Thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người ở việt nam hiện nay - Pdf 42

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÙI THỊ PHƯƠNG THÙY

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62 22 03 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN MINH HOÀN

HÀ NỘI - 2017




3.1. Những thành tựu của thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con
người ở Việt Nam hiện nay
3.2. Những hạn chế trong thực hiện công bằng xã hội đối với việc phát triển
con người ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON
NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
để thực hiện tốt công bằng xã hội, phát triển con người
4.2. Hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội
trong việc thực hiện công bằng xã hội đối với phát triển con người
4.3. Nâng cao vai trò của hệ thống chính trị trong việc thực hiện công bằng xã
hội, phát triển con người
4.4. Nâng cao nhận thức của người dân trong việc thực hiện công bằng xã hội
cho phát triển con người
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
1
5
5
17
23
26

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử loài người là lịch sử các nền văn minh, văn hoá gắn liền với lịch
sử hình thành và phát triển con người (PTCN). Khái niệm PTCN đã được sử
dụng từ lâu trong các ngôn ngữ khác nhau như một thuật ngữ thông dụng. Hơn
150 năm trước, khi khẳng định tiến trình lịch sử của loài người là sự thay thế lẫn
nhau của các hình thái kinh tế xã hội, C.Mác đã nói tới sự phát triển toàn diện
con người là thước đo chung cho sự phát triển kinh tế xã hội. Phấn đấu vì sự
nghiệp PTCN đã trở thành mục tiêu chung của các Đảng Cộng sản trong quá
trình lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng như trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Vấn đề ở chỗ, mặc dù coi con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế
- xã hội và PTCN thường được nhiều quốc gia ưu tiên hàng đầu khi hoạch định
chính sách kinh tế - xã hội, nhưng trên thực tế, không phải quốc gia nào cũng
làm được điều này. Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế mở ra những cơ hội to
lớn cho các nước đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, nhưng cũng đặt ra
những thách thức không nhỏ đối với các quá trình xã hội. Trên thế giới, người ta
cũng đã đề cập nhiều đến sự phát triển không đồng đều giữa kinh tế và xã hội,
giữa các vùng, khu vực, sự gia tăng của nạn nghèo khổ trong nhiều dân tộc, quốc
gia, sự xa cách giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân v.v.. Một điều có thể
khẳng định là, sự chênh lệch lớn giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền
đã làm mất cơ hội phát triển của nhiều nhóm người, nhiều cộng đồng và chính
điều này là nguyên nhân sâu xa của những vấn đề xã hội và sẽ làm tăng thêm
gánh nặng của quốc gia, cộng đồng trong tương lai. Do đó, PTCN bền vững luôn
đi liền với công bằng xã hội (CBXH).
Ở Việt Nam, xuyên suốt lịch sử, con người luôn hiện ra như một giá trị nhân
văn cao cả nhất. PTCN toàn diện luôn là mục tiêu xuyên suốt trong mọi chính sách
của Đảng và Nhà nước ta. Để có thể PTCN toàn diện, mọi chủ trương, chính sách của


4.1. Cở sở lý luận
Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí
Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về CBXH; đồng thời,
luận án cũng kế thừa kết quả nghiên cứu có giá trị của các công trình khoa học
trong và ngoài nước có liên quan.


4
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng tổng hợp các nguyên tắc, phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử lôgic, so sánh, phân tích - tổng hợp v.v.. để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã tiếp cận khái niệm CBXH, thực hiện CBXH dưới góc độ
PTCN, chỉ ra và làm rõ những nội dung của thực hiện CBXH với việc PTCN.
- Luận án đã đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu
và hạn chế trong việc thực hiện CBXH với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay.
Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện CBXH vì mục
tiêu PTCN ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa của luận án
Luận án có giá trị tham khảo đối với việc nghiên cứu lý luận về CBXH,
thực hiện CBXH và PTCN ở Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập triết học và các ngành khoa học
xã hội nhân văn.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp người làm công tác quản lý xã
hội xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo thực hiện CBXH, PTCN.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công
bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm
4 chương, 13 tiết.

