TIỂU LUẬN: BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - Pdf 12


TIỂU LUẬN:

BẢO Đ
ẢM CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÌ
SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
coi công bằng xã hội là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Để có được
công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, cần phải xác định và thực

Vào những năm đầu của thời kỳ này, thành tựu trong việc xoá bỏ bất công bằng xã
hội là rất to lớn. Đặc biệt, nhờ chính sách cải cách ruộng đất nên ước mơ “người
cày có ruộng” của hàng triệu nông dân đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên, sau một
thời gian không lâu, sản xuất lại trở nên trì trệ, do đó đời sống nhân dân thấp kém
và đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nguyên nhân của tình
hình sản xuất trở nên trì trệ là gì? Chắc chắn nó có nguyên nhân ở chỗ người lao
động không hoàn toàn phấn khởi để phát huy hết tính tích cực của mình. Nhưng vì
sao người lao động lại không hoàn toàn phấn khởi để phát huy hết tính tích cực
của mình? Đó là vì lợi ích chính đáng của họ chưa được đảm bảo, hay nói cách
khác, vì vẫn còn sự bất công bằng xã hội. Sự bất công của chế độ thực dân và
phong kiến được xoá bỏ thì bất công mới lại nảy sinh, đó là sự phân phối bình
quân, cào bằng.
Từ năm 1986, nhờ thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, Việt Nam đã thoát ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội và có được sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt: kinh
tế phát triển với tốc độ cao, xã hội ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được cải
thiện hơn. Sở dĩ chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường đem lại sự phát triển vượt bậc như vậy là vì chủ
trương đó đã góp phần khắc phục sự bất công của chính sách phân phối bình quân,
cào bằng.
Xoá bỏ sự bất công của chính sách phân phối bình quân, cào bằng đương nhiên sẽ
làm cho khoảng cách giàu nghèo tăng hơn. Do đồng nhất sự bình đẳng với sự
công bằng, một số người cho rằng sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo là biểu
hiện của tình trạng bất công gia tăng. Cũng theo quan niệm của họ, hai mục tiêu
công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế không thể đồng thời đạt được; muốn có
tăng trưởng kinh tế thì phải chấp nhận sự bất công bằng xã hội và trong điều kiện hiện nay, cần phải ưu tiên cho sự tăng trưởng kinh tế(1).
Khác với quan niệm trên đây, Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, để đạt được

đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát
triển: tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục…, giải quyết
tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối
chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn
cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội”(5).
Quan điểm trên thể hiện sự thay đổi quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng
sản Việt Nam so với thời kỳ trước đổi mới về nguyên tắc phân phối bảo đảm công
bằng xã hội. Vì sao? Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới, Việt
Nam cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác quan niệm rằng, nguyên tắc phân
phối bảo đảm công bằng xã hội là nguyên tắc phân phối theo lao động (làm nhiều
hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng). Nguyên tắc phân phối
theo lao động đòi hỏi giá trị của tổng sản phẩm xã hội được chia thành hai phần:
phần thứ nhất được dành để tái sản xuất, để giải quyết các vấn đề xã hội chung, để
đóng góp vào quỹ phúc lợi xã hội và từ đó, phân phối thông qua phúc lợi xã hội;
phần thứ hai sẽ được phân phối cho các cá nhân theo mức cống hiến bằng sức lao
động của họ cho xã hội (bao gồm cả cống hiến bằng sức lao động chân tay và
cống hiến bằng sức lao động trí óc, cống hiến của người lao động quản lý và
người lao động không tham gia quản lý, cống hiến trực tiếp và cống hiến gián tiếp
cho quá trình sản xuất của xã hội, cống hiến của tất cả những người làm việc trong
mọi lĩnh vực không thể thiếu của xã hội). Nguyên tắc phân phối theo lao động
không dành phần nào để phân phối theo nguồn vốn.
Từ khi chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam thực hiện nguyên tắc phân phối “theo kết
quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và
các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”. Với
việc thực hiện nguyên tắc phân phối đó, Việt Nam đã xoá bỏ đáng kể sự bất công
do phân phối bình quân. Việc xoá bỏ sự bất công này là một nguyên nhân đưa đến
những thành công ngoạn mục của Việt Nam về kinh tế và xã hội, được cộng đồng
thế giới thừa nhận. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục với tốc độ cao. Bên

