp phần xây
dựng phương pháp tư duy đúng đắn. Lịch sử đã chứng minh rằng sự hình thành và
trong quá trình phát triển lâu dài của mình, chủ nghĩa duy vật cũng như phương
pháp tư duy biện chứng đã có nhiều đóng góp to lớn thúc đẩy xã hội phát triển.
Chủ nghĩa duy tâm với những hạn chế của mình đã kìm hãm sự phát triển của xã
hội.
Dưới ánh sáng của nhân sinh quan mácxít chúng ta đã hiểu sâu sắc quá trình
đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm chỉ là một hình thức đặc
biệt của sự giao lưu các hệ tư tưởng triết học trong toàn bộ lịch sử của nó. Trong
Mác- Lênin, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng cũng như các bộ môn
khoa học khác chúng ta không thể không nghiên cứu lịch sử triết học. Bằng
những sự kiện lịch sử và phân tích khoa học, lịch sử triết học đã trang bị cho
chúng ta vũ khí tư tưởng đấu tranh chống lại việc đánh giá vô căn cứ về các nhà
triết học tiến bộ, nhằm hạ thấp vai trò của họ, cũng như tâng bốc một số nhà triết
học phản tiến bộ về mặt lịch sử, chống lại quan điểm sai lầm cho rằng, lịch sử
phát triển của triết học là có giới hạn, một lúc nào đó nó sẽ đạt tới tuyệt đỉnh,
ngoài ra không cần đến thứ triết học nào nữa. Mặt khác nó còn giúp ta thấy rõ
được sự xuất hiện của triết học Mácxít là một tất yếu lịch sử, phù hợp với lôgic
khách quan của sự phát triển tư tưởng nhân loại; thấy rõ tính chất khoa học cách
mạng của nó; việc mở rộng và phát triển triết học mácxít trong điều kiện mới của
thời đại cũng là một tất yếu lịch sử.
3
NỘI DUNG
Thế giới quanh ta có vô vàn sự vật hiện tượng phong phú, đa dạng và có thể
chia thành hai nhóm hiện tượng khác nhau đó là các hiện tượng vật chất và các
hiện tượng tinh thần. Theo quan niệm mácxít triết học là một hình thái ý thức xã
hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, về
thái độ của con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất
của tự nhiên, xã hội và tư duy. nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
(tinh thần). Đó là mối quan hệ chung nhất làm cơ sở cho các mối quan hệ khác
của triết học. Vì thế mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết
học, nó làm cơ sở cho việc phân biệt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
trong triết học, vấn đề cơ bản của triết học bao gồm hai mặt:
Mặt thứ nhất, trả lời cho câu hỏi: Ý thức hay vật chất, tinh thần hay tự nhiên
có trước, cái nào quyết định cái nào? Khi giải đáp câu hỏi đã đặt ra, các học
thuyết triết học đã chia thành hai trào lưu cơ bản là chủ nghĩa duy vật (đại diện
hay không?
Các nhà triết học duy vật khẳng định khả năng con người có thể nhận thức
được thế giới. Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận là thế giới có thể
nhận thức được, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ là tự nhận thức, tự ý thức về bản
thân ý thức. Một bộ phận các nhà triết học duy tâm đã bác bỏ về nguyên tắc con
người có khả năng nhận thức được thế giới.
Vì bất kỳ một học thuyết, một hệ thống triết học nào cũng đều phải giải
quyết vấn đề cơ bản của triết học. Căn cứ vào cách giải quyết vấn đề cơ bản này
mà các nhà triết học được chia thành hai phái: duy tâm và duy vật và tất cả các
vấn đề có liên quan khác của triết học đều được giải quyết theo lập trường duy
tâm hay duy vật đó.
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng triết học các trường phái
triết học còn phải trả lời cho các câu hỏi: Thế giới là bất động, đứng im hay vận
động phát triển không ngừng? Các sự vật, hiện tượng của thế giới ở trạng thái cô
lập, tách rời nhau hay là có liên hệ với nhau, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn
nhau? Giải đáp những câu hỏi đó có hai quan điểm, hai cách xem xét nhìn nhận
trái ngược nhau. Đó là phép biện chứng và phép siêu hình.
Phép biện chứng cho rằng các sự vật, hiện tượng có quan hệ qua lại với
nhau, không ngừng vận động và phát triển. Còn phép siêu hình cho rằng mọi sự
vật và hiện tượng của thế giới tồn tại cô lập nhau, tách rời và chúng luôn ở trạng
thái tĩnh, không vận động, không chuyển hoá và không phát triển v.v.
Trên quan điểm của phép biện chứng khoa học chúng ta sẽ nghiên cứu các
nét chính của lịch sử tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây theo dòng
chảy liên tục từ thời kỳ từ cổ đại cho đến ngày nay. Bản thân nó đã mang cả
những yếu tố tích cực và những mặt còn hạn chế.
