MỤC LỤC
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
PHẦN MỞ ĐẦU
Kế thừa và phát triển tư tưởng mác-xít về bảo vệ Tổ quốc, V.I.Lê-nin
đã cho ra đời Học thuyết bảo vệ tổ quốc XHCN với nhiều nội dung sâu sắc
định hướng cho hoạt động của Đảng, Nhà nước Xô-viết trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
vấn đề xây dựng tư tưởng là vấn đề căn bản của phong trào công nhân
hiện đại ở tất cả các nước tư bản, không trừ một nước nào. Muốn giải thích
thấu đáo vấn đề đó, cần phải hiểu lịch sử của nó. Trên phạm vi quốc tế, lịch
sử của học thuyết về chuyên chính cách mạng nói chung và về chuyên chính
vô sản nói riêng trùng với lịch sử của chủ nghĩa xã hội cách mạng và đặc biệt
là trùng với lịch sử của chủ nghĩa Mác. Thứ nữa - và đây hiển nhiên là điểm
quan trọng nhất - lịch sử tất cả các cuộc cách mạng của giai cấp bị áp bức và
bị bóc lột chống lại những kẻ bóc lột là tài liệu và nguồn nhận thức chủ yếu
nhất của chúng ta về vấn đề chuyên chính. Ai không hiểu rằng bất cứ giai cấp
cách mạng nào muốn thắng lợi đều tất yếu phải thực hành chuyên chính, thì
người đó không hiểu gì lịch sử các cuộc cách mạng hoặc không muốn biết gì
về mặt này.
Trên phạm vi nước Nga, đứng về lý luận mà nói, cương lĩnh của Đảng
công nhân dân chủ - xã hội Nga, do bộ biên tập báo "Bình minh" và "Tia lửa",
hay nói cho đúng hơn là, do G. V. Plê-kha-nốp thảo ra hồi 1902 - 1903, rồi
sau được bộ biên tập đó sửa đổi, chỉnh lý và thông qua, đã có một ý nghĩa hết
2
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
Phê phán chủ nghĩa xã hội phi Mác xít còn là một hình thức phê phán
khoa học, trên lập trường cách mạng – khoa học của giai cấp công nhân được
thực hiện bởi các nhà tư tưởng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học nhằm chỉ ra
một cách khách quan, trung thực có giá trị và nhất là những điểm những nội
dung phản khao học trong các trào lưu CNXH phi Mác xít bảo vệ phát triển
chủ nghĩa xã hội khoa học ( hay chủ nghĩa xã hội Mác xit).
Từ những năm 70, 80 của thế kỷ XIX, giai cấp công nhân Nga đã bắt
đầu thức tỉnh và đấu tranh chống tư bản. Nhiều cuộc bãi công lớn của công
nhân nổ ra và các tổ chức liên hiệp công nhân bắt đầu xuất hiện.
Thời kỳ này, chủ nghĩa Mác cũng đã chiếm ưu thế trong phong trào
công nhân Tây Âu và bắt đầu thâm nhập vào nước Nga, làm xuất hiện những
tổ chức, các nhóm mác xít ở Nga, tiêu biểu như nhóm “Giải phóng lao động”
của Plêkhanốp. V.I.Lênin đã gia nhập một trong những tiểu tổ chức mác xít
do Phêđêxep tổ chức và bắt đầu nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác.
Cũng vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trên phạm
vi thế giới đã phát triển và chuyển thành chủ nghĩa đế quốc làm xuất hiện
nhiều đặc điểm mới so với CNTB trước đây. Nhiều người ở Nga đã không
hiểu sự thay đổi này, tỏ ra hoang mang, nghi ngờ chủ chủ nghĩa Mác dẫn tới
sự xuất hiện của chủ nghĩa cơ hội và xét lại nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác.
Là lãnh tụ của giai cấp công nhân quốc tế, V.I.Lênin đã đấu tranh bảo
vệ và phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác, Người chỉ rõ: đối với
chủ nghĩa Mác, nghĩa vụ thiêng liêng của những người mác xít là phải bảo vệ
lý luận đó, chống lại những mưu toan định xuyên tạc và hạ thấp lý luận đó.