nhờ lợi dụng được sự bất hợp lý trong chính sách của Nhà nước. Một số người vẫn
phải sống trong cảnh quá nghèo khổ trong khi thu nhập bình quân một người một năm ở Việt Nam đã đạt khoảng 1000 USD(8). Trong số những người nghèo, nhiều
người không đáng phải chịu cảnh nghèo vì nguyên nhân gây ra sự nghèo là khách
quan chứ không phải do họ lười biếng.
Trong thời kỳ trước đổi mới, Việt Nam có một hệ thống giáo dục và y tế không
mất tiền, vì được nhà nước bao cấp. Còn hiện nay? Bên cạnh các cơ sở giáo dục
và y tế công lập, còn có các cơ sở giáo dục và y tế tư nhân. Các cơ sở giáo dục và
y tế tư nhân thì hoạt động theo cơ chế thị trường: người bỏ vốn ra kinh doanh có
mục đích thu lợi nhuận từ nguồn học phí của người học và viện phí của người
bệnh. Đó là điều bình thường. Các cơ sở giáo dục và y tế công lập, ngoài kinh phí
do nhà nước cấp, còn thu thêm học phí và viện phí. Điều này dẫn đến tình trạng là
chỉ những người có tiền đóng học phí và viện phí mới được hưởng dịch vụ giáo
dục và chữa bệnh từ các cơ sở giáo dục và y tế công lập. Các cơ sở giáo dục và y
tế công lập là tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Mọi người đều có quyền được hưởng
một phần dịch vụ giáo dục và y tế từ các cơ sở giáo dục và y tế này. Nhưng trên
thực tế, nhiều người có nhu cầu học tập hoặc chữa bệnh đã không được hưởng
quyền lợi từ các cơ sở giáo dục và y tế công lập do không có tiền đóng học phí và
viện phí. Đây là một biểu hiện của tình trạng bất công còn tồn tại ở Việt Nam.
Nhận diện sự bất công hợp pháp thường phức tạp hơn nhận diện sự bất công phi
pháp. Trong thời kỳ trước đổi mới, khi thực hiện sự phân phối bình quân để xoá
bỏ khoảng cách giàu nghèo giữa các bộ phận dân cư, chúng ta tưởng rằng như thế
là xoá bỏ được bất công nhưng thực ra lại là tạo ra sự bất công. Còn trong thời kỳ
đổi mới, tuy đã xoá bỏ sự phân phối bình quân, nhưng trên thực tế chúng ta vẫn
chưa thực hiện được sự công bằng vì sự bất hợp pháp và sự bất hợp lý trong phân
phối của cải và cơ hội phát triển. Khắc phục sự bất công này trước hết là trách
nhiệm của nhà nước.
Chúng ta không thể xoá bỏ kinh tế thị trường vì điều đó triệt tiêu động lực của sự

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.88.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.77-78.
(6) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd., tr.57-59.
(7) Hiện chưa có công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào về thực trạng
tham nhũng ở Việt Nam. Tuy nhiên, một số tổ chức cũng đã có đánh giá bước đầu
về tình hình tham nhũng ở Việt Nam. Chẳng hạn, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (có
trụ sở ở Đức) từ năm 1995 đã khảo sát, cho điểm và xếp hạng tham nhũng của các
quốc gia. Năm 2004 Việt Nam được 2,6 điểm trên 10 và xếp hạng 102 trong 146
nước được đánh giá. Đứng đầu danh sách này là Phần Lan với 9,7 điểm. Đứng
cuối danh sách này là Haiti với 1,5 điểm. Không có nước nào đạt điểm tuyệt đối
(điểm 10). Nguồn: Vietnamnet ngày 5/12/2004.
(8) Khoảng cách giàu nghèo gia tăng giữa các bộ phận dân cư và tỷ lệ nghèo phần
nào nói lên tình trạng bất công của xã hội. Nếu xét theo nhóm dân cư, khoảng
cách giàu nghèo giữa nhóm có thu nhập thấp nhất và cao nhất ở Việt Nam đang
ngày một cách biệt. Khoảng cách này năm 1996 là 7,31 lần; năm 2001 - 2002 là
8,10 lần, năm 2003-2004 là 8,34 lần, còn bộ ba con số này giữa vùng Đông Nam
Bộ giàu nhất và vùng Tây Bắc Bộ nghèo nhất là 2,18 lần; 3,15 lần và 3,14 lần. Ở
thời điểm hiện nay, cùng với việc gia nhập WTO và động thái của thị trường thế
giới sắp tới, khoảng cách giàu nghèo có thể còn tiếp tục nới rộng ra nhanh hơn
nữa. Theo tiêu chí giai đoạn 2006 - 2010, hộ có thu nhập dưới 230.000
đồng/người/tháng ở thành thị và 200.000 đồng/tháng ở nông thôn là thuộc hộ
nghèo. Ở thời điểm cuối năm 2007, cả nước còn 14,8% hộ nghèo. Xu thế giảm
nghèo tuy rõ rệt ở tất cả các vùng, các đối tượng, song tỷ lệ nghèo và tốc độ giảm
nghèo có sự khác nhau khá rõ giữa các vùng miền. Đến cuối năm 2006, cả nước
còn 58 huyện có tỷ lệ nghèo trên 50%. Trong đó có 27 huyện có tỷ lệ hộ nghèo