5
Lịch sử triết học là một khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu lịch sử tư duy
không ngừng có cả sự phủ nhận đối lập nhau và cả sự kế thừa và phát triển. Nó
diễn ra liên tục suốt từ thời kỳ cổ đại, trung đại cận đại và đến nay. Mỗi thời kỳ, ở
tại một quốc gia từ phương Đông đến phương Tây đều mang các sắc thái khác
nhau và đặc trưng cho một đất nước, hay một trường phái, tôn giáo… nhưng có sự
6
“giao lưu” trong việc giải thích thế giới và nhận biết, cải tạo thế giới. Sự đối lập
giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học thực chất là vấn đề cơ
bản của thế giới quan. Cụ thể là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, vật chất và ý
thức.
Chính từ những vấn đề cơ bản này của triết học giữa quan điểm duy vật và
duy tâm luôn có xu hướng mâu thuẫn với nhau và đấu tranh nhau gắn liền với sự
phát triển của lịch sử thế giới nói chung và trong suốt các thời kỳ phát triển của
nền triết học thế giới nói riêng, tạo ra một “dòng chảy liên tục ” của cuộc đấu
tranh không ngừng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Mà đại biểu
tiêu biểu cho các trường phái triết học đó là những nhà triết gia nổi tiếng. Họ cũng
đấu tranh với nhau không ngừng dưới nhiều hình thức để chứng minh khả năng
nhận thức và giải thích thế giới của mình. Tất cả họ đã đưa các luồng tư tưởng
triết học trên thế giới tạo thành một dòng chảy liên tục của cuộc đấu tranh giữa
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là nguyên nhân để dẫn đến kết quả của sự
ra đời triết học Mác, một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học thế giớimột hệ tư tưởng triết học đúng đắn và tiến tiến nhất. Hệ tư tưởng triết học này đã
được Lênin bảo vệ và phát triển.
Nói triết học Mác ra đời là “bước ngoặt” có ý nghĩa “cách mạng” và có sự
kế thừa phát triển những tư tưởng tích cực của các trường phái triết học trước đó
là bởi lẽ thông qua các cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng triết học khác nhau
theo trường phái chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm , thấy rõ được tính tích
cực, hạn chế của cả triết học duy vật nửa vời hay duy vật lịch sử, siêu hình, hay
duy tâm chủ quan hoặc duy tâm khách quan, trong việc giải thích thế giới, con
riêng, đó là :
Hệ thống triết học mới xuất hiện thường dựa vào một hệ thống triết học đã
có từ thời cổ, sự phát triển sau đó chỉ là phát triển, hoàn thiện, tăng cường các
chứng cứ ban đầu hơn là tìm các sai lầm của nó. Do những điều kiện lịch sử đặc
biệt của mình triết học Ấn Độ cổ đại đã mang một hình thái đặc thù là triết lý ẩn
dấu sau những lễ nghi huyền bí tôn giáo, chủ nghĩa duy vật lại cần đến cái vỏ duy
tâm và chân lý biểu hiện qua thánh ca của tôn giáo. Tuy vậy, sức mạnh của tư duy
trừu tượng cao vẫn bộc lộ qua cuộc đấu tranh giữa hai luồng tư tưởng triết học
duy vật và duy tâm, giữa biện chứng và siêu hình. Các trường phái triết học, tôn
giáo vừa đấu tranh với nhau lại vừa kế thừa tư tưởng của nhau tạo nên những khái
niệm triết học, tôn giáo có tính truyền thống và hết sức phong phú. Cuộc đấu
tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đề cập đến hầu hết các lĩnh
vực khác nhau của triết học gồm có vấn đề khởi nguyên thế giới, từ bản thể luận
đến nhận thức luận, từ tâm lý, đạo đức, đến quan điểm về chính trị, xã hội, pháp
luật…dù những hình thức muôn màu, muôn vẻ, nhưng hầu như các trường phái
triết học đều tập trung vào lý giải về căn nguyên của vũ trụ, vạn vật, chú ý đến
bản chất đời sống tâm linh và sự tương ứng, tương đồng giữa nội tâm và ngoại
giới, tìm ra căn nguyên nỗi khổ của cuộc đời, vạch ra cách thức, con đường để
giải thoát con người khỏi những nỗi khổ ấy bằng nhận thức trực giác và “ thực
8
nghiệm tâm linh”. Vì thế , tư tưởng triết học Ấn Độ gắn liền với tôn giáo. Do vậy
mà cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thực chất là
cuộc đấu tranh giữa các trường phái tôn giáo với nhau. Theo cách phân chia
truyền thống người ta nói đến chín hệ thống triết học Ấn Độ cổ đại. Trong đó gồm
sáu hệ thống triết học chính thống (Astika) thừa nhận uy thế tối cao của kinh
Véda và đạo Bàlamôn gồm: Samkhya, Nyaya, Vaisesika, Yoga, Mimansa,
Veđanta. Và ba hệ thống triết học “không chính thống ” (Nastika) không thừa
9
thần thế giới” Brahman hay ý thức thuần tuý. Nó trở thành cơ sở lý luận cho đạo
Hindu.