Do vậy, ngay từ những năm đầu giữ vai trò lãnh tụ của giai cấp công nhân
quốc tế cũng như công nhân Nga, V.I.Lênin đã đấu tranh quyết liệt chống chủ
nghĩa dân túy, phái mác xít hợp pháp và chủ nghĩa cơ hội, xét lại đủ mọi màu
sắc ở Nga và quốc tế thông qua một số tác phẩm tiêu biểu của ông viết thời kỳ
xít ở nga cuối thế kỉ XIX đầu XX.
5
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
2.2. đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Để thực hiện đề tài này tác giả đã xác định đối tượng nghiên cứu là các
khái niệm và những luận điểm về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội phi
Mác xít mà Lê nin đã nêu ra và đấu tranh chống lại các tư tưởng ấy.
2.3. giới hạn khảo sát của đề tài.
Tác giả lựa chọn đề tài chọn không gian rộng mà trong giai đoạn cuối
thế kỉ XIX đầu XX đã diễn ra những điểm quan trọng và là trọng tâm, để đánh
giá phê phán nhận dạng đầy đủ những quan niệm của Lê nin về đấu tranh
chống các trào lưu phi mác xít à giai đoạn này đã diễn ra.thời gian mà tác giả
khảo sát là vào giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX nước nga nói riêng và
thế giới nói chung đang bước vào giai đoạn phát triển thịnh vượng của chủ
nghĩa tư bản.
3. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Viết và ghiên cứu về vấn đề đấu tranh chóng các trào lưu tư tưởng phi
Mác xít ở nga vào những năm cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, của Lên nin
cũng đã có rất nhiều công trình sách báo và tạp chí và các công trình liên
quan.
Tác giả có thể kể đến một số công trình có ít nhiều liên quan đến như.
Chủ nghĩa tư bản ngày nay mâu thuẫn, xu thế triển vọng, của Pgs.ts
Đỗ ngọc Diệp, nxb khoa học xã hội, năm 2003.
Những đặc điểm của thế giới đương đại, Gs , Nguyễn đức Bình( chủ
biên) nxb chính trị quôc sgia hà nội.
Bên cạnh đó tác giả còn nghiên cứu tên các tạp chí của đảng và các
nguồn thông tin có liên quan đến Lê nin và đấu tranh chóng các trào lưu tư
Thứ tư. Rút ra ý nghĩa từ việc nghiên cứu đối với lịch sử và thực tiễn
trong vấn đề nghiên cứu một cách khoa học và có ý nghĩa nhất.
5. Hệ phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp luận. đẻ nghiên cứu đề tài này tuân thủ các nguyên tắc
của chủ nghĩa duy vật lịch sử để đánh giá xem xét vấn đề , đặc biệt tác giả sử
dụng nguyên lý, phạm trù cơ bản như : bản chất, hiện tượng, nguyên nhân và
kết quá, quy luật lượng chất , quy luật đấu tranh thống nhất giữa các mặt đối
7
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
lập, mối quan hệ với lực lượng sản xuất, giữa kiến trúc thượng tầng với với cơ
sở hạ tầng…để tiến hành nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chung. Vì vấn đề nghiên cứu là một học giả
người phương tây ề một vấn đề chính trị - xã hội nên tác giả phương pháp
nghiên cứu là phân tích – tổng hợp , loogic lịch sử, trừu tượng hóa khái quát
hóa để nghiên cứu.
Phương pháp cụ thể. Sử dụng phương pháp đọc tài liệu, thu thập tài
liệu, phân tích sắp xếp nhóm tài liệu, ngoài ra tác giả còn tiến hành trao đổi ,
thảo luận với các thầy cô giáo, bạn bè thầy cô để bổ sung nhiều tri thức quý
báu phục vụ cho quá trình nghiên cứu của mình.
6. Kết cấu nội dung của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo , tiểu luận
có kết cấu gồm 3 chương và 6 tiết.