J.J Rousseau đưa ra biện pháp để thiết lập tự do, bình đẳng giữa người với người đó
là nhà nước phải được tổ chức cai trị bằng một khế ước xã hội, trong đó, mọi thành
viên kết hợp với nhau thành một lực lượng chung, được điều khiển bằng một động cơ
chung, một ý chí chung. Tư tưởng tiến bộ của J.J Rousseau đã góp phần đánh thức
tinh thần đấu tranh vì tự do, bình đẳng của con người trong cách mạng tư sản Pháp
1789, đồng thời chứa đựng những luận điểm mà nhiều tác giả sau này bàn về CBXH
đã tham khảo.


6
Tư tưởng về CBXH của J.J Rousseau đã được nhà triết học Mỹ J.Rawls
tiếp nối và phát triển trong tác phẩm A theory of Justice [165]. J.Rawls đã đưa ra
một quan niệm mới về CBXH: công lý như là công bằng và coi đây là khái niệm
trung tâm trong cuốn sách. Theo ông, công bằng chỉ có được khi con người tự
nguyện cùng tham dự vào hợp tác xã hội để làm sao cho mỗi cá nhân giành được
lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn lẻ. Vì thế, nếu thể chế của một xã hội là
căn cứ để xác định được một nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ phù
hợp với lợi ích của mỗi cá nhân thì thể chế xã hội ấy là công bằng. Ông cho rằng,
công bằng hay không công bằng trong một thể chế xã hội không phải khác nhau
về xuất phát điểm của mỗi cá nhân mà chủ yếu ở chỗ, khi tham gia vào hợp tác
xã hội, cho dù có sự bất bình đẳng do những khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội
nhưng có sự chấp nhận mang tính tự nguyện trong cơ chế hoạt động hợp tác xã
hội chung thì đó vẫn là công bằng. Quan niệm của J.Rawls về CBXH đã thể hiện
những cố gắng của ông trong việc đưa ra một cách nhìn mới về CBXH.
Cũng với mục đích tìm ra các nguyên tắc để thực hiện CBXH, David
Miller với cuốn sách Principles of social justice [161], cho rằng, CBXH là một
phạm trù lịch sử, nội dung và các nguyên tắc cơ bản của nó phải gắn liền với các
điều kiện khác nhau của các cộng đồng xã hội khác nhau. Tác giả đã đưa ra ba
thành phần chính trong hệ thống các nguyên tắc của CBXH cần phải được thực
hiện và đảm bảo, đó là: công lao, nhu cầu và sự bình đẳng của con người. Cuốn

tập trung vào một số vấn đề như: Bất bình đẳng trong từng nước và giữa các
nước; ý nghĩa quan trọng của công bằng; mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
như là không gian cho bình đẳng. Công bằng được hiểu là công bằng trong các
cơ hội. Báo cáo nhấn mạnh, cơ hội đồng đều tức là sự thành đạt của một người
phải do các nỗ lực, chọn lựa và tài năng của người ấy, chứ không do những hoàn
cảnh có sẵn trước đó như chủng tộc, giới tính, nhóm xã hội, gốc gác gia đình và
sinh quán của họ.
Bên cạnh đó còn có các tác phẩm tiêu biểu khác liên quan đến vấn đề
CBXH như: Justice and the politics of difference [163] của Iric Masion Young;
A Metastructural Reinterpretation of the Rawlsian Theory: From Rawls to
Machiavelli [164] của Jacques Bidet; bài “Distributive Justice” [166], v.v..
Trong khuôn khổ đề tài luận án, những nghiên cứu nêu ra ở đây không thể
bao quát hết các công trình nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới. Vấn CBXH
và thực hiện CBXH được các tác giả nghiên cứu và luận giải chủ yếu dưới góc
độ kinh tế, chính trị, liên quan đến nhiều vấn đề: tự do, bình đẳng, dân chủ, đoàn
kết v.v.. Về cơ bản, các nghiên cứu chủ yếu tập trung luận giải cơ sở xã hội, cơ
sở nhận thức của con người về CBXH; những vấn đề đặt ra trong quá trình thực
hiện CBXH trong thời đại ngày nay. Đồng thời, cũng tùy thuộc vào bối cảnh xã
hội của mỗi quốc gia mà các nghiên cứu này gợi ý những phương án thực thi
CBXH cụ thể. Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu phục vụ tác giả luận án
trong công tác nghiên cứu và tìm kiếm những giải pháp thực hiện CBXH.