Triết học duy vật quan niệm thế giới vật chất, gồm cả con người, do các
nguyên tố vật chất sinh ra đó là nước-đất-lửa-không khí. Những yếu tố này có khả
năng tồn tại, tự vận động trong không gian để tạo thành vạn vật. Phái Pakudha
giải thích căn nguyên của vạn vật, vũ trụ bằng bẩy nguyên tố phân trong không
gian mà thành như: đất, nước, lửa, gió, khổ, vui và linh hồn. Chúng được chia
thành hai phần, phần hình là: đất, nước, lửa, gió và phần vô hình là: khổ vui và
linh hồn.
Về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác: Triết học duy tâm coi linh hồn
của con người là một bộ phận của tinh thần thế giới “Brahman”, tồn tại vĩnh viễn
theo luật luân hồi. Siêu thoát chính là mục đích của linh hồn là điều kiện để linh
hồn trở về với “tinh thần thế giới”.
Còn triết học duy vật giải quyết mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác là coi
linh hồn chỉ là một thuộc tính của cơ thể, không thể tách rời, không thể độc lập
với cơ thể con người. Con người chết đi, thể xác tan rã thì ý thức cũng mất đi.
Tiêu biểu của chín trường phái triết học Ấn Độ cổ đại chính thống và không
chính thống kể trên, ta đi sâu nghiên cứu một số trường phái tiêu biểu cho chủ
nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật của triết học Ấn Độ cổ đại lúc đó là Triết học
Vêđa, Lokayata, Phật giáo. Để làm rõ những yếu tố tích cực và các mặt còn hạn
chế của nó.
Triết học Vêđa là những bộ kinh cổ nhất của Ấn Độ và cũng là của nhân
loại. Thực chất là những vần thơ truyền miệng từ đời nọ sang đời kia, ca ngợi thần
linh cao siêu và một tinh thần triết lý thuần tuý đồng thời còn là những lời cầu
nguyện những tập tục nghi lễ của người dân du mục Arya sống dọc theo sông Ấn,
sông Hằng và dãy Hymalaya. đến ngày nay kinh Vêđa gồm có 4 tập: Rig-vêđa;
Sama-vêđa; Yajur-vêđa; và Atharva-vêđa. Sau này chúng được chia thành các
trường phái triết học chính thống bằng những tác phẩm lớn như: Brahamana: gồm
đối, duy nhất Brahman .
Về nhận thức của con người, thì Véđa cho rằng nhận thức được phân chia
thành hai trình độ khác nhau là hạ trí và thượng trí. Hạ trí có vai trò quan trọng
đối với nhận thức, là phương tiện cần thiết đưa người ta tới hiểu biết thượng trí.
Còn thượng trí là trình độ nhận thức vượt qua tất cả thế giới hiện tượng hữu hình,
hữu hạn thường xuyên biến đổi, duy nhất, bất diệt.
Phái Lokayata: khác với triết học Véda tư tưởng triết học của phái
Lokayata phát triển trong suốt nhiều thế kỷ và những người theo phái này đã luôn
chống lại những tư tưởng duy tâm, tôn giáo trong nhiều thời kỳ khác nhau.
Về sự khởi nguyên của thế giới, thì trong học thuyết về tồn tại, phái
Lokayata cho rằng : tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều do bốn nguyên
tố đất, nước, lửa và không khí cấu thành (Trong một số văn bản khác người ta
thấy thêm yếu tố thu năm là ête). Bốn nguyên tố này có khả năng tự tồn tại, tự
hoạt động trong không gian để tạo thành vạn vật, kể cả con người. Tương ứng với
bốn nguyên tố là những nguyên tử đất, nước, lửa, không khí tồn tại ngay từ đầu,
11
không thay đổi, không bị tiêu diệt. Mọi đặc tính của các vật thể đều phụ thuộc vào
chỗ chúng là sự kết hợp của những nguyên tử nào và phụ thuộc vào số lượng, tỷ
lệ của sự kết hợp các nguyên tử. Phái Lokayata giải quyết mối quan hệ giữa ý
thức và vật chất một cách duy vật mộc mạc. Họ hiểu ý thức là thuộc tính cố hữu
của cơ thể. Rời khỏi nhục thể thì người ta không thể có ý thức.
Về nhận thức luận và logic học, thì trường phái Lokayata mang tính chất
cảm giác chủ nghĩa thừa nhận cảm giác là nguồn gốc duy nhất xác thực nhất của
nhận thức. Các giác quan có thể tri giác được các sự vật bởi vì bản thân các giác
quan cũng gồm những nguyên tố giống như các sự vật.
