Đề tài triết học
BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG XÃ HỘI
VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
BẢO ĐẢM CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGUYỄN NGỌC HÀ (*)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam coi công bằng xã hội là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Để
có được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, cần phải xác định
và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp như Đại hội X của Đảng Cộng
sản Việt Nam đã đề ra. Để phát huy vai trò động lực của công bằng xã hội, theo
tác giả, cần khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện công bằng xã hội
hiện đang còn tồn tại. Công tác lý luận cần hướng vào việc nghiên cứu và giải
nguyên nhân ở chỗ người lao động không hoàn toàn phấn khởi để phát huy hết
tính tích cực của mình. Nhưng vì sao người lao động lại không hoàn toàn phấn
khởi để phát huy hết tính tích cực của mình? Đó là vì lợi ích chính đáng của họ
chưa được đảm bảo, hay nói cách khác, vì vẫn còn sự bất công bằng xã hội. Sự
bất công của chế độ thực dân và phong kiến được xoá bỏ thì bất công mới lại
nảy sinh, đó là sự phân phối bình quân, cào bằng.
Từ năm 1986, nhờ thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, Việt Nam đã thoát ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội và có được sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt:
kinh tế phát triển với tốc độ cao, xã hội ổn định, đời sống nhân dân ngày càng
được cải thiện hơn. Sở dĩ chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường đem lại sự phát triển vượt bậc như vậy là
vì chủ trương đó đã góp phần khắc phục sự bất công của chính sách phân phối
bình quân, cào bằng.
Xoá bỏ sự bất công của chính sách phân phối bình quân, cào bằng đương nhiên
sẽ làm cho khoảng cách giàu nghèo tăng hơn. Do đồng nhất sự bình đẳng với sự
công bằng, một số người cho rằng sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo là biểu
hiện của tình trạng bất công gia tăng. Cũng theo quan niệm của họ, hai mục
tiêu công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế không thể đồng thời đạt được;
muốn có tăng trưởng kinh tế thì phải chấp nhận sự bất công bằng xã hội và
trong điều kiện hiện nay, cần phải ưu tiên cho sự tăng trưởng kinh tế(1).
Khác với quan niệm trên đây, Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, để đạt được
mục tiêu tăng trưởng kinh tế không nhất thiết phải hy sinh mục tiêu công bằng
xã hội. Công bằng xã hội không phải là nhân tố kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế;
trái lại, nó là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Bởi vì, nếu có công bằng
xã hội thì lợi ích chính đáng của mỗi người được bảo đảm, mỗi người được
hưởng tương xứng với cống hiến của mình; điều đó sẽ kích thích mọi người ra
sức cống hiến cho xã hội một cách tự nguyện nhất, từ đó kinh tế sẽ tăng trưởng
nhanh. Trong điều kiện kinh tế thị trường, chúng ta không những có thể mà còn
cần phải thực hiện công bằng xã hội. Về điều này, Văn kiện Đại hội X của Đảng
mới, Việt Nam cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác quan niệm rằng,
nguyên tắc phân phối bảo đảm công bằng xã hội là nguyên tắc phân phối theo
lao động (làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng).
Nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi giá trị của tổng sản phẩm xã hội
được chia thành hai phần: phần thứ nhất được dành để tái sản xuất, để giải quyết
các vấn đề xã hội chung, để đóng góp vào quỹ phúc lợi xã hội và từ đó, phân
phối thông qua phúc lợi xã hội; phần thứ hai sẽ được phân phối cho các cá nhân
theo mức cống hiến bằng sức lao động của họ cho xã hội (bao gồm cả cống hiến
bằng sức lao động chân tay và cống hiến bằng sức lao động trí óc, cống hiến của
người lao động quản lý và người lao động không tham gia quản lý, cống hiến
trực tiếp và cống hiến gián tiếp cho quá trình sản xuất của xã hội, cống hiến của
tất cả những người làm việc trong mọi lĩnh vực không thể thiếu của xã hội).
Nguyên tắc phân phối theo lao động không dành phần nào để phân phối theo
nguồn vốn.
Từ khi chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam thực hiện nguyên tắc phân phối
“theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng
góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi
xã hội”. Với việc thực hiện nguyên tắc phân phối đó, Việt Nam đã xoá bỏ đáng
kể sự bất công do phân phối bình quân. Việc xoá bỏ sự bất công này là một
nguyên nhân đưa đến những thành công ngoạn mục của Việt Nam về kinh tế và
xã hội, được cộng đồng thế giới thừa nhận. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên
tục với tốc độ cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được nhiều tiến bộ về văn
hoá và xã hội: đời sống của đa số nhân dân được cải thiện, tỷ lệ đói nghèo giảm
nhanh chóng, xã hội không có sự phân cực gay gắt, giáo dục và đào tạo tiếp tục
phát triển và được đầu tư nhiều hơn, trình độ dân trí được nâng lên, công tác bảo
vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đạt nhiều kết quả, tuổi thọ trung bình của dân
số tăng từ 67,8 (năm 2000) lên 71,5 (năm 2005), chính trị và xã hội ổn định(6).