8
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
họ phê bình vềchủ nghĩa tư bảnvà về khái niệm sở hữu riêng. Đối vớiKarl
Marx, người đã đóng góp một phần lớn trong việc xây dựng phong trào xã hội
hiện đại, thì chủ nghĩa xã hội sẽ là một hệ thống kinh tế-xã hội sau khi một
cuộc cách mạng đã nổ ra để chuyển quyền điều khiển các phương tiện sản
xuất từ tay của một số ít sang tay của một tập thể. Sau đó, xã hội đó sẽ tiến
sangchủ nghĩa cộng sản.
Có rất nhiều tư tưởng và phong trào được gọi, hay tự gọi, là theo chủ
nghĩa xã hội. Nhưng từ thế kỷ 19 đến nay, những người theo chủ nghĩa xã hội
đã không thể đưa ra một tư tưởng hay một kế hoạch chung cho họ. Trái lại,
những người theo chủ nghĩa xã hội tự chia họ ra nhiều nhánh khác nhau và
đôi khi đối nghịch nhau, nhất là giữa những người theo nhánh chủ nghĩa xã
hội cải cách và những người theo chủ nghĩa cộng sản.
Kể từ thế kỷ 19 những người theo chủ nghĩa xã hội đã có những lối
nhìn khác nhau cho chủ nghĩa này dưới góc độ của một hệ thống về cách tổ
chức kinh tế. Một số người muốn quốc hữu hóa hoàn toàn các phương tiện
sản xuất, trong khi những ngườidân chủ xã hộiđề nghị chỉ quốc hữu hóa một
số kỹ nghệ chính trong phạm vi của một nềnkinh tế hỗn hợpgiữa thị trường và
nhà nước. Những người theochủ nghĩa Stalin, kể cả những người có ấn tượng
về mô hình phát triển kinh tế củaLiên Xô, đã kêu gọi cho một nền kinh tế tập
trung được chỉ định bởi một nhà nước nắm tất cả quyền sản xuất. Những
người khác, trong đó có nhiều người tự gọi mình là Cộng sản tạiNam
TưvàHungarytrongthập niên 1980vàthập niên 1990, nhiều người Cộng
sảnTrung Quốcsau thời kỳ cải cách và một số nhàkinh tế họcphương Tây
1.2. Chủ nghĩa xã hội phi mác xít.
Loại tư tưởng thứ nhất thì phản ánh khát vọng chính đảng của giai cấp,
dựng chủ nghĩa xã hội. loại tư tưởng thứ hai thì đấu tranh nhằm duy trì nhằm
bảo vện các chế độ xã hội trong đó duy trì và bảo vệ lợi ích các giai cấp áp
bức và thống trị, chống lại lợi ích của các giai cấp lao động, bị áp bức và
thần cách mạng, là một trong những nội dung cơ bản hợp thành của cuộc đấu
tranh tư tưởng lý luận của các nhà tư tưởng lý luận mác xít nhằm chỉ ra chính
sác những tác hại về mặt chính trị tưởng , qua đó là những tác hại về chính trị
và tổ chức của các trào lưu xã hội chủ nghĩa phi mác xít đối với phong trào
11
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
công nhân và phong trào cộng sản quốc tế nhằm bảo vệ sự thống nhất về tư
tưởng lý luận làm tiền đề cho sự thống nhất về chính trị và tổ chức , góp phần
thúc đẩy sự ngiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và
xã hội trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Phê phán chủ nghĩa xã hội phi Mác xít còn là một hình thức phê phán
khoa học, trên lập trường cách mạng – khoa học của giai cấp công nhân được
thực hiện bởi các nhà tư tưởng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học nhằm chỉ ra
một cách khách quan, trung thực có giá trị và nhất là những điểm những nội
dung phản khao học trong các trào lưu CNXH phi Mác xít bảo vệ phát triển
chủ nghĩa xã hội khoa học ( hay chủ nghĩa xã hội Mác xit).