8
* Các công trình nghiên cứu trong nước
Về khái niệm công bằng xã hội
Xung quanh khái niệm CBXH, có các công trình tiêu biểu: Hiện đại hóa
xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội [60]; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Công bằng xã
hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội [49]; Những vấn đề lý luận cơ bản về
công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay [147]; Công bằng xã hội

9
để khuyến khích tối đa khả năng đóng góp và hạn chế tối thiểu khả năng gây hại
của mỗi cá nhân cho xã hội trong lâu dài.
Đa phần các nhà khoa học đều khẳng định, CBXH là phạm trù lịch sử,
mang tính giai cấp, có thể được xem xét ở nhiều phương diện: kinh tế, chính trị,
pháp quyền, đạo đức v.v... trong đó kinh tế là phương diện cơ bản nhất. Các tác
giả cũng phân biệt rất rõ hai khái niệm CBXH và bình đẳng xã hội.
Về khái niệm thực hiện công bằng xã hội
Có nhiều công trình nghiên cứu về thực hiện CBXH, tuy nhiên, phần lớn
các công trình tập trung phân tích những kết quả và thực trạng việc thực hiện
CBXH, còn vấn đề lý luận thực hiện CBXH gần như chưa có công trình nào đề
cập đến.
Trong cuốn sách Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong
điều kiện nước ta hiện nay [147], các tác giả đã đưa ra những nguyên tắc phương
pháp luận cơ bản trong việc nhận thức và thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay:
Nguyên tắc khách quan, nguyên tắc lịch sử cụ thể, nguyên tắc toàn diện. Tiền đề để
thực hiện CBXH là sự tiếp cận bình đẳng của mọi người với các điều kiện và
nguồn lợi phát triển, và phụ thuộc vào trách nhiệm xã hội của quản lý Nhà nước
trong việc điều hòa lợi ích xã hội theo hướng công bằng. Các tác giả cũng chỉ ra
hai nội dung cơ bản của việc thực hiện CBXH: Phân phối công bằng và bình đẳng
về cơ hội.
Nghiên cứu thực hiện CBXH trong nền kinh tế thị trường, các tác giả của
cuốn sách Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng xã hội [60] đã chỉ ra rằng,
trong giới hạn của kinh tế thị trường đã bao hàm việc thực hiện CBXH, tuy nhiên, nó
không thể thực hiện triệt để, rộng khắp và toàn diện. Thực hiện CBXH theo tác giả
phải được thực hiện bằng nhiều hình thức phân phối, ngoài việc phân phối theo cống
hiến cần phân phối công bằng các nguồn lực phát triển cho các vùng, miền, ngành,
nghề; thực hiện công bằng trong việc phân phối các thành quả của sự phát triển xã
hội trên các phương diện như giáo dục, y tế, hạ tầng cơ sở, v.v.. nhằm đảm bảo cho
mọi người có được cơ hội và điều kiện sống, lao động bình đẳng. Các tác giả cho

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về
công CBXH và thực hiện CBXH phong phú, được tiếp cận dưới nhiều góc độ
khác nhau. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều thống nhất ở quan điểm
coi CBXH là một giá trị định hướng con người sinh sống và phát triển, thực
hiện CBXH là mục tiêu của các nhà nước dân chủ và tiến bộ. Thực hiện CBXH
được thể hiện tập trung ở hai nội dung chính là đảm bảo công bằng trong phân
phối và công bằng về cơ hội. Nhìn chung, ở nước ta hiện nay, các công trình
chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ thực hiện CBXH trong phân phối. Những công
trình trên sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi tiếp thu, bổ sung và phát
trển trong nghiên cứu của mình.


11
1.1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về phát
triển con người và thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển con người
Quan điểm PTCN từ lâu đã được biết đến như là một quan điểm triết học
cơ bản, đặc biệt là trong triết học Mác và tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh.
Đây cũng là nội dung xuyên suốt các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam. Xung
quanh vấn đề PTCN ở nước ta hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, sau
đây là một số các công trình tiêu biểu.
Cuốn sách Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác
và Ph.Ăngghen [125] đã tập trung nghiên cứu để tiếp tục làm sáng tỏ cơ sở lý
luận đối với PTCN ở Việt Nam. Phần thứ nhất của cuốn sách đã trình bày một
cách có hệ thống những luận điểm về con người và PTCN của C.Mác và
Ph.Ăngghen: Con người là gì, bản chất con người, vấn đề giải phóng con người,
đặc biệt những tư tưởng về con người tự nhiên, con người cá nhân, con người cá
thể, những tư tưởng ở thời “Mác trẻ” - giai đoạn mà lâu nay ta ít khai thác.
Tương ứng với các luận điểm đó là các trích dẫn tư tưởng của các ông đã đưa
độc giả đi từ bao quát đến cụ thể để có thể nắm bắt vấn đề tốt hơn cũng như hiểu
sâu hơn tư tưởng của các nhà kinh điển về vấn đề này. Phần thứ hai gồm bài viết