So với thời kỳ trước đổi mới, Việt Nam đã tiến được một bước dài trên con
đường thực hiện và đi tới mục tiêu công bằng xã hội.
người bệnh. Đó là điều bình thường. Các cơ sở giáo dục và y tế công lập, ngoài
kinh phí do nhà nước cấp, còn thu thêm học phí và viện phí. Điều này dẫn đến
tình trạng là chỉ những người có tiền đóng học phí và viện phí mới được hưởng
dịch vụ giáo dục và chữa bệnh từ các cơ sở giáo dục và y tế công lập. Các cơ sở
giáo dục và y tế công lập là tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Mọi người đều có
quyền được hưởng một phần dịch vụ giáo dục và y tế từ các cơ sở giáo dục và y
tế này. Nhưng trên thực tế, nhiều người có nhu cầu học tập hoặc chữa bệnh đã
không được hưởng quyền lợi từ các cơ sở giáo dục và y tế công lập do không có
tiền đóng học phí và viện phí. Đây là một biểu hiện của tình trạng bất công còn
tồn tại ở Việt Nam.
Nhận diện sự bất công hợp pháp thường phức tạp hơn nhận diện sự bất công phi
pháp. Trong thời kỳ trước đổi mới, khi thực hiện sự phân phối bình quân để xoá
bỏ khoảng cách giàu nghèo giữa các bộ phận dân cư, chúng ta tưởng rằng như
thế là xoá bỏ được bất công nhưng thực ra lại là tạo ra sự bất công. Còn trong
thời kỳ đổi mới, tuy đã xoá bỏ sự phân phối bình quân, nhưng trên thực tế chúng
ta vẫn chưa thực hiện được sự công bằng vì sự bất hợp pháp và sự bất hợp lý
trong phân phối của cải và cơ hội phát triển. Khắc phục sự bất công này trước
hết là trách nhiệm của nhà nước.
Chúng ta không thể xoá bỏ kinh tế thị trường vì điều đó triệt tiêu động lực của
sự tăng trưởng kinh tế. Chúng ta cũng không thể để cho kinh tế thị trường hoạt
động tự phát mà không có sự điều tiết của nhà nước. Nhưng, điều tiết như thế
nào để có sự hợp lý trong phân phối của cải và cơ hội phát triển cho mọi người?
Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã viết: “Lý luận chưa giải đáp
được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, đặc biệt là trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế
và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội;
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát
triển; giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”(9). Do
lý luận chưa giải đáp được vấn đề nói trên, nên chúng ta vẫn chưa có những
chính sách hợp lý để khắc phục hoàn toàn sự bất công bằng đang tồn tại.
điểm tuyệt đối (điểm 10). Nguồn: Vietnamnet ngày 5/12/2004.
(8) Khoảng cách giàu nghèo gia tăng giữa các bộ phận dân cư và tỷ lệ nghèo
phần nào nói lên tình trạng bất công của xã hội. Nếu xét theo nhóm dân cư,
khoảng cách giàu nghèo giữa nhóm có thu nhập thấp nhất và cao nhất ở Việt
Nam đang ngày một cách biệt. Khoảng cách này năm 1996 là 7,31 lần; năm
2001 - 2002 là 8,10 lần, năm 2003-2004 là 8,34 lần, còn bộ ba con số này giữa
vùng Đông Nam Bộ giàu nhất và vùng Tây Bắc Bộ nghèo nhất là 2,18 lần; 3,15
lần và 3,14 lần. Ở thời điểm hiện nay, cùng với việc gia nhập WTO và động thái
của thị trường thế giới sắp tới, khoảng cách giàu nghèo có thể còn tiếp tục nới
rộng ra nhanh hơn nữa. Theo tiêu chí giai đoạn 2006 - 2010, hộ có thu nhập
dưới 230.000 đồng/người/tháng ở thành thị và 200.000 đồng/tháng ở nông thôn
là thuộc hộ nghèo. Ở thời điểm cuối năm 2007, cả nước còn 14,8% hộ nghèo.
Xu thế giảm nghèo tuy rõ rệt ở tất cả các vùng, các đối tượng, song tỷ lệ nghèo
và tốc độ giảm nghèo có sự khác nhau khá rõ giữa các vùng miền. Đến cuối
năm 2006, cả nước còn 58 huyện có tỷ lệ nghèo trên 50%. Trong đó có 27
huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 60%, 10 huyện trên 70% và 1 huyện có tỷ lệ hộ
nghèo trên 80%. Nguồn: Báo: Người lao động, ngày 13-1-2008.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Sđd., tr.69.