12
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
CHƯƠNG II
QUAN ĐIỂM CỦA LÊ NIN TRONG VẤN ĐỀ CHỐNG CÁC
TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG PHI MÁC XÍT
Ở NGA CUỐI THẾ KỈ XIX DẦU XX
2.1. Tiểu sử Lê Nin.
V.I. Lênin sinh ngày 22 tháng Tư năm 1870 ở Simbirsk (nay là
Ulianovsk), mất ngày 21 tháng Giêng 1924 ở làng Gorki gần Moskva.
Năm 1900, thời hạn lưu đày của V.I. Lênin kết thúc. Người lại tập hợp
những người Mác- xít cách mạng thành lập Đảng. Chính quyền Nga Hoàng
cấm V.I. Lênin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. V.I. Lênin phải ra nước
ngoài (1900), cùng với Plekhanov lập ra tờ báo Tia lửa. Năm 1903, tại Luânđơn tiến hành Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga. V.I.
Lênin phát biểu phải xây dựng một Đảng Mác- xít kiểu mới có kỷ luật nghiêm
mình, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng. Nhóm số
đông ủng hộ V.I. Lênin gọi là những người Bolshevik, nhóm số ít chủ trương
thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị viện gọi là những người menshevik.
Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của Đảng kiểu mới này V.I. Lênin
đã trình bày trong cuốn Làm gì (1902) và cuốn Một bước tiến hai bước lùi
(1904). Trong thời kỳ cách mạng 1905- 1907 V.I. Lênin đã phát triển tư
tưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong trong cuộc cách mạng dân
chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội
trong cách mạng dân chủ 1905.
Tháng Tư 1905, tại Luân-đơn tiến hành Đại hội lần thứ III ĐCNXHDC
Nga, V.I. Lênin được bầu là Chủ tịch Đại hội. Tại Đại hội này Uỷ ban Trung
ương đã được bầu ra do V.I. Lênin đứng đầu. Tháng Mười Một 1905, V.I.
Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng Chạp 1907,
V.I. Lênin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt
động bí mật. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán (1908) V.I. Lênin phê phán sự xét lại về mặt triết học chủ nghĩa Mác và
phát triển những cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác. Tháng Giêng 1912 lãnh
14
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
đạo Hội nghị lần thứ VI (Praha) toàn Nga ĐCNXHDC. Tháng Sáu 1912 từ
Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này, V.I. Lênin
soạn thảo xong Đề cương Mác xít về vấn đề dân tộc. Cuối tháng Bảy 1914, bị
cảnh sát áo bắt nhưng sau đó ít lâu được trả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ. Trong
đường đấu tranh vũ trang Đầu tháng Mười 1917, V.I. Lênin từ Phần Lan bí
mật trở về Petrograd ngày 23 tháng Mười 1917 kế hoạch khởi nghĩa vũ trang
của V.I. Lênin đề ra được Hội nghị Uỷ ban trung ương ĐCNXHDC Nga
thông qua.
Tối ngày 6 tháng Mười Một 1917, V.I. Lênin đến Cung điện Smolnưi
trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7 Tháng Mười một
1917, toàn thành phố Petersbuorg nằm trong tay những người khởi nghĩa, và
đến đêm ngày 7 tháng Mười Một 1917, Cách mạng tháng Mười Nga đã toàn
thắng. Chính quyền đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế
giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời. Tại Đại hội các Xô Viết
toàn Nga lần thứ II V.I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên
nhân dân (Hội đồng Dân uỷ). Sau Cách mạng tháng Mười Nga theo đề nghị
của V.I. Lênin Hồ ước Brest với nước Đức đã được ký kết (ngày 3 Tháng Ba
1918). Ngày 11 tháng Ba 1918 V.I. Lênin cùng với Trung ương Đảng và
Chính phủ Xô Viết trở về Mát xcơ va, V.I. Lênin đã có công lao to lớn trong
việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống
sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong
nước; trong việc lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. V.I.
Lênin thi hành chính sách đối ngoại Xô Viết, đề ra những nguyên tắc cùng tồn
tại hồ bình giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau.