Về đạo đức học, phái Lokayata kịch liệt phê phán những học thuyết tuyên
truyền cho sự chấm dứt đau khổ bằng cách kìm chế mọi ham muốn dục vọng và
Về con người, cũng do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai thành
phần : thể xác và tinh thần. Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan của
ngũ uẩn. Còn con người thì được cấu thành bởi các yếu tố hỗn hợp, vật chất “sắc”
và tinh thần “danh”. Danh và sắc được chia thành 5 yếu tố “ngũ uẩn”.
Cái tôi sinh lý, tức thể xác gọi là “sắc”(rupa) gồm : địa, thuỷ, hoả, phong, tức là
cái có thể cảm giác được. “Tứ diệu đế” là bốn chân lý (satya) chắc chắn, hiển
nhiên, hoàn toàn cao hơn hết, gồm :
+Khổ đế (Dukkha) : theo đạo phật thực tại nhân sinh là khổ ải, ngoài nỗi
khổ do sinh, lão, bệnh, tử, gây nên con người ta còn khổ vì không ưa mà hợp là
khổ, ưa mà phải lìa là khổ, mong không được cũng khổ, được cũng khổ mà mất
cũng khổ. đời là bể khổ.
+Tập đế (Samarudays) : tập là tụ hợp, kết tập lại. Giải thích các nguyên
nhân đã tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh của thuyết “ Thập nhi nhân duyên” là Vô
minh (không sáng suốt), duyên hành (tâm từ trong sạch, cân bằng trở lên ô nhiễm
mất cân bằng), duyên danh-sắc (sự hội tụ các yếu tố vật chất, tinh thấninh ra thân
sác con người và các cơ quan cảm giác), duyên lục nhập (là quá trình tiếp xúc
giữa lục căn với thế giới xung quanh), duyên xúc (sự tiếp xúc, phối hợp giữa lục
căn, lục trần và thức.), duyên thụ (do tiếp xúc mà tạo ra yêu, nghét, vui, buồn.),
duyên ái (yêu thích, nảy sinh ham muốn, dục vọng.), duyên thủ (đã yêu thích rồi
thì muốn chiếm lấy, giữ lấy.), duyên hữu (hành động tạo nghiệp), duyên sinh (đã
có duyên hữu thì ắt có nghiệp quả, tức là phải sinh ra ta.), duyên lão-tử (đã có sinh
thì ắt có già đi và chết.) và do con người ta có lòng tham, sân, si. Con người
muốn còn mãi nhưng thực tại cứ biến dịch và thay đổi, muốn trường tồn nhưng
thực tại luôn biến hóa trong vòng sinh, già, bệnh, chết, không có cái gì thực là ta,
của ta, nhưng vì lòng tham dục mà luôn lầm tưởng là có ta, của ta. Bởi vậy, đã tạo
nên con người những nỗi khổ triền miên trong cuộc đời.
+Diệt đế (Nirodha) là lần theo thập nhị nhân duyên, tìm ra cội nguồn của
nỗi khổ và ái dục, dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc mọi hình thức đau khổ, đưa chúng
sinh thoát khỏi chướng nghiệp luân hồi.
+Đạo đế (Marga) : Là con đường phải theo để diệt khổ. Con đường đó là
phần lớn bắt nguồn từ Véda. Ngay từ đầu cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm trong hệ thống tư tưởng triết học ấn độ cổ đại đã diễn ra
không kém phần gay gắt giữa thế giới quan duy tâm, tôn giáo với tư tưởng duy
vật, vô thần, giữa những quan điểm mang tính chất đa nguyên với những quan
điểm có tính chất nhất nguyên, giữa phương pháp tu luyện và địa bàn hoạt động,
càng về sau tính phong phú đa dạng càng biểu hiện rõ nét. Nó được thể hiện qua
các trường phái triết học, tôn giáo vừa đấu tranh với nhau lại vừa thừa kế thừa tư
tưởng của nhau tạo nên những khái niệm triết học, tôn giáo có tính truyền thống
và hết sức phong phú. Các luận thuyết chỉ dựa vào tiền bối phát triển , chú giải, lý
giải, không tạo ra tư tưởng triết học mới. Vì vậy nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết
học Ấn Độ cổ đại không chỉ để tìm hiểu những nét tinh túy, độc đáo của tri thức
14
đa dạng và phong phú về tự nhiên và về con người Ấn Độ, mà cái chủ yếu là để
mài sắc tư duy, làm giàu trí tuệ của mình bằng tri thức của nhân loại đã tạo ra,
thực hiện chân lý “biết người để biết mình”, “tri cố nhi tri tân”.
