TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI
TƯ TƯỞNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
THẾ KỶ XVIII
1
MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài :
CNXH không tưởng là những lý luận, những học thuyết biểu hiện dưới dạng
chưa chín muồi, chưa đầy đủ, phản ánh dưới dạng chưa chín muồi những ước mơ,
nguyện vọng chủ quan của quần chúng nhân dân về một cuộc sống không có áp
bức, bóc lột, bất công, mong muốn có được một xã hội công bằng, bình đẳng, tự
do, hạnh phúc song không thực hiện bằng con đường cách mạng mà bằng con
đường giáo dục, thuyết phục và khuyên nhủ. Đó là một ước mơ chính đáng của
2
nhân loại cần lao và những ước mơ đó có chiều dài lịch sử cùng với lịch sử hình
thành và phát triển của giai cấp và đấu tranh giai cấp. Chính từ những ước mơ,
khát vọng, những tư tưởng CNXH ấy đã thôi thúc bao thế hệ các nhà tư tưởng, các
nhà cách mạng ưu tú đã cống hiến, hy sinh cho lý tưởng nhân đạo, cho sự tiến bộ
của nhân loại. Từ những dự án sơ khai của Aghit, Cleomen thế kỷ thứ III tr.CN
đến những mô hình, hệ thống, quan điểm ngày càng tiến bộ hơn của T.Mơrơ,
T.Campemela, G.Uyxtenly,G.Meliê, Ph.Morenly, G.Mably, G.Babơp và đến đầu
thế kỷ XIX các nhà tư tưởng của CNXH không tưởng đã phát triển đến mức độ
đến cùng của chúng.
Những ước nguyện, những nỗ lực cống hiến và hy sinh của các thế hệ nói
trên không chỉ phản ánh nguyện vọng chủ quan thuần tuý lý tưởng mà còn là quá
trình tìm tòi chân lý, mở ra con đường đi tới sự giải phóng nhân loại. Chính những
tư tưởng không tưởng của XanhXimông, S.Phuriê, R.Ôoen đã trở thành một trong
ba tiền đề lý luận cho sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học do CácMác và
Ănghen sáng lập và Lênin đã đưa vào hiện thực cuộc sống. Ngày nay các Đảng
Cộng sản của các nước đi theo con đường CNXH trong đó có Đảng Cộng sản Việt
Nam đang tiếp tục vận dụng, phát triển và bảo vệ CHXH khoa học để xây dựng
của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam để nghiên
cứu. Bên cạnh đó tác giả sử dụng một số phương pháp như: phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử và logic,quy nạp-diễn dịch, diễn
dịch-quy nạp…
5. Ý nghĩa của tiểu luận.
4
Tiểu luận góp phần làm tài liệu tham khảo phục vụ trong việc nghiên cứu,
học tập.
6.Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, tiểu luận có kết cấu 2
chương , 5 tiết.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG XHCN THẾ KỶ XVIII
Đến giai đoạn thế kỷ XVIII, các trào lưu tư tưởng XHCN dần dần được đúc
kết thành lý luận, thể hiện trong các tác phẩm lý luận như tác phẩm “Những di
chúc của tôi” của Giăng Mêliê, "Bộ luật của tự nhiên" của Morenly, "Quyền và
nghĩa vụ công dân" của Gabrien Bonnơ Đờ Mabơly, "Tuyên ngôn của những
5
người bình dân" của Grăccơ Babớp.
1.1 Tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Giăng Mêliê (1664-1792) :
Mêliê phê phán xã hội phân chia đẳng cấp đương thời trong đó một bên là
bọn quý tộc, bọn ăn bám sống sung sướng còn một bên là đại đa số nhân dân phải
lao động cực khổ . Ông tố cáo tội ác của bọn vua chúa nhất là Lui XIV đã gây ra
những áp bức, bất công trong xã hội. Vì thế, theo ông giải phóng nông dân là
nhiệm vụ trung tâm của cách mạng pháp.
Ông chỉ ra rằng, giải phóng nông dân không chỉ là giải phóng về mặt chính
trị mà còn là giải phóng về mặt kinh tế. Muốn vậy phải xóa bỏ chế độ tư hữu,
nguồn gốc của mọi sự đau khổ, bất hạnh, chiến tranh, trộm cắp, dối trá…Ông kêu
gọi nhân dân hãy vùng lên đấu tranh.
Ông nêu lên một tư tưởng tiến bộ: giải phóng nhân dân là sự nghiệp của
phối, luật ruộng đất, luật trật tự chung, luật hôn nhân và gia đình.
Ông nêu lên con đường xóa bỏ chế độ hiện tồn và thiết lập chế độ xã hội
mới tốt đẹp. Ông chủ trương chỉ cần làm cho mọi người trước hết là những nhà
cầm quyền biết điều, có đạo đức, có học thức, hoặc thay đổi các luật lệ sao cho
ngày càng phù hợp với bản chất tự nhiên của con người.