Ngày 30 tháng Tám 1918, V.I. Lênin bị ám sát và bị thương nặng,
nhưng sau đó ít lâu sức khoẻ hồi phục, V.I. Lênin là người sáng lập Quốc tế
Cộng sản (1919). Tháng Ba năm 1919, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng
sản Nga đã thông qua Cương lĩnh mới của Đảng, V.I. Lênin được bầu là chủ
tịch Uỷ ban soạn thảo Cương lĩnh Mùa xuân 1920, V.I. Lênin viết cuốn Bệnh
ấu trĩ tả khuynh của chủ nghĩa cộng sản trình bày những vấn đề chiến lược và
sách lược của phong trào cộng sản. Thời gian này, V.I. Lênin soạn thảo xong
kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa đất nước, hợp tác hóa
16
17
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng nhưng muộn màng của chủ nghĩa
tư bản Nga vẫn không thể thay đổi 1 thực tế là nước Nga là vẫn là 1
nướcnông nghiệpvới mốiquan hệ sản xuất phong kiếnlạc hậu. Tàn tích của
chế độ nông nô vẫn còn tồn tại sâu rộng ở nước Nga thể hiện rõ nét ở việc
phần lớn ruộng đất tập trung trong tayquý tộc, địa chủ. 2/3 ruộng đất trong
nước nằm trong tay địa chủ, quý tộc, 30 000 đại địa chủ chiếm tới 70 triệu
mẫu Nga (1 mẫu Nga = 1,09 hecta) ruộng đất.Nga hồngđồng thời cũng là địa
chủ lớn nhất với 7 triệu mẫu Nga ruộng đất. Địa chủ bóc lột nông dân hết sức
nặng nề và tàn bạo, nhất là chế độ lao dịch. Trình độ sản xuất nông nghiệp lạc
hậu do đó năng suất thấp, nạn mất mùa và đói kém xảy ra thường xuyên.
Chính trị - xã hội.
Đến đầu thế kỷ XX và trước thế chiến thứ nhất, Nga vẫn là nước theo
chế độquân chủ chuyên chếdưới sự cai trị của Nga hoàNikolai IIg . Sự tồn tại
của chủ nghĩa tư bản độc quyền và những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa, sự
kết hợp giữa hình thái kinh tế tiên tiến nhất và lạc hậu nhất đã làm cho nước
Nga trở thành nơi tập trung cao độ các mâu thuẫn của chủ nghĩa đế qu
: Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Nga với chế độ quân chủ chuyên
chế của Nga
oàng Mâu thuẫnđịa chủgiữanông dân
và Mâu thuẫntư sảngiữavô sản
và Mâu thuẫnđế quốc Ngagiữa vdân tộccác trong đế quốc. Đế quốc
Nga tồn tại hơn 100 dân tộc và các dân tộc bị đối xử tàn bạo, bị khinh rẻ và
chịu nhiều áp bức do đó đế quốc Nga là “ nhà tù của các dân
c “. Mâu thuẫn giữa đế quốc Nga vđế quốc các khác. Để có thêm thị
trường tiêu thụ hàng hoá và tăng cường lợi nhuận, đế quốc Nga thường xuyên
mở nhữngchiến tranhcuộc giànhthuộc địagiật và các khu vực bị ảnh hưởng
sản Nga đã tiến hcách mạng Nga 1905nh cuộc
và thất bại nhưng đã mang
đến cho họ nhiều kinh nghiệm về mặt tổ chức và tiến hành khởi nghĩa. Lenin
đã nói : “ Không có cuộc tổng diễn tập 1905 thì cũng không có thắng lợi của
Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 “. Một điều kiện thuậgiai cấp tư sảnlợi là
Nga ykinh tếu cảchính trịề lẫn do sự phát triển muộn của chủ nghĩa tư bản
Nga, mang tính phụ thuộc cao vàquân chủ chuyên chếchế độ và tư bản nước
ngoài do đó giai cấp tư sản Nga không thể trở thành lực lượngcách mạngãnh
đạo cuộc và không có đủ khả năng để đàn áp gi
ấp vô sản. Những tiền đề khách quan và chủ quan của cách mạng Nga
đã dẫn tcách mạngi sựđế quốc Ngaùng nổ
tháng 81914àođế quốc Đức. Ngày
khithế chiến thứ nhấttham gi1
, tuyên chiến với đế quốc Nga, đế quốc