Hầu hết các hệ thống triết học Ấn Độ cổ đại đều tập trung giải quyết vấn đề
nhân bản. Trong nhân sinh quan của triết học thường xoay quanh vấn đề giải thoát
hay siêu thoát khỏi vòng luân hồi (vòng tử không dừng).
Tính đan xen khó tách biệt giữa triết học và tôn giáo cũng là một đặc điểm
của triết học Ấn Độ cổ đại.
Triết học Ấn Độ cổ đại tập trung lý giải căn nguyên của thế giới, bản chất
của đời sống tâm linh, quan hệ giữa nội tâm và ngoại giới. Tìm căn nguyên của
nỗi khổ con người đồng thời tìm con đường và cách thức để giải thoát nỗi khổ. Đó
chính là triết học gắn liền với đời sống, triết lý đạo đức nhân sinh gắn liền với tôn
giáo nên những tư tưởng triết học tôn giáo trong Véda, Upanishad, Phật giáo v.v.
đã có từ mấy ngàn năm trước đây đã trở thành di sản văn hoá quí báu của văn hoá
thế giới nói chung, tư tưởng triết học nói riêng. Ngày nay vẫn còn truyền tụng sâu
thuật ở Trung Quốc ở thời kỳ cổ đại và được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn
Thương - Chu và giai đoạn Xuân thu - Chiến quốc.
Dưới triều đại Thương-Chu, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa
duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc. Tư tưởng
triết học thời kỳ này gắn chặt với thần quyền và thế quyền, nó lý giải sự liên hệ
hữu cơ giữa lĩnh vực đời sống chính trị - xã hội và lĩnh vực đạo đức luân lý. Từ
trong đời sống hiện thực đã xuất hiện những quan điểm có tính chất duy vật mộc
mạc và những tư tưởng vô thần tiến bộ chống lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí thống
trị đương thời, mở đường cho sự phát triển tiếp theo.
Sự phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc cổ đại là thời kỳ Xuân thu
Chiến quốc. Điều kiện lịch sử, xã hội trong thời kỳ này đã làm nẩy sinh một loạt
các trường phái triết học đa dạng như Nho gia, Mặc gia, Lão gia, Danh gia, Âm
dương gia, Pháp gia... Các trường phái triết học đó đã đấu tranh quyết liệt với
nhau và tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc
cổ đại. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm diễn ra xung
quanh các vấn đề khởi nguyên của thế thới, vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề
con người, vấn đề đạo đức, vấn đề tri thức, vấn đề biến dịch v.v.
Đặc điểm lớn nhất về tư tưởng triết học Trung Quốc thời kỳ này là nó chịu
sự chi phối trực tiếp của những vấn đề chính trị. Nhiều học giả cho rằng đây cũng
là nét chi phối phổ biến đối với triết học Trung hoa thời Trung đại. Sự chi phối đó
khiến cho các tư tưởng gia Trung hoa cổ đại đã đặc biệt quan tâm suy tư, tìm cách
lý giải và tìm ra những triết lý, những biện pháp nhằm khắc phục hiện trạng xã
hội biến động đương thời. Đó là lý do cắt nghĩa tại sao hầu hết các học phái Trung
hoa cổ đại đều bàn về những vấn đề chính trị, đạo đức. Ngay trong cả những học
phái với chủ trương “vô vi”, xa lánh thời cuộc như học phái về Đạo của Lão tử,
Trang tử cũng không thể bỏ qua việc luận về đạo trị quốc. Học thuyết Âm–Dương
vốn là học thuyết chủ trương luận về sự biến dịch của vũ trụ cũng được sử dụng
để lý giải những vấn đề về chính trị, đạo đức của xã hội, về đạo xử thế của con
người. Đặc biệt, thời Xuân thu- Chiến quốc đã làm nảy sinh những học thuyết mà
xã hội như trong phúc có họa, trong hoạ có phúc... Trình tự lô gíc của phái Âm
Dương được giải thích Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ
tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh vạn vật. Đây là học thuyết có ảnh hưởng
lớn và sâu sắc tới nội dung của nhiều học thuyết chính trị triết học đương thời,
nhất là Nho giáo và Đạo giáo (gia) đã giữ vai trò lớn trong sự phát triển của lịch
sử triết học. Những đặc điểm về tư tưởng triết học Trung quốc cổ đại nói trên chỉ
là những đặc điểm lớn. Việc nắm vững những đặc điểm này, một mặt cho phép
17
định hướng phân tích các hệ thống triết học như Nho gia, Đạo gia, Pháp gia, Mặc
gia, Danh gia, Âm dương gia…
Nói chung đặc điểm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa duy tâm của triết học Trung hoa thời kỳ này chủ yếu là xung quanh các vấn
đề khởi nguyên của thế giới, vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề con người, vấn đề
đạo đức và vấn đề về tri thức.