1.3 Tư tưởng xã hội chủ nghĩa của Gabrien bonnô đờ Mably(1709-1785)
Qua tác phẩm của mình Mably nêu lên tư tưởng phê phán chế độ phong kiến
Pháp và chế độ tư sản Mỹ. Ông phê phán nền quân chủ chuyên chế Pháp là xấu xa,
đang ở thời kỳ thối rữa và mục nát, ca ngợi các nhà nước dân chủ kể cả nhà nước
cộng hòa cổ đại. Từ đó ông luận chứng sự cần thiết của “Nội chiến” coi đó là “lấy
chính trị để chống lại chính trị” nhằm bảo vệ tự do và con đường cải cách xã hội.
7
Ông dự báo rằng ở Mỹ sự thống trị của tư bản tái chính sẽ đưa đến chế độ tàn bạo
và gây chiến tranh. Ông dự báo nước Anh sẽ mất hết thuộc địa. Cả hai dự báo của
ông đến nay đều được thực tiển chứng minh là đúng.
Mably nêu lên tư tưởng về một xã hội tương lai. Trên lĩnh vực kinh tế ông
chủ trương xã hội tương lai sẽ được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về ruộng
đất và tài sản khác, đó là nền tảng kinh tế tự nhiên của xã hội, trong đó mọi tính ưu
việt của xã hội sẽ được phát triển rộng rãi nhằm phục vụ hạnh phúc chung cho mọi
người. Ông phản đối quan điểm cho rằng chỉ có chế độ tư hữu mới kích thích con
người làm việc và cho rằng chế độ tư hữu là sự phá hoại đối với sự phát triển lành
mạnh của xã hội. Ngược lại chế độ công hữu sẽ không làm cho mọi người thờ ơ
với công việc của xã hội, lao động là nghĩa vụ thiêng liêng vừa là nghĩa vụ vinh
quang của mọi thành viên trong xã hội, mọi người làm theo khả năng phân phối
theo nhu cầu.
Trên lĩnh vực chính trị-xã hội, ông chỉ ra nguyên tắc bầu cử những đại biểu
đại diện cho nhân dân một cách thật sự dân chủ, ông cũng nêu ra những chức năng
của nhà nước là tổ chức, quản lý lao động và phân phối sản phẩm cho nhân dân,
chăm lo giữ gìn cho xã hội lành mạnh. Xã hội không có bạo lực, không có chiến
tranh, không có bất kỳ lực lượng vũ trang nào, xã hội không còn phân chia giàu-
không hề sợ sệt, trung thành với nhân dân, căm thù bọn bóc lột và giàu có.
CHƯƠNG II : GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA THẾ KỶ XVIII
2.1 Những giá trị trong tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ XVIII
1
Lược khảo lịch sử tư tưởng XHCN và CSCN, q1, tr 149
9
Một là, giá trị nhân đạo nhân văn. Mêliê : “ Tất cả chúng ta đều có nguồn
gốc sinh ra, không có ai sinh ra đã là quý ông, quý bà. Thiên nhiên sinh ra chúng
ta với tính cách là những người tương thân, tương ái, vì thiên nhiên sinh ra chúng
ta từ cùng một bản chất và vì cùng mục đích”
1
Các tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ XVIII đều phản ánh lý tưởng giải
phóng con người, những người lao động bị áp bức bóc lột, mang tính nhân văn,
nhân đạo sâu sắc rộng lớn nó bênh vực, thông cảm và thương xót đại đa số nhân
dân lao động nghèo khổ, bị áp bức bóc lột thậm tệ với các tai họa và tệ nạn xã hội
trong các chế độ tư hữu và giải phóng họ khỏi các chế độ đó.Trong các tư tưởng
của Môrenly đều thể hiện tính hướng thiện, muốn thức tỉnh mọi người hãy từ kinh
nghiệm sống trong bất hạnh của mình mà vươn tới xã hội mới, trong đó mọi người
đều bình đẵng bằng cách tuân theo những tiêu chuẩn, tài năng, đạo đức và không
ngừng hoàn thiện luật lệ xã hội, sao cho ngày càng phù hợp với quy luật của tự
nhiên.
Tư tưởng mơ ước về một chế độ xã hội lý tưởng của Mably là một xã hội
dựa trên sự cộng đồng về ruộng đất và tư liệu sản xuất khác, trong đó mọi tính ưu
việt của xã hội sẽ phát triển rộng rãi vì hạnh phúc chung của mọi người và hạnh
phúc của mỗi người chỉ được đem đến khi đảm bảo hạnh phúc của tất cả mọi
người.