Nga tham gia vào thế chiến thứ nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài càng đẩy
mạnhkinh tếsự sụp đổ về vchính trịkxã hộiủng hoả
19
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
, ở Nga. Sự sụpđ
về kinh tế . Nền kinh tế Nga vốn lạc hậu nên không chịu được cường
độchiến tranhcao củatổng động viêncuộc . Lệnh
chiến tranh để làm giàu bất chính. Mọi nỗi khổ của cuộc chiến tranh đè nặng
lên vai các tầng lớp nhnông dânncông nhânân Nga, đặc biệtdân tộclà ,đế
quốc NgaNga và hơn 100 trong . Ngay cả 1 số người trong giai cấp tư sản
cũng bất mãn với chế độ quân chủ chuyên chế Nga hoàng, muốn lợi dụng thời
để giành lấy chính quyền. Trước tình hình đó, trên toàn nbãi côngớc
Nga đã xảy ra 1416 cuộc và 294 cuộc nổi loạn của nông dân. Quân đội cũng
bất mãn với chế độ Nga hoàng. Ngoài mặt trận quân đội đào ngũ hàng loạt và
tổ chức nổi loạn nhchiến hạmvụ ntháng 10i loạn của các lính thuỷ trênTháng
20
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
7ào 1916.Kazakhstanác dân tộc cũng nổi dậy. 1916 tại , nông dân đã đứng
lên khởi nghĩa, thiêu huỷ danh sách trưng binh và đập phá các cơ quan nhà
nước. Đến thời điểm này, triều đình Nga hoàng đã không còn khả năng thống
trị nữa và
ớc Nga tiến sát tới 1 cuộc cách mạng. 2.3. Những quan điểm chống
chủ nghĩa xã hội phi Mác xít c
Lê Nin ở Nga cuối thế kỉ XIX đầu XX. Một trong những công lao to
lớn của V.I.Lênin trong việc bảo vệ học thuyết Mác là ông đã đấu tranh
không khoan nhượng chống các trào lưu phi mác xít ở nước Nga và quốc tế
ngay trong thời kỳ đầu
ạt động lý luận và cách mạng của ông. V.I.Lênin là một trong những
học trò xuất sắc kế tục sự nghiệp của Mác, là người đầu tiên biến chủ nghĩa
xã hội từ lý luận thành hiện thực. Trên cơ sở trung thành với chủ nghĩa Mác
và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của nước Nga thời kỳ đầu thế kỷ XX,
V.I.Lênin tiếp tục làm sâu rộng hơn nền tảng lý luận, làm cho lý luận của Mác
về giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng nhân dân lao động, giải phó
xã hội trở thành hiện thực cuộc sống. V.I.Lênin đấu trn
chống các trào lưu phi mác xít ở Nga . Từ những năm 70, 80 của thế kỷ
thanh niên học sinh mặc quần áo nông dân, đi vào nông thôn, kích động nông
dân chống chuyên chế Nga hoàng. Những người theo phái này căm thù sâu
sắc chế độ nông nô; nhiệt tình bênh vực chủ trương mở rộng giáo dục, chế độ
tự quản, âu hóa nước Nga trong tất cả các lĩnh vực; bênh vực lợi ích của quần
chúng, chủ yếu là nông dân. Tuy nhiên, phong trào đấu tranh của phái dân túy
thất bại nặng nề và tan ra nhanh chóng do trong quan điểm cũng như biện
pháp đấu tran
của họ đậm nét không tưởng tiểu tư sản. Cho tới những năm 90/XIX,
chủ nghĩa dân túy lại hồi sinh nhưng mang nặng tính tự do và trở thành trào
lưu phản động, thỏa hiệp, đi đến làm tay sai cho Nga h
ng và thực chất là bảo vệ cho phú nông. V.I.Lênin đánh giá rất cao
những hành động cách mạng của phái dân túy thời kỳ đầu, coi đó là một trào
lưu dân chủ - cách mạng trong một nước đang ở vào đêm trước cuộc cách
mạng tư sản. Tuy nhiên, V.I.Lênin đã đấu tranh phê phán quyết liệt trước
22
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
những quan điểm và thái độ phản động của phái này vào những năm 90/XIX.