Về vấn đề khởi nguyên của thế giới: Đây là vấn đề mà rất nhiều trường
phái triết học Trung hoa rất quan tâm và tìm mọi cách để lý giải. Những người
theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng thế giới bên ngoài là do trời, do thượng đế sáng
tạo. Con người cũng do trời sinh ra và số phận của nó do trời qui định. Những nhà
duy vật theo thuyết Ngũ hành là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ thì cho rằng vạn vật
trong thế giới tự do “ngũ hành” tương sinh, tương khắc mà tạo nên. Còn những
người theo thuyết “âm dương” thì quan niệm âm dương giao cảm với nhau tạo
nên trời đất vạn vật.
Vấn đề cơ bản của triết học thể hiện qua việc giải quyết vấn đề về mối quan
hệ giữa các cặp phạm trù : “hình” và “thân”, “tâm” và “vật”, “lý” và “khí”.
Những nhà duy tâm thì cho rằng “thần” có trước “hình”, “tâm” có trước “vật”,
“lý” có trước “ khí”; “hình” phụ thuộc “thần”, “vật” phụ thuộc “tâm”, “khí” phụ
thuộc “lý”.
loạn của con người. Cái đáng sợ không phải là “mệnh trời” mà là “nhân hoa”. Tuy
nhiên, do sự khó khăn trong việc giải thích vấn đề số kiếp con người, cho nên
quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về vấn đề đó vẫn là quan điểm thắng thế trong
lịch sử triết học Trung hoa cổ đại.
Về vấn đề tri thức: Đây là vấn đề được xem là nổi bật nhất trong triết học
Trung hoa cổ đại. Nội dung của vấn đề này là các nhà triết học muốn bàn đến khả
năng nhận thức của các hạng người trong xã hội; thánh nhân và phàm nhân, kẻ
thượng trí và người hạ ngu. Các nhà duy tâm mà tiêu biểu là Khổng Tử thì cho
rằng bậc thánh nhân hay thượng trí thì sinh ra đã hiểu biết , còn người phàm nhân
và kẻ hạ ngu (nhân dân lao động) thì dù có học thì cũng không thể biết được.
Quan niệm đó phục vụ cho chính sách ngu dân thần bí của giai cấp thống trị.
Các nhà duy vật thì luôn quan niệm rằng ai cũng phải học thì mới biết được,
do đó mọi người dù thánh nhân hay phàm nhân, thượng trí, hạ ngu đều phải học.
Đến đây ta có thể thấy điểm hạn chế chung của triết học Trung hoa cổ đại
kể cả duy tâm và duy vật đều không lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu,
vì vậy tri thức luận của họ không trở thành công cụ đắc lực khám phá cải tạo tự
nhiên.
Vấn đề đạo đức: Đây là một trong những vấn đề chiếm vị trí trung tâm
trong triết học Trung hoa cổ đại. Những phạm trù đạo đức như “lễ”, “nghĩa”,
“nhân” được các nhà triết học đặc biệt chú ý. “Lễ” đóng vai trò quan trọng trong
đời sống đạo đức và đời sống chính trị, vì “lễ” trong quan niệm của Khổng tử vừa
là nghi lễ, tế lễ, vừa là thể chế chính trị và qui phạm đạo đức. Đặc biệt những qui
định về đạo đức về “lễ” trong xã hội Trung hoa hết sức khắc nghiệt và phiền tạp.
19
Các nhà duy vật đã cố gắng làm giảm nhẹ tính chất khắc nghiệt và phiền tạp
đó, nhân dân cũng nổi lên chống lại “lễ” nhưng do tính chất bảo thủ của chế độ
phong kiến Trung hoa nên vai trò của “lễ“ vấn thống trị trong xã hội Trung hoa
thời, ông thừa nhận sự vật hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn tự vận động biến
20
hoá không phụ thuộc vào mệnh lệnh của trời. Đó là yếu tố duy vật chất phác và tư
tưởng biện chứng tự phát-một bước tiến so với quan điểm duy tâm, thần bí, tôn
giáo phổ biến thời Thương, Chu. Nhưmg mặt khác, ông lại cho rằng , Trời có ý
chí và có thể phân phối vận mệnh của con người, đó là một bước lùi trong tư
tưởng triết học của ông.
Về vấn đề con người, thì đạo của ông là đạo quan tâm đến con người nhiều
hơn cả nhất là vấn đề đào tạo con người. Ông cho rằng bản chất con người là sinh
vật bởi vậy phải chú ý đến mặt lễ nghĩa của con người. Con người có mặt thiện và
ác và phải tuân theo ý Trời. Quan hệ phải phù hợp trong xã hội phải đúng với
“ngũ luân”. Đó là “Phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt,
trưởng tử hữu tự, bằng hữu thì hữu tín”. Chết đói là việc nhỏ, thất lễ là việc lớn.
