TÀI LIỆU THAM KHẢO QUAN điểm của CHỦ TỊCH hồ CHÍ MINH về PHÁT TRIỂN cơ cấu KINH tế NGÀNH TRONG THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội và sự vận DỤNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM - Pdf 42

Đ

ịnh hướng phát triển của của cách mạng Việt Nam đã được
khẳng định ngay từ đầu nhưng năm 20 của thế kỷ XX khi
Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo

con đường các mạng vô sản. Giữa năm 1923, Người đến Liên Xô, lần đầu
tiên được biết đến hiệu quả tích cực của “chính sách kinh tế mới” của Lê
Nin, được chứng kiến thành tựu bước đầu của nhân dân Xô Viết trên con
đường xây dựng một chế độ mớ7i. Tư duy về kinh tế của Hồ Chí Minh được
hình thành từ những năm 1920, nhưng đến năm 1954 mới thực sự phát triển.
Hồ Chí Minh đã phổ thông hóa các quan điểm kinh tế, cơ sở kinh tế dưới
nhiều hình thức giản dị, mộc mạc nhưng vẫn chứa đựng khoa học, phù hợp
với điều kiện lịch sử của đất nước. Nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí

Minh, không nghiên cứu câu chữ mà chúng ta cần thấy tinh thần tư
tưởng cuả người. Thông qua, quan điểm về cơ cấu kinh tế thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội; sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta về
các thành phần kinh tế trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc
xã hội chủ nghĩa. Trên hai vấn đề cơ bản sau:
I.QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở NƯỚC TA.
1.Quan điểm của Hồ Chí Minh về nền kinh tế mà chúng ta xây dựng
là “ một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện
đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến”1… “trên cơ sở kinh tế ngày càng phát triển,
cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được xóa bỏ dần, đời sống vật chất và văn
hóa nhân dân ngày càng được cải thiện”.2
Đối với các nước lạc hậu chưa trải qua chế độ tư bản thì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và phổ biến, đến nay vẫn hoàn toàn


độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Viêt Nam. Sau năm 1954 miền bắc nước ta
bước vào thời kỳ quá độ, trong bối cảnh trong nước tương đối thuân lợi. Về
tình hình trong nước ta đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, vừa
có hòa bình, vừa có chiến tranh ,….nhưng bao chùm lên to nhất là đặc điểm “
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải
kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” 4. Đặc điểm này thâu tóm đầy
đủ những mâu thuẫn, khó khăn phức tạp, chi phối toàn bộ quá trình lên chủ
3
4

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập7,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2000,tr.247.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập10,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr13.

2


nghĩa xã hội ở nước ta. Nó đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn mà chú
ta cần nhận thức và giải đáp đúng đắn để tìm ra con đường với hình thức,
bước đi và cách làm chủ nghĩa xã hội phù hợp đặc điểm Việt Nam.
Dựa vào công thức của Lênin, Hồ Chí Minh cũng nói “tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” 5.
Cách nói này có phần thiên về mặt thuận lợi, nghĩa là tránh cho nhân dân
không phải trải qua một chế độ bùn đầy và máu là chế độ tư bản chủ nghĩa đã
bị lịch sử lên án và bác bỏ.
Nhưng cách nói này chưa giúp cho nhân dân và cán bộ ta nhận thức được
đầy đủ những khó khăn, thiếu hụt do chưa trải qua nên chưa đạt tới trình độ
phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa tư tưởng….mà loài người đạt được trong
thời đại tư bản.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, bỏ qua chế độ
tư bản, quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, đã đặt ra bao khó khăn, phức tạp