Chủ nghĩa dân túy,theo V.I.Lênin đó là một trào luchống chủ nghĩa Má gay
gắt bởi vì: 1. Về cơ sở triết học , phái dân túy dựa trên nền tảng chủ nghĩa
duy tâm chủ quan, nó phủ nhận chủ nghĩa Mác khi cho rằng chủ nghĩa Mác
chỉ là sự sao chép lại “tam đoạn luận” của Hêghen chứ không có gì mới; bài
xích những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa duy vật của Mác; xem xét sự phát
triển của lịch sử xã hội chỉ là quy luật tự nhiên và coi tự do chỉ là hoạt động
của con người không phụ tuc vào quy luật tự nhên hay xã hội. 2. Về quan
điểm kinh tế , phái dân túy phủ nhận sự xuất hiện CNTB ở Nga trên cơ sở cho
rằng ở Nga thời kỳ này chưa có CNTB và nếu có thì cũng không phải là do sự
phát triển của lực lượng sản xuất mà là do sai lầm chủ quan; hoặc nếu có
CNTB ở Nga thì nó cũng không thể đi vào đờsống của nhân dân Nga, không
nghĩa. V.I.Lênin chỉ ra rằng cương lĩnh chính trị của những "người bạn dân"
giả dối đó thể hiện lợi ích của bọn cu-lắc. Người vạch mặt phái dân tuý tự do
chủ nghĩa là những tên cải lương điển hình, bọn này phản đối cuộc đấu tranh
cách mạng chống chế độ chuyên chế Nga hoàng và theo họ chế độ này là một
lực lượng đứng trên các giai cấp và có khả năng cải thiện tình cảnh của nhân
dân. Người cũng vạch rõ tính chất vô căn cứ và sai lầm của những lý luận dân
tuý về con đường phát triển đặc biệt, phi tư bản chủ nghĩa của nước Nga, và
chỉ rõ rằng phái dân tuý tự do chủ nghĩa đã cố tình làm lu mờ sự thật về
nh trạng bóc lột tư bản chủ nghĩa ở nông thôn. Trong tác phẩm này,
V.I.Lênin đã vạch mặt các nhà lý luận của phái dân tuý là những đại biểu của
phương pháp phản khoa học, chủ quan trong xã hội học, là những nhà duy
tâm phủ nhận tính khách quan của các quy luật phát triển xã hội và vai trò
quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Các nhà dân tuý đã hướng
tiến trình lịch sử một cách tuỳ tiện theo ý muốn của những cá nhân "xuất
chúng". V.I.Lênin đã đập tan những quan điểm chủ quan đó và đưa ra quan
niệm duy vật về đời sống xã hội để đối lập với các quan điểm đó; Người vạch
ra nội dung của học thuyết mác-xít về xã hội và chỉ rõ rằng tiến trình lịch sử
được quyết định bởi những quy luật phát triển khách quan, rằng động lực chủ
yếu của sự phát triển của xã hội là nhân dân, là các giai cấp mà cuộc đấu tranh
24
Phê phán các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít.
của họ quyết định sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy, cũng trong tác phẩm
này, lần đầu tiên V.I.Lênin đã chỉ rõ phương sách chủ yếu để lật đổ chế độ
Nga hoàng, bọn địa chủ và giai cấp tư sản, và thành lập xã hội cộng sản chủ
nghĩa của những người dân chủ - xã hội Nga là phải thành lập một đảng công
nhân mác-xít và phải tổ chức được liên min
cách mạng giữa giai cấp công nhân và nông dân. Nhấn mạnh vai trò
lịch sử vĩ đại của giai cấp công nhân Nga, V.I.Lênin viết: "Những người dân