Về quan điểm giáo dục, thì ông cho rằng để đất nước có thái bình thịnh trị
cần phải coi trọng cải cách giáo dục và pháp luật. Nhưng giáo dục bằng cái gốc
lâu bền, giáo dục sẽ đào tạo ra những con người có nhân, lễ, trí, dũng. Còn hình
luật chỉ là cái ngọn. Dùng hình luật chỉ là tạm thời để giáo huấn con người. Xuất
phát từ quan niệm đó Khổng Tử đã dành nhiều tâm huyết vào đặt nền móng cho
nền giáo dục lý tưởng của ông. Nền giáo dục theo ông phải tuân theo những
nguyên tắc cơ bản sau : “đại học chi đạo”, “tại minh minh đức”, “tại thần dân”,
“tại tri cơ tri thiện”, để cuối cùng đạt được mục đích của sự học cũng như của
giáo dục đó là “thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Về quan hệ xã hội, theo ông xã hội phải có “lễ”. “Lễ” là quan niệm quan
trọng nhất của ông là “tiên học lễ, hậu học văn”. “Lễ” là cơ sở của tư duy và hành
động con người: không có “lễ” là không có kỷ cương và pháp luật. Nếu phi “lễ”
thì vật thị (người không có lễ thì không nhìn), nếu phi lẽ thì vật thính (không có lễ
thì không nghe), nếu phi “lễ” thì vật ngôn (không có lễ thì không nói), nếu phi
Với học thuyết về chính danh, nhân, lễ, người quân tử của ông nhằm tới đích cuối
cùng là phục vụ đường lối chính trị “đức trị”, “lễ trị” và “nhân trị”. Chủ trương
nhân trị đã phản ánh đúng tư tưởng triết học nhân bản của ông : tin tưởng vào bản
chất tính thiện nơi con người. Chính vì vậy Khổng Tử phản đối việc dùng pháp
trị, ông cho rằng nếu dùng luật pháp mà trị dân tuy người dân không dám phạm
tội chỉ vì họ sợ chứ không phải họ biết xấu hổ mà không phạm tội. Nếu dùng đức
và lễ mà trị dân người dân biết tự giác, biết tự xấu hổ mà tuân theo. Do xuất phát
từ lập trường chính trị bảo thủ được xây dựng trên cơ sở lý luận duy tâm đó mà
ông không phản ánh được xu thế tất yếu khách quan của xã hội Trung quốc cuối
thời Xuân–Thu là xóa bỏ chế độ thị tộc nhà Chu, xác lập chế độ phong kiến, cho
nên học thuyết chính trị của ông cuối cùng không tránh khỏi thất bại. Nhìn chung,
toàn bộ học thuyết của Khổng Tử tuy có chứa đựng yếu tố tích cực, nhưng suy
cho cùng còn có những mặt hạn chế là bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về triết
học.
Trong học thuyết của Khổng tử các phạm trù “nhân”, “lễ”, “trí”, “dũng”,
“chính danh định phận”, có nội dung hết sức phong phú, thống nhất với nhau và
luôn đi vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội, nó luôn cố gắng giải đáp các vấn đề đặt
ra của lịch sử, đây là thành quả kết tinh rực rỡ nhất trong triết lý nhân sinh của
22
ông và ông xứng đáng được nhân dân Trung Quốc suy tôn là “Vạn tuế sư biểu”.
Tuy vậy ở ông do điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp nên học thuyết triết học của
ông còn chứa đựng mâu thuẫn, vừa có duy vật lại mang tính duy tâm. Ông bảo vệ
lợi ích của giai cấp thống trị, phủ nhận đấu tranh giai cấp. Ông bộc lộ quan điểm
bảo thủ.
Trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, các Nho gia chủ trương “nhân trị” nên
tất cả đều phản đối cách trị nước bằng pháp luật. Tư tưởng về pháp trị được phát
triển đến đỉnh cao bởi nhà tư tưởng và nhà chính trị lỗi lạc Hàn Phi.
cày ruộng, đánh giá và chỉnh đốn luật pháp với quan điểm “ Đời khác thì việc
khác, việc khác thì pháp độ phải khác”.
Về vấn đề cơ bản của triết học, kế thừa và phát huy quan điểm duy vật về tự
nhiên của Lão tử và Tuân tử, Hàn Phi Tử đã giải thích sự phát sinh và phát triển
của vạn vật theo tính qui luật khách quan. Ông cho rằng, mỗi sự vật đều tự có cái
“lý” của nó. Trong đó “Đạo” là qui luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn tồn
tại và không thay đổi. Không những thế trên quan điểm duy vật, ông thừa nhận
rằng tự nhiên không có ý chí, ý muốn chủ quan của con người cũng không thể sửa
đổi được qui luật của tự nhiên; vận mệnh con người là do con người tự quyết
định. Với tư tưởng ấy ông đã kịch liệt phê phán những học thuyết thần bí tôn giáo
đương thời và ông được coi là nhà vô thần luận nổi tiếng của Trung quốc cổ đại.