sách liên quan đến PTCN, trong đó phải kể đến ba cuốn sách: Phát triển giáo dục,
phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội [55], Nghiên cứu con người
và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa [56], Về phát triển toàn
diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [57]. Theo tác giả, phát triển
toàn diện con người là “khắc phục tình trạng tha hóa, phát triển toàn diện, hài hòa,
cân đối trí lực và thể lực, đức và tài, phát triển cá tính và sự phong phú của con
người, phát triển một cách tự do, đầy đủ và làm chủ, thích ứng với sự di động chức
năng xã hội của con người” [57, tr.33]. Tác giả khẳng định vai trò của CBXH đối
với việc PTCN. CBXH tạo ra động lực mạnh mẽ cho hoạt động của con người. Giải
quyết vấn đề phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo chính là thực hiện CBXH vì
mục tiêu PTCN.
Cùng chủ đề này chúng ta còn phải kể đến các công trình nghiên cứu Về
vấn đề xây dựng con người mới [24]; Tư tưởng triết học về con người [137]; Tư
tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn
diện [31]; các bài viết của tác giả Đặng Hữu Toàn: “Phát triển vì con người trong
quan niệm của Mác và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu
phát triển con người ở nước ta hiện nay” [140]; “Phát triển con người Việt Nam
toàn diện với tư cách là mục tiêu, động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước” [141]; “Gắn phát triển con người Việt Nam hiện đại với giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc” [142]; “Phát triển con người - thước đo
nhân văn của tiến bộ xã hội trong thời đại ngày nay và trong công cuộc đổi mới
ở Việt Nam” [143] đã cung cấp cho tác giả luận án cơ sở lý luận quan trọng cho
việc nghiên cứu con người và PTCN.


13
Ngoài những công trình nghiên cứu PTCN theo quan điểm mácxít trong
những năm gần đây xuất hiện cách tiếp cận mới theo phương pháp lượng hóa
PTCN, trong đó phải kể đến: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 - Đổi
mới và sự nghiệp phát triển con người ở Việt Nam [153]; Báo cáo phát triển con



14
giáo dục trong HDI - Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu [15] v.v... Các
công trình đã cho thấy vai trò của kinh tế, chính trị, xã hội đối với PTCN, chỉ ra
những vấn đề cần quan tâm trong việc mở rộng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục,
văn hóa cho người nghèo ở Việt Nam. Mở rộng cơ hội tiếp cận ở đây cũng chính
là góp phần thực hiện CBXH, PTCN.
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề PTCN rất
phong phú, đa dạng, tiếp cận dưới nhiều góc độ. PTCN bị quy định bởi nhiều
yếu tố trong đó có CBXH. Các nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra được vai trò của
việc thực hiện CBXH đối với việc PTCN.
Đi sâu hơn vào vai trò của thực hiện CBXH đối với việc PTCN gần như
chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Theo chúng tôi được biết duy
nhất có bài viết của tác giả Phạm Thành Nghị “Công bằng xã hội và phát triển
con người bền vững” [49] đề cập trực tiếp đến mối quan hệ giữa CBXH và
PTCN. Vai trò của CBXH đối với PTCN được thể hiện qua các nội dung: thứ
nhất, tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho phát triển năng lực thông qua các chính
sách xã hội và chính sách kinh tế và các chương trình hướng tới sự hoàn thiện
con người; thứ hai, sự bình đẳng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực do tăng trưởng
mang lại, tạo điều kiện để PTCN bền vững, liên quan đến xây dựng và thực thi
các chính sách kinh tế và chính sách xã hội; thứ ba, thông qua tăng cường sự
bình đẳng về cơ hội tham gia; thứ tư: sự bình đẳng giữa các thế hệ. Tác giả
khẳng định, bình đẳng tiếp cận và bình đẳng về cơ hội là các yếu tố cơ bản nhất
tạo điều kiện cho PTCN bền vững. Đây là những gợi mở quan trọng để tác giả
luận án có thể tiếp thu.
Nhìn chung, vai trò của thực hiện CBXH với việc PTCN chủ yếu được đề
cập gián tiếp thông qua vai trò của thực hiện CBXH với tiến bộ xã hội, với sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Con người với tư cách vừa là chủ thể,
vừa là mục tiêu của sự phát triển triển, do đó, phát triển kinh tế - xã hội cũng