MISEREOR lần đầu tiên đồng tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về chủ đề “Công
bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội” với sự tham dự của đông đảo các
học giả trong nước và quốc tế. Để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển quan hệ hợp tác trên
lĩnh vực khoa học nhằm trao đổi các kết quả nghiên cứu cũng như chia sẻ những
kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn của mỗi bên, hôm nay, chúng ta lại cùng tổ
chức một diễn đàn khoa học mới đề cập tới một vấn đề cụ thể, mang tính chuyên sâu
hơn, có tính thực tiễn hơn - đó là trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường.
Như chúng ta đã biết, sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,
đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, đã làm cho sức mạnh của
con người được nhân lên gấp bội. Biết bao phát minh, thành tựu to lớn của khoa học
công nghệ trong thế kỷ XX đã thể hiện năng lực sáng tạo phi thường của con người, giúp con người biến những điều trước đây là không thể trở thành cái có thể, biến ước
mơ thành hiện thực. Phải thừa nhận rằng, khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang
là công cụ đắc lực để con người xây dựng một cuộc sống ngày càng giàu có, tiến bộ
và văn minh hơn. Song, cũng có một thực tế không thể phủ nhận được là, đi ngược
lại với xu thế phát triển tích cực của nhân loại, vẫn có những toan tính lợi dụng
những tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ cho mục tiêu phi nhân tính và trái với
lợi ích chung. Chẳng hạn, thay vì sử dụng với mục đích phát triển và hoà bình, năng
lượng hạt nhân đang bị lạm dụng trong cuộc chạy đua vũ trang giữa các cường quốc,
biến thành công cụ “răn đe” nước khác. Tương lai của thế giới, của loài người sẽ ra sao
nếu chiến tranh hạt nhân - cuộc chiến mang tính huỷ diệt xảy ra? Đây chỉ là một trong
số rất nhiều vấn đề buộc chúng ta phải suy nghĩ một cách nghiêm túc.
Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang ngày càng lan rộng với
quy mô, tính chất và cường độ ngày càng lớn. Chúng ta đã nhận thấy từ quá trình đó
cả những cơ hội lẫn thách thức, cả những thuận lợi lẫn khó khăn đối với sự tồn tại,
phát triển của tất cả các quốc gia, dân tộc trên toàn cầu. Đứng trước làn sóng này, số
phận của các quốc gia dân tộc, đặc biệt là các nước nghèo và chậm phát triển sẽ như