Về nhiệm vụ của thời kỳ quá độ là một thời kỳ quá độ, người chỉ rõ: “…
phải xây dựng nền tẩng vật chât…..”
Về nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
người chỉ rõ:
+ Giữa vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
+ Nâng cao vai trò quản lý của nhà nước.
+ Phát huy tính tích cực, chủ động của tổ chức chính trị xã hội.
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức và tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
cách mạnh xã hội chủ nghĩa.
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển cơ cấu nghành kinh tế
trong thời kỳ quá độ.
Xuất phát từ điều kiện cụ thể của nước ta, Hồ Chí Minh đã lữa chọn một
cơ cấu nghành kinh tế bảo đảm kết hợp chặt chẽ và thúc đẩy lẫn nhau cùng
phát triển giữa công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp dựa trên vị trí,
vai trò của các nghành kinh tế trong thời kỳ quá độ. Trong đó, Người nhấn
mạnh đến công nghiệp và nông nghiệp: “công nghiệp và nông nghiệp là như
hai chân của nền kinh tế nước nhà”10 hạng nghành kinh tế chủ yếu của nền
kinh tế Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Về vai trò của nông nghiệp, Hồ Chí Minh chú trọng phát triển một nền
nông nghiệp toàn diện, trong đó hết sức chú trọng sản xuất lương thực, thực
phẩm. Người nói: “nước ta là một nước nông nghiệp, phát triển kinh tế nói
chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không
phát triển thì không phát triển nông nông nghiệp thì không có cở để phát triển
công nghiệp và nông nghiệp cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp vad
tiêu thụ hàng hóa công nghiệp làm ra”11
Hồ Chí Minh rất coi trọng phát triển nông nghiệp nhưng xét về mặt lâu
dài thì công nghiệp có vai trò quyết định với sự phát triển của kinh tế nước ta.
Công nghiệp phát triển mạnh để cung cấp hàng tiêu dùng cho nhân dân, trước
hết là cho nông dân: Cung cấp máy bơm, cải tiến công cụ sản xuất,chế biến
phân bón, thuốc trừ sâu. Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát

hội, xây dựng đời sống ấm no, sung sướng cho nhân dân.
Về vai trò của thương nghiệp, Hồ Chí Minh xác định rõ là cầu nối giữa
công nghiệp và nông nghiệp, giữa giai cấp công nhân và nông dân. Nói
chuyện tại đại hội chiến sỹ thi đua nghành thương nghiệp lần thứ nhất(từ 31-5
đến 05-06-1956), Người nói: “Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế
quốc dân có ba mặt quan trọng: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Ba
mặt công tác có quan hệ mật thiết với nhau. Thương nghiệp là cái khâu giữa
công nghiệp và nông nghiệp. Thương nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ
nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu ch thành thị tiêu dùng.
Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công
12

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập10,Nxb,Chính trị quôc gia,HN 2002,tr180, 40- 41.

5


nghiệp, không củng cố được công nông liên minh. Công tác thương nghiệp
không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc ”13
Thật vậy, Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng chủ nghĩa tư bản khi nó tạo
ra được một nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của sản xuất,
của khoa học và công nghệ. Không có một nền công nghiệp hiện đại thì
không có chủ nghĩa xã hội.
3. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải được tao trên cơ sở chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất.
Người khẳng định rằng: Ở thời kỳ quá độ, nền kinh tế đó còn tồn tại bốn
hình thức sở hữu chính: “ Sở hữu của nhà nước tức là của toàn dân.
- Sở hữu của hợp tác tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.
- Sở hữu của người lao động riêng lẻ.
Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản” 14, trong đó “kinh tế


- Tư bản của tư nhân
- Tư bản của nhà nước
Trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, cho nên kinh tế nước ta
sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư
bản.
Tương ứng với năm thành phần kinh tế là bốn hình thức sở hữu: sở hữu
của nhà nước; sở hữu hợp tác xã; sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở
hữu của các nhà tư bản.
Không chỉ xác định sự tồn tại của các thành phần kinh tế mà Hồ Chí
Minh còn xác định rõ vị trí và xu hướng vận động của các thành phần kinh
tế.Và ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau lại có các thành phần kinh tế khác
nhau, tùy thuộc vào tình hình, đặc điểm của từng thời kỳ.
II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TRONG THỰC HIỆN CƠ CẤU
NHIỀU THÀNH PHẦN KINH TẾ HIỆN NAY.
Đảng ta đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí
Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ vào xây dựng nền kinh tế phát
triển các thành phần kinh tế vững chắc đáp ứng với yêu cầu cách mạng đặt ra,
nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho quần chúng nhân dân lao động, sớm
đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển thể nghiệm qua
kết quả 20 năm đổi mới đất nước (1986 - 2006) mà đại hội Đảng 10 tổng kết
đồng thời đề ra phương hướng phát triển kinh tế và phấn đấu đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam từ trước tới ngày nay, đặc biệt là từ
năm 1986 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đưa ra chủ
trương đổi mới toàn diện trên các mặt của đời sống xã hội, nhưng tập trung
đổi mới về kinh tế. Có thể nói đây là nghị quyết đã mở đường cho nền kinh tế
đất nước phát triển. Và trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước cơ cấu nền
kinh tế cũng có sự khác nhau và sự phát triển của các thành phần kinh tế đó
trong các giai đoạn lịch sử cũng khác nhau, điều đó phụ thuộc vào tính chất