người bị đối xử bất công sẽ không thể phát huy hết tính tích cực của mình, hơn
nữa, họ luôn đấu tranh đòi công bằng, cuộc đấu tranh này không tránh khỏi bất
ổn xã hội. CBXH luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam coi vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển xã hội. Để có được CBXH trong điều kiện kinh tế
thị trường, cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp
mà Đảng ta đã đề ra. Để phát huy vai trò động lực của CBXH, theo tác giả, cần
khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện CBXH hiện đang còn tồn tại.
Tiếp cận dưới góc độ vai trò của thực hiện CBXH đối với các thành phần
kinh tế, các tác giả cuốn sách Thực hiện công bằng đối với các thành phần kinh
tế ở Việt Nam hiện nay [78] cho rằng, công bằng trong phân phối các nguồn lực
xã hội sẽ thúc đẩy phát triển và làm lành mạnh hóa môi trường sản xuất kinh
doanh. Phân phối công bằng tạo ra môi trường tương tác hài hòa giữa các chủ
thể, tạo cho các chủ thể cơ hội phát triển ngang nhau và hưởng thụ sòng phẳng


16
theo năng lực trên thị trường. Điều này giúp hạn chế sự lạm dụng đặc quyền, đặc
lợi, lạm dụng nguồn lực phát triển cho xã hội. Trên bình diện vĩ mô, CBXH đối
với các thành phần kinh tế là động lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững. CBXH
đối với các thành phần kinh tế góp phần vào sự ổn định xã hội ở chỗ: cốt lõi của
nó là thực hiện hài hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội, từ đó tạo điều kiện giải
quyết các mâu thuẫn xã hội một cách hợp lý, thỏa đáng thông qua phân phối lợi
ích một cách công bằng.
Tiếp cận dưới góc độ phân phối, các tác giả của cuốn sách “Phân phối
bình đẳng các nguồn lực kinh tế: Tiếp cận lý luận và thực tiễn ở một số quốc
gia” [132] cho rằng, việc phân phối bình đẳng các nguồn lực xã hội sẽ khuyến
khích sự sáng tạo của các chủ thể kinh tế, làm lành mạnh hóa môi trường sản
xuất kinh doanh, thúc đẩy xã hội phát triển. Phân phối bình đẳng còn bao hàm
việc tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng cho mọi chủ thể xã hội, đặc biệt là nhóm
người dễ bị tổ thương. Theo các tác giả, sự phân phối không bình đẳng các

liên quan đến đề tài luận án ít nhiều có thể thấy được thực trạng thực hiện CBXH
với việc PTCN ở Việt Nam hiện nay.
Với báo cáo “Công bằng xã hội ở Việt Nam: nhận diện và giải pháp” [49],
tác giả Đỗ Huy đã khái quát bốn thời kỳ thực hiện CBXH ở nước ta. 1) Thời kỳ
trước Cách mạng tháng Tám, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến,
tuyệt đại bộ phận nhân dân sống lầm than, cơ cực trong bất công của thân phận
người dân mất nước. Đây là thời kỳ mất công bằng toàn diện. 2) Thời kỳ sau
Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đây là thời kỳ hình thành những chuẩn mực
công bằng mới cho xã hội, người ta chỉ nghĩa đến cống hiến mà ít nghĩ đến
hưởng thụ; nghĩ đến lao động cho tổ quốc mà không nghĩ đến thu vén cá nhân.
3) Thời kỳ thực hiện cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp. Thời kỳ này đã tạo ra
được nhiều giá trị công bằng về y tế, giáo dục nhưng nó đã làm cho xã hội Việt
Nam phát triển chậm chạp và tạo ra sự mất công bằng ở lĩnh vực phân phối. 4)
Thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay. Đây là thời kỳ thực hiện CBXH theo cơ
chế thị trường định hướng XHCN. Tác giả nhấn mạnh, những di hại của chiến
tranh gây nên khá nhiều bệnh tật cần được khắc phục. Vì thế, muốn có CBXH,
không thể phân phối theo cơ chế thị trường thông thường, mà Việt Nam đã thực
hiện phân phối theo lao động trên cơ sở kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Cơ chế thị trường định hướng XHCN tạo nên những chuẩn mực mới để thực
hiện CBXH. Các chuẩn mực này xuất phát từ đạo lý uống nước nhớ nguồn
truyền thống. Để thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, chúng ta thực hiện cơ chế
phân phối theo lao động là chủ yếu, đồng thời Nhà nước Việt Nam đã đề ra rất
nhiều chính sách nhằm giúp đỡ những người tàn tật, già yếu, cô đơn, các gia
đình thương binh liệt sĩ, những dân tộc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, những gia
đình có công với cách mạng, các chính sách xóa đói, giảm nghèo. Tác giả cũng
chỉ ra những hạn chế, bất cập của việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay:
nhiều nghề lao động giản đơn lại có thu nhập lớn hơn nhiều lần lao động phức