Về lịch sử , thì ông cho rằng , lịch sử xã hội loài người luôn luôn biến đổi,
từ trước đến nay không có chế độ xã hội nào vĩnh viễn tồn tại và động lực căn bản
quyết định sự biến đổi của lịch sử là do sự thay đổi dân số và của cải xã hội nhiều
ít. Như vậy ở ông đã xem lợi ích của vật chất như là cơ sở của các quan hệ xã hội
và hành vi con người. Đây là một bước tiến dài so với quan điểm duy tâm tôn
giáo về lịch sử thời đó.
Như vậy, xét ở khía cạnh của chủ nghĩa duy vật thì học thuyết Pháp gia có
nhiều yếu tố tích cực và phù hợp với yêu cầu lịch sử thống nhất Trung hoa nhưng
nó cũng vấp phải sai lầm là tuyệt đối hoá mặt pháp trị, coi thường các quan hệ đạo
đức trong xã hội. Ông dại diện cho tiếng nói của tầng lớp quí tộc mới, tiến hành
đấu tranh quyết liệt chống lại tàn dư của chế độ truyền thống công xã gia trưởng
bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời.
Lão Tử là ông tổ của phái Đạo gia. Sống cùng thời với khổng Tử, tiểu sử
của ông không được ghi chép rõ ràng. Toàn bộ tư tưởng của ông được trình bầy
cô đọng trong tác phẩm Đạo Đức Kinh, nổi bật nhất là ba vấn đề cơ bản như học
thuyết về “ Đạo”, tư tưởng phép biện chứng và học thuyết “Vô vi” hay những vấn
đề đạo đức nhân sinh, chính trị-xã hội. Trong đó tư tưởng về “đạo” đóng vai trò
cực kỳ quan trọng trong triết học Lão tử.
Về thế giới, thì từ sự quan sát sự vận chuyển của vạn vật trong thế giới, Lão
phục có nghĩa là vạn vật biến hóa nối tiếp nhau theo một vòng tuần hoàn đều đặn,
nhịp nhàng bất tận như bốn mùa xuân hạ thu đông thay đổi qua lại. Đây là qui luật
bất di bất dịch của tự nhiên. Đặc biệt ông đã chỉ ra được sự thống nhất biện chứng
của các mặt đối lập cũng là một tư tưởng biện chứng tiến bộ, độc đáo của Lão Tử.
Tất cả mọi mặt đều có mối quan hệ đối lập, không có mặt này thì không có mặt
kia và giữa chúng cũng chỉ là tương đối. Các mặt đối lập thì trong một thể thống
nhất, qui định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này có cái kia “đẹp
tức là có xấu, dài ngắn tựa vào nhau, cao thấp liên hệ với nhau…” hoặc “hoạ là
chỗ tựa của phúc, phúc là nơi ẩn của hoạ” hoặc “ai cũng cho cái đẹp là đẹp do đó
mà sinh ra quan niệm về cái xấu, ai cũng cho điều kiện là thiện mà sinh ra quan
niệm về cái ác”. Do nhấn mạnh nguyên tắc thăng bằng và phản phục trong biến
dịch đó nên Lão tử không đề cao tư tưởng đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn mà
nhấn mạnh tư tưởng điều hoà các mặt đối lập. Do vậy, có thể nói ở học thuyết của
Lão tử không có những tư tưởng về sự phát triển.
25
Về chính trị xã hội, với luận điểm “vô vi” có nghĩa là hành động theo bản
tính tự nhiên của đạo. Chính vì vậy ông kêu gọi trị nước bằng đạo vô vi tức là
đưa xã hội và cuộc sống của con người trở về với trạng thái tự nhiên, nguyên
thuỷ, chất phác không ham muốn không dục vọng, không thể chế, không pháp
luật, không bị ràng buộc bởi truyền thống đạo đức, không cần tri thức, trí sảo, văn
hóa kỹ thuật mà theo bản tính, khả năng sở thích tự nhiên, mọi người tự làm
những việc mà mỗi người cần làm một cách tự nhiên. Hạn chế lớn của ông là ông
hoài nghi tất cả, ông chủ trương thoát tục, ông khuyên mọi người không ham vật
chất, đừng tư hữu vì “lợi” là gốc của “loạn”. Một hạn chế nữa của ông là vấn đề
nhận thức luận, theo ông không ra khỏi nhà mà biết chuyện thiên hạ, không ra
khỏi cửa mà biết được thiên đạo. Dân khó trị vì họ biết nhiều. Ông lên án chiến
tranh, mơ ước một xã hội đại đồng theo mô hình xã hội cộng đồng nguyên thuỷ.