Tuyên ngôn những người bình dân – Babớp : “…Biện pháp thứ hai là, ngay
sau khi khởi nghĩa, phải nắm giữ tất cả các nhà ở của bọn giàu có để chia cho dân
nghèo. Biện pháp thứ ba là, để thỏa mãn ngay những nhu cầu cấp bách của nhân
Trong tác phẩm Bộ luật tự nhiên của Môrenly “ Ở nơi không có quyền tư
hữu nào thì ở đó không có một hệ quả nào nguy hại nào của nó…Trong bất cứ xã
hội nào, mọi quyền tư hữu về những của cải được phân chia đều là…nguồn gốc
của những tai họa tày trời”
3
. Qua đó thể hiện tư tưởng xóa bỏ chế độ tư hữu thiết
lập chế độ công hữu, ông cho rằng chỉ có thể khắc phục được những tệ nạn xã hội
đang tồn tại, trước hết với những điều kiện là không còn gì là của riêng của bất cứ
ai, trừ những vật phẩm mà mỗi người cần có để thỏa mản những nhu cầu cần thiết
cho đời sống hoặc cho lao động sản xuất hàng ngày của mình. Mably cũng khẳng
1
V.P. Vônghin: Lược khảo lịch sử các tư tưởng XHCN, Nxb Sự thật, Hà nội 1997, tr 395-396
2
Lược khảo lịch sử tư tưởng XHCN và CSCN, q1, tr 119
3
Sđd, tr 157
11
định “dưới chế độ công hữu tài sản mùa màng sẽ tươi tốt, mọi người hứng thú
trong lao động cho xã hội và cho chính mình. Luật lệ của xã hội cộng sản làm tăng
thêm sự kính trọng đối với lao động, làm cho lao động được coi như một vinh
dự”
1
. Đây là tư tưởng tiến bộ sau này được nhiều nhà tư tưởng kế thừa và phát
triển.
Nhìn chung các tư tưởng xã hội chủ nghĩa thế kỷ XVIII đều phê phán lên án
chế độ tư hữu, sự áp bức bóc lột bất công. Đặc biệt là phê phán sự phân chia giai
cấp, đẳng cấp xã hội, nhất là thiểu số kẻ giàu không lao động lại có quyền lực và
chiếm đoạt đại bộ phận tài sản của xã hội; còn đại đa số người lao động, làm ra của
cải cho xã hội thì lại không có tài sản, không có quyền lực, nghèo khổ và bị áp bức
bóc lột. Qua đó vạch trần bản chất bóc lột và tội ác xấu xa của giai cấp thống trị
Về mặt xã hội, Môrenly cho rằng xã hội tương lai tôt đẹp là “thời hoàng
kim” xa xưa mà chế độ công hữu là nét nổi bật nhất. Trong xã hội đó mỗi người
đều đàm nhiệm công việc của xã hội tùy theo sức lực, khả năng của mình, và đều
được xã hội chăm sóc.Trong phần kết luận của “Bộ luật của tự nhiên” ông viết:
“Tôi không có tham vọng táo bạo muốn cải tạo loài người, nhưng tôi có đủ dũng
khí để nói lên sự thật, không bối rối trước những tiếng la hét của những kẻ bối rối
sợ sự thật, vì lừa dối loài người hoặc để loài người bị những điều lầm lạc chi phối
là điều có lợi cho những kẻ đó”
1
.
Theo Mably cho rằng trong xã hội cộng sản lý tưởng, mọi thành viên đều có trách
nhiệm cao, đoàn kết trên cơ sở chế độ cộng đồng tài sản và lao động chung, gắn bó
với Tổ quốc, yêu Tổ quốc, sẵn sàng đem hết sức mình bảo vệ Tổ quốc.
Nhìn chung các tư tưởng XHCN thế kỷ XVIII đều thể hiện tinh thần bình đẳng yêu
thương nhau, mọi người đều được học hành, vui chơi, hôn nhân và gia đình được
tự do, hạnh phúc, văn hóa, xã hội công bằng văn minh.
Về mặt chính trị, xã hội tương lai mà chính quyền nhà nước là do dân bầu ra
một cách dân chủ, vì dân mà hoạt động và dân có thể bải miễn. Xã hội không còn
giai cấp, đẳng cấp.Mably vạch ra nguyên tắc dân chủ bầu cử những đại biểu của
nhân dân “Nhà nước có nhức năng chính là tổ chức lao động và phân phối sản
phẩm cho nhân dân, chăm lo giữ gìn phong tực xã hội. Những chức năng của nhà
nước được giới hạn ở lĩnh vực điều hành sản xuất và phân phối. Nếu có nạn xâm
lược thì tất cả công dân đều cầm vũ khí vì ở xã hội đó không có quân đội thường
trực và bất cứ một tổ chức vũ trang nào khác”
2
Theo Babớp, chính phủ do cách mạng lập ra phỉa là một hình thức “Chuyên chính
1
Sđd, tr 160
2
14
trình hàh sự. Các ông cũng thừa nhận vào thế kỷ của các ông chưa thể xây dựng xã
hội cộng sản theo lý tưởng của mình
2. Chưa thấy được con đường để đi tới xã hội tương lai tốt đẹp.
Các nhà XHCN không tưởng mong muốn một xã hội tốt đẹp nhưng họ chủ
trương đi đến xã hội công bằng bằng con đường cải cách dần dần, thuyết phục giáo
hoá bằng tư tưởng chứ không phải bằng con đường đấu tranh cách mạng, cải biến
cách mạng.