Như vậy, chúng ta thấy từ đại hội Đảng VIII trở về trước, trong cơ cấu
thành phần kinh tế, Đảng ta xác định chưa có thành phần kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài, nhưng từ đại hội IX trở lại đây, Đảng ta xác định có thêm
thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là vì, thực tế trong những năm
gần đây bộ phận đầu tư kinh doanh của nước ngoài chiếm tỉ trọng ngày càng
cao. Có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Trong 10 năm (19918


2000) các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển khá nhanh.
Trong 5 năm (1996-2000) vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện
khoảng 10 tỷ USD, chiếm 23% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội. Như vậy sự
thay đổi của các thành phần kinh tế phụ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể
của từng thời kỳ lịch sử của đất nước. Xong để nền kinh tế đất nước phát triển
vững chắc, ngoài việc sử dụng một cách linh hoạt các thành phần kinh tế,
Đảng ta còn xác định rõ vai trò của từng loại hình kinh tế trong từng thời kỳ,
từng giai đoạn lịch sử. Trong các nền kinh tế đó thì kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày cảng trở thành nền
tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân. kinh tế tư nhân có vai trò quan
trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Doanh nghiệp cổ phần
ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và sở
hữu. Còn vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước không phải thể hiện ở số
lượng doanh nghiệp nhiều hay ít, tỉ trọng đóng góp vào GDP cao hay thấp mà
ở chỗ, đó là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều
tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế
cùng phát triển.
Việc xác định các loại hình sở hữu và phân định các thành phần kinh tế là
rất cần thiết để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển nền kinh
tế nói chung, cho việc phát triển từng thành phần kinh tế nói riêng, nhằm
không phải đề phân biệt đối xử mà là để có chính sách đúng đắn, giải phóng
mọi lực lượng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển phù hợp với

sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Tổ quốc.
Hiện nay trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đai hóa
đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh, hơn lúc nào hết quân đội nhân dân Việt Nam cần phải nang cao nhận
thức, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của
Đảng, về phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần cho nhân dân. Trước hết cần thực hiệ tốt các vấn đề sau:
Một là: Tích cực tham gia chương trình, dự án kinh tế xã hội kết hợp
chặt chẽ kinh tế với quốc phòng an ninh, an ninh trên địa bàn đóng quân, hỗ
trợ đồng bào sản xuất và áp dụng khoa học kỹ thuật mới, xây dựng kết cấu hạ
tầng, tích cực tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo và xây dựng các
vùng kinh tế mới, hướng dẫn đồng bào định canh định cư, ngăn chặn các hiện
10


tượng xâm canh, xâm cư, tham gia trồng vườn, phủ xanh đất trống, đồi núi
trọc, bảo vệ an toàn cho nhân dân lao động sản xuất.
Hai là: Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “ giữ tốt, dùng bền, an
toàn tiết kiệm” mọi cơ sở vật chật, kỹ thuật trang bị cuar quân đội. Tích
cực tăng gia sản xuất cải thiện, nâng cao đời sống bộ đội giảm phần đóng
góp của nhân dân.
Ba là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân
là nền tẩng tư tưởng kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới của chúng ta hiện
nay theo tư tưởng của Người.
Bốn là: Tiếp tục quán triệt quan điểm của Hồ Chí Minh trong đường lối
chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước trong tổ chức và hành động của
mọi tổ chức, mọi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân. Chi có bằng hiệu quả
thực tế trong đường lối kinh tế mới đem lại sự cải thiện đời sống vật chất tinh
thần cho nhân dân.
Tóm lại: Chúng ta khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghiã xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status