18

Duy Quý trong báo cáo “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa” [49] khẳng định, CBXH trong phân phối ở nước
ta hiện nay cơ bản theo nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động,
hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào


19
sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Cùng quan điểm
với tác giả Lê Hữu Tầng, không nhất thiết phải giàu có mới thực hiện CBXH,
hơn thế nữa càng chưa giàu có, càng nghèo khó lại càng phải thực hiện CBXH,
nếu muốn tạo ra bầu không khí hoà thuận, tin yêu lẫn nhau, nếu muốn giữ gìn
cho xã hội ổn định. CBXH chính là động lực mạnh mẽ của tăng trưởng kinh tế.
Nhờ giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới chính sách kinh tế với đổi mới
chính sách xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về PTCN:
liên tục dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích xóa đói, giảm nghèo; đã
tăng cường khả năng tiếp cận với giáo dục tiểu học, nước sạch và vệ sinh môi
trường; giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi v.v.. Kết quả là đã cải thiện đáng
kể cuộc sống của người dân. Người dân Việt Nam giờ đây có tuổi thọ dài hơn,
sức khỏe tốt hơn.
Cũng theo hướng tiếp cận trên, báo cáo “Công bằng xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [49]
của tác giả Phạm Xuân Nam đã phân tích việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và
CBXH trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta qua hơn 20
năm đổi mới đã góp phần nâng cao chỉ số PTCN: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
đời sống của đại đa số nhân dân được cải thiện rõ rệt; cả nước đã đạt chuẩn quốc
gia về xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học; công tác chăm sóc sức khỏe nhân
dân có tiến bộ, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên. Bên cạnh những
thành tựu đã đạt được, tác giả đã nêu ra một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình
thực hiện CBXH ở Việt Nam: Việt Nam vẫn còn là một nước đang phát triển
với mức thu nhập thấp; khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa

sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm; sự phân hóa giàu nghèo, chênh
lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư có xu hướng tăng lên. Vấn đề nghèo
đói làm gia tăng chênh lệch về mức sống, khả năng và điều kiện tiếp cận các
cơ hội phát triển.
Trong lĩnh vực giáo dục, y tế vẫn còn các hiện tượng bất CBXH: tình
trạng thương mại hóa giáo dục và y tế; vấn đề viện phí, học phí... là những rào
cản để người nghèo có cơ hội tiếp cận bình đẳng với giáo dục, y tế.
Những vấn đề mà các tác giả nêu ra bước đầu mới dừng lại ở việc đưa ra
ý kiến, chưa có sự phân tích đi sâu, song là những gợi ý để tác giả luận án tiếp
tục đi sâu, làm rõ.
Chương 3 của cuốn sách Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [71], tác giả
Nguyễn Minh Hoàn đã góp phần làm rõ một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện
CBXH ở nước ta hiện nay. Trước tiên, việc thực hiện CBXH ở nước ta trong thời
kỳ đổi mới đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, song lại
làm gia tăng phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng. Đây là hệ quả tất yếu của việc
thực hiện nguyên tắc phân phối đảm bảo CBXH trong thời kỳ quá độ của nước ta
đi lên CNXH. Đó là điều chúng ta không mong muốn vì nó hoàn toàn không phù
hợp với mục tiêu xây dựng CNXH. Trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status