động mang tính trách nhiệm cao thì rất có thể những hệ giá trị, những thành quả phát
triển tốt đẹp mà nhân loại đã đạt được sẽ bị đảo ngược, sẽ không thể có một thế giới
phát triển vì con người, cho con người.
Trách nhiệm xã hội là ý thức của mọi chủ thể về nghĩa vụ, bổn phận của mình đối
với xã hội, với cộng đồng và với người khác; được biểu hiện qua nhận thức và hành
động cụ thể trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự
nhiên. Về thực chất, trách nhiệm xã hội được hình thành từ quyền và nghĩa vụ của cá
nhân đối với xã hội cũng như của xã hội đối với cá nhân. Cơ sở của trách nhiệm
chính là lợi ích. Do vậy, việc coi trọng và giải quyết một cách thoả đáng, hợp lý quan
hệ lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế giữa các chủ thể (cá nhân, cộng đồng và xã hội)
không chỉ tạo nên động lực thúc đẩy các chủ thể trong quá trình thực hiện lợi ích của
mình, mà còn làm tăng sự quan tâm của họ tới lợi ích của người khác, của xã hội,
nghĩa là gia tăng trách nhiệm xã hội của các chủ thể. Nói cách khác, trách nhiệm xã
hội được coi là chìa khoá của sự phát triển xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Trách nhiệm phản ánh mối quan hệ qua lại giữa cá nhân với cộng đồng (nhóm, tập
thể) và xã hội. Mỗi cá nhân, bên cạnh những quyền được thừa nhận và bảo đảm bằng
pháp luật, còn phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội; ngược lại, cộng đồng
và xã hội cũng phải có trách nhiệm đối với các thành viên của mình. Chỉ có như vậy mới tạo nên sự đồng thuận, phát triển hài hoà và bền vững của xã hội với tư cách một
chỉnh thể thống nhất. Sự phát triển trách nhiệm của con người không chỉ là một tiêu
chí quan trọng thể hiện trình độ phát triển của xã hội, mà hơn thế, còn là nền tảng, là
cơ sở và động lực của sự phát triển xã hội.
Vấn đề đặt ra không chỉ là nhận diện trách nhiệm xã hội và luận giải thấu đáo các nội
dung đa dạng của nó, mà quan trọng hơn là, từ những nghiên cứu lý luận và tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn của mỗi nước, cần phải làm thế nào để phát huy được trách
nhiệm xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập
quốc tế? Đó cũng chính là mục tiêu cơ bản nhất mà cuộc Hội thảo của chúng ta hôm
nay hướng đến.

xã hội. Trên cơ sở làm rõ những lợi ích to lớn từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội
của các doanh nghiệp và đánh giá khái quát tình hình thực thi trách nhiệm xã hội
của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, sự thành công trong việc đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng kinh tế đang đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề về môi trường và
xã hội bức xúc. Chính những vấn đề đó đang đòi hỏi các chủ thể kinh tế, trong đó có
cả các doanh nghiệp, phải có trách nhiệm để góp phần giải quyết, nếu không bản
thân sự phát triển kinh tế sẽ không bền vững và sẽ phải trả giả quá đắt về môi trường
và những vấn đề xã hội.
Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
mới được đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũng đã nói nhiều về
trách nhiệm xã hội của các xí nghiệp đối với nhà nước và người lao động, cũng như
đối với cộng đồng nói chung. Nhưng, trong những năm gần đây, trách nhiệm xã hội
được hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ từ phương diện đạo đức, mà cả từ
phương diện pháp lý. Những tác hại về môi trường do một số doanh nghiệp gây ra
trong thời gian qua không những bị dư luận lên án về phương diện đạo đức, mà quan
trọng hơn là cần phải được xử lý nghiêm khắc về phương diện pháp lý. Do đó, không
phải ngẫu nhiên, trong những năm gần đây, trên sách báo và nhiều diễn đàn ở Việt
Nam, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpđã và đang được sử dụng ngày
càng phổ biến. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ và được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong
bài viết này, chúng tôi muốn tập trung làm rõ nội dung trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và một số vấn đề thực tiễn đang được đặt ra ở Việt Nam hiện nay.

1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: một số vấn đề lý luận
Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mới chính thức xuất hiện cách đây

Nói cách khác, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những
chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao
động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố,
các mặt, như: 1. Bảo vệ môi trường; 2. Đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3. Thực hiện
tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; 4. Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng;
5. Quan hệ tốt với người lao động; và 6. Đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao
đông trong doanh nghiệp. Trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên
ngoài của doanh nghiệp, còn hai yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của
doanh nghiệp. Tất nhiên, sự phân chia thành trách nhiệm bên ngoài và trách nhiệm bên
trong chỉ có ý nghĩa tương đối và không thể nói trách nhiệm nào quan trọng hơn trách
nhiệm nào.
Với những nội dung cụ thể như vậy về trách nhiệm xã hội thì việc thực hiện trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững,
mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội nói chung.
Như chúng ta đều biết, ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến
lược và được đề ra từ những năm 80 của thế kỷ XX. Cùng với thời gian, khái niệm
phát triển bền vững đã có sự thay đổi về nội hàm và ngày càng được bổ sung thêm
những nội dung mới.
Xét về nguồn gốc, thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70 của thế kỷ
XX và bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu về môi trường và phát triển
quốc tế nhờ sự ra đời của công trình Chiến lược bảo tồn thế giới(1980)(2). Sau đó, tư
tưởng về phát triển bền vững được trình bày trong một loạt công trình, như Tương
lai chung của chúng ta (1987), Chăm lo cho trái đất (1991)(3) Khi nói về sự phát
triển bền vững, người ta thường sử dụng hai định nghĩa đã được nêu ra trong các
cuốn sách nói trên. Trong cuốn Tương lai chung của chúng ta, phát triển bền vững
được hiểu là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai; còn trong cuốn Chăm lo cho trái
đất, phát triển bền vững được xác định là việc nâng cao chất lượng đời sống con