Môrenly mới chỉ nêu ra được một sơ đồ cứng nhắc, một cương lĩnh cứng
nhắc về việc xây dựng xã hội cộng sản chứ chưa đề ra được những nhiệm vụ mang
tính hiện thực để thực hiện sự quá độ trong thực tế từ xã hội mà ông đang sống đến
xã hội mà ông mơ tưởng, ông không nêu ra được mối quan hệ giữa xã hội ấy với
xã hội đang tồn tại.
Phong trào Babớp tuy xuất hiện theo khuynh hướng cộng sản trong thực tế
là một khuynh hướng thích hợp với yêu cầu của giai cấp vô sản pháp, nhưng nó
còn mang tính không tưởng, tính chất âm mưu của một nhóm nhỏ, tính chất manh
động.
Cho đến giới hạn cuối cùng, trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, các nhà XHCN
không tưởng đã không thể giải thoát mình khỏi vòng không tưởng. Bởi vì ngay cả
những luận điểm đúng đắn nhất mà họ nêu ra cũng mới chỉ là những dự đoán, chưa
được luận chứng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Sự diệt vong của xã hội cũ,
sự ra đời của xã hội mới vẫn còn là những giấc mơ, nhưng mong muốn chủ quan
của con người chưa được bảo đảm bởi điều kiện vật chất nảy sinh và chín muồi
ngay trong quá trình phát triển của xã hội.
Những hạn chế có tính chất lịch sử mà các nhà XHCN không tưởng thế kỷ
XVIII không thể vượt qua. Tuy nhiên với tất cả những nỗ lực không mệt mỏi, sự
cống hiến, hy sinh cho lý tưởng nhân đạo, vì sự tiến bộ của các nhà tư tưởng, các
tư tưởng và học thuyết XHCN thời kỳ này đã thực sự trở thành nền tảng lý luận
cho sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học.
15
2
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà
Nội, 2001, tr 54
16
lạc, tham nhũng. Thực hiện sự bình đẳng phải trên thực tế, chứ không phải chung
chung bằng những lý thuyết suông
KẾT LUẬN
Tư tưởng XHCN không tưởng thế kỷ XVIII phê phán xã hội tư bản gay gắt,
quyết liệt, mang tính phủ định nó, với nền tảng của nó là chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất dẫn đến tình trạng người bóc lột người, phần nào phản ánh được tiếng nói
của nhân dân lao động trước tình trạng bị đối xử bất công và áp bức trong xã hội.
Sự phê phán không chỉ dừng lại ở việc miêu tả chi tiết những hiện tượng tội ác
phơi bày trên bề nổi của xã hội mà còn bắt đầu khám phá bí ẩn trong xã hội và đi
tới phủ nhận sự tồn tại của xã hội đó.
Thông qua sự phê phán của các nhà không tưởng chế độ tư bản hiện ra với
đầy đủ tính chất xấu xa của nó như bóc lột, bất bình đẳng. Sự phê phán đó thể hiện
tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, tuy không ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân đạo tư sản
để vươn tới những giá trị nhân đạo- hướng vào mục tiêu giải phóng những người
lao động và thực hiện sự bình đẳng xã hội.
Một điều đáng ghi nhận các nhà không tưởng thời kỳ này là những đóng góp
trong việc dẫn đến thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1789 và xây dựng
một mô hình XHCN ở giai đoạn đầu, tuy chưa được thực hiện một cách hịên thực
nhưng các ông đã phác hoạ lên một mô hình XHCN lý tưởng cho loài người. Mặc
dù nó chỉ là ước mơ, nguyện vọng chủ quan nhưng nó có giá trị rất lớn là nền tảng
để sau này Mác kế thừa và phát triển thành học thuyết XHCN khoa học.
Nhờ có những nhà CNXH không tưởng trước Mác đã có ý thức giải phóng
đông đảo nhân dân lao động khỏi bị áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, đem lại sự
bình đẳng và mỗi người được sống trong hạnh phúc. Đây là công lao lớn nhất mà
Mác đã khắc hoạ trong những tác phẩm của mình sau này. Tuy những tư tưởng
XHCN ấy là không tưởng, chưa hoàn thiện nhưng đã tạo tiền đề vững chắc nhằm