Có thể nói, đây là những nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển bền vững của
Việt Nam. Chiến lược đó đã thể hiện khá rõ sự kết hợp giữa quan điểm truyền thống,
kinh điển và quan điểm mới, riêng của Việt Nam.
Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam, chúng ta có thể nhận
thấy rằng:
Thứ nhất, yếu tố ổn định chính trị - xã hội được xem là tiền đề, điều kiện để phát
triển nhanh và bền vững.
Thứ hai, chiến lược phát triển nhanh, bền vững tập trung nâng cao chất lượng phát
triển, kết hợp giữa phát triển kinh tế với việc phát triển toàn diện con người, thực
hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống,
khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng
bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển.
Thứ ba, chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã đề cập một cách khá toàn
diện các khía cạnh khác nhau của sự phát triển, trong đó nổi lên việc giải quyết hài
hòa các mối quan hệ, như hài hòa giữa phát triển nhanh và bền vững, giữa tăng
trưởng về số lượng và nâng cao chất lượng, giữa phát triển theo chiều rộng và phát
triển theo chiều sâu; hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội,
giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ và cải thiện môi trường, v.v Hài hòa là một
trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bền vững.
Thứ tư, vấn đề trọng tâm, mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển bền vững chính
là vấn đề dân sinh. Điều đó được thể hiện trong nội dung của chiến lược mà chúng
tôi vừa trình bày. Chiến lược phát triển nhanh và bền vững đã chú trọng đến chất
lượng của sự tăng trưởng kinh tế, những mục tiêu của sự tăng trưởng hướng tới sự
phát triển toàn diện của con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội,
tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với
xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong
từng bước phát triển. Rõ ràng, mục tiêu của sự tăng trưởng như vậy là nhằm giải
quyết ngày càng tốt hơn vấn đề dân sinh, bảo đảm cho mọi người dân có cuộc sống

ví dụ về lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Thứ nhất, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần giảm chi phí và tăng năng suất. Một
doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất nhờ đầu tư, lắp đặt các thiết bị mới. Chẳng hạn, một doanh nghiệp sản xuất bao bì lớn của Ba Lan đã tiết kiệm được
12 triệu đô la Mỹ trong vòng 5 năm nhờ việc lắp đặt thiết bị mới, nhờ đó làm giảm
7% lượng nước sử dụng, 70% lượng chất thải nước và 87% chất thải khí(5).
Chi phí sản xuất và năng suất lao động phụ thuộc chặt chẽ vào hệ thống quản lý nhân
sự. Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí
và tăng năng suất lao động đáng kể. Chế độ lương, thưởng hợp lý, môi trường lao
động sạch sẽ và an toàn, các cơ hội đào tạo và chế độ bảo hiểm y tế và giáo dục đều
góp phần giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc, do đó giảm chi phí tuyển dụng và đào
tạo nhân viên mới. Tất cả cái đó góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao
động.
Thứ hai, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần tăng doanh thu. Mỗi doanh nghiệp
đều đứng trên địa bàn nhất định. Do đó, việc đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế địa
phương có thể tạo ra một nguồn lao động tốt hơn, nguồn cung ứng rẻ và đáng tin cậy
hơn và nhờ đó tăng doanh thu. Chẳng hạn, Công ty Hindustan Lever, một chi nhánh
của tập đoàn Unilever tại Ấn Độ, vào đầu những năm 70 chỉ hoạt động được với
50% công suất do thiếu nguồn cung ứng sữa bò từ địa phương và do vậy, đã bị lỗ
trầm trọng. Để giải quyết vấn đề này, công ty đã thiết lập một chương trình tổng thể
giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò. Chương trình này bao gồm đào tạo nông dân
cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và thành lập một ủy ban điều phối
những nhà cung cấp địa phương. Nhờ đó, số lượng làng cung cấp sữa bò đã tăng từ 6
tới hơn 400, giúp cho công ty hoạt động hết công suất và đã trở thành một trong
những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn(6).
Thứ ba, thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín
của công ty. Trách nhiệm xã hội có thể giúp doanh nghiệp tăng giá trị thương hiệu và
uy tín đáng kể. Đến lượt nó, uy tín giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, hấp dẫn các

Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương cùng với các hiệp hội Da giày, Dệt may
trao giải thưởng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng tới sự phát triển bền
vững” nhằm tôn vinh các doanh nghệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã
nhận thấy rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một trong những
yêu cầu không thể thiếu được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ không thể tiếp cận được với thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp
khi thực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại những hiệu quả thiết thực trong sản
xuất kinh doanh. Kết quả khảo sát gần đây do Viện Khoa học lao động và xã hội tiến
hành trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt may cho thấy, nhờ thực
hiện các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh thu của các doanh
nghiệp này đã tăng 25%, năng suất lao động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8
triệu đồng/1 lao động/năm; tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97%. Bên cạnh hiệu
quả kinh tế, các doanh nghiệp còn củng cố được uy tín với khách hàng, tạo được sự
gắn bó và hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp, thu hút được lực lượng
lao động có chuyên môn cao(8).
Do nhận thức được tầm quan trọng và ích lợi của việc thực hiện trách nhiệm xã hội
trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, một số doanh nghiệp lớn của Việt
Nam, ngoài trách nhiệm đóng thuế cho nhà nước, đã đăng ký thực hiện trách nhiệm
xã hội dưới dạng các cam kết đối với xã hội trong việc bảo vệ môi trường, với cộng
đồng địa phương nơi doanh nghiệp đóng và với người lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiều
doanh nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình.
Điều đó thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính, không
bảo đảm an toàn lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô
nhiễm môi trường. Điển hình là các vụ xả nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng cho các dòng sông và cộng đồng dân cư của các Công ty

Việt Nam, những rào cản và thách thức lớn nhất cho việc thực hiện trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp bao gồm:
1. Nhận thức về trách nhiệm xã hội trong và giữa các doanh nghiệp Việt Nam còn có
sự khác nhau khá lớn.
2. Năng suất lao động bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng bộ nhiều bộ quy tắc ứng
xử (CoC).
3. Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
4. Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và bộ quy tắc ứng xử của khách đặt hàng gây
nhầm lẫn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như vấn đề làm thêm hay hoạt động của công đoàn.
5. Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thực
tế đang cản trở lợi ích thị trường tiềm năng mang lại cho doanh nghiệp.
6. Mâu thuẫn trong các quy định của nhà nước khiến cho việc áp dụng bộ quy tắc
ứng xử không đem lại hiệu quả mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi và các
điều kiện tuyển dụng(9).
Những nguyên nhân được liệt kê ra trên đây có thể quy lại thành ba nguyên nhân
chính, đó là nguyên nhân về nhận thức,nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân pháp lý.
Do đó, để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, cần bám sát những nguyên nhân
nói trên để đề ra những giải pháp phù hợp. Cụ thể là:
Thứ nhất, cần tuyên truyền, giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp, trước hết là các
chủ doanh nghiệp về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phải làm cho họ hiểu
rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải chỉ bó gọn trong công tác từ
thiện. Công tác tuyên truyền, giáo dục rất quan trọng, bởi tất cả những hành vi của
con người đều thông qua ý thức của con người, đều do ý thức của họ điều khiển. Do
đó, vấn đề đặt ra là, phải làm sao cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp trở thành động cơ bên trong của các chủ doanh nghiệp. Việc thực hiện trách
nhiệm xã hội trước hết cần được xem là một hành vi đạo đức và được điều khiển

(2) Xem: IUCN. World conservation strategy: Living resource conservation for
sustainable development. IUCN, Gland, Switzeland, 1980.
(3) Xem: World Commission on Environment and Development. Our common future.
Oxford University Press, Oxford and New York, 1987; IUCN/UNEP/WWF. Caring
for the earth: A strategy for sustainable living. IUCN, Gland, Switzeland, 1991.
4) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.178 - 179.
(5) Xem: http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So4/4-baiviet.htm.
(6) Xem: http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So4/4-baiviet.htm.
(7) Xem: http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So4/4-baiviet.htm
(8) Xem: http://www.kinhdoanh.com.vn/mtkd/So4/4-baiviet.htm.
(9) Xem:www.doanhnhan360.com/PortletBlank.aspx/44D1988963164E


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status