Công bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH VĂN TOÀN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

CHUYÊN NGÀNH : TRIẾT HỌC
MÃ SỐ : 60.22.80

bằng xã hội……………………………………………………………… 66
2.2.2 Một số giải pháp thực hiện công bằng xã hội đáp ứng với yêu
cầu phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay…………………… 74
Kết luận chƣơng II……………………………………………… …… 81
Kết luận… …………………………………………………………… 82
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………… ….85
3
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn thăng
trầm và đã ghi lại những dấu ấn đậm nét tương ứng với từng hình thái kinh tế -
xã hội khác nhau. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi xã hội đều có những bước phát
triển tích cực, đồng thời cũng có những tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc
sống của con người. Đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, khi cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ đã đạt được những bước tiến vượt bậc, những sản
phẩm mà nhân loại tạo ra đã phần nào thoả mãn được nhu cầu vật chất và tinh
thần của con người. Những thành tựu đó đã góp phần đưa đến sự phát triển
nhanh của nền văn minh nhân loại.
Song cũng chính sự phát triển đó đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày
càng nổi cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức
của cải, tài nguyên, năng lượng và đặc biệt là sự bất bình đẳng xã hội. Những
vấn đề này đã gây trở ngại lớn đối với phát triển kinh tế và làm giảm sút chất
lượng cuộc sống, đe doạ cuộc sống của con người cả ở hiện tại và tương lai.
Tăng trưởng kinh tế nhanh làm xuất hiện các vấn đề môi trường, tệ nạn
xã hội, phân hóa giầu nghèo, bất bình đẳng xã hội, xung đột xã hội trong các
xã hội phát triển dẫn đến cản trở sự phát triển xã hội. Chính vì vậy, vấn đề
phát triển xã hội được đặt ra và là một trong những vấn đề được ưu tiên trong

phát triển xã hội bền vững, từ đó có biện pháp thực hiện công bằng xã hội
nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay là một việc
làm rất cần thiết.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề: “Công bằng xã hội đối với phát
triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn và hướng
nghiên cứu của mình.

5
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề công bằng xã hội và phát triển bền vững luôn là một đề tài hấp
dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Đến nay, trên bình diện lý
luận, đã có nhiều công trình, bài viết về công bằng xã hội và phát triển xã hội
bền vững được công bố. Trong đó, chúng ta có thể điểm đến một số tác giả và
công trình sau:
Lương Xuân Quỳ, trong cuốn: “Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng
xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam”, (Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002), đã đề cập đến khái niệm, thực
trạng, hệ quan điểm, phương hướng, giải pháp xây dựng quan hệ sản xuất
(quan hệ sở hữu, quan hệ phân phối, quan hệ quản lý) định hướng xã hội chủ
nghĩa và việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam.
Trong tác phẩm “Về động lực của phát triển kinh tế- xã hội” của tập thể
tác giả do giáo sư Lê Hữu Tầng chủ biên, vấn đề công bằng xã hội đã được
nghiên cứu từ góc độ triết học. Các tác giả đã cố gắng làm rõ khái niệm công
bằng xã hội và đặt nó trong quan hệ với bình đẳng xã hội. Trong tác phẩm này
các tác giả đã luận chứng được công bằng xã hội là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
“Lợi ích, động lực của sự phát triển xã hội bền vững”, Luận án tiến sĩ
(Hoàng Văn Luân, 2000), tác giả đã trình bầy rõ quan niệm khoa học về phát
triển xã hội nói chung và phát triển xã hội bền vững nói riêng. Tiếp đó, tác giả
trình bầy và phân tích quan niệm về lợi ích và vai trò động lực của lợi ích đối

Để đạt mục đích này, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Phân tích và làm rõ khái niệm công bằng xã hội và quan hệ giữa công

7
bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững.
- Khảo sát, đánh giá việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong
thời gian qua và tác động của nó đến sự phát triển xã hội bền vững.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện công bằng xã hội đảm
bảo phát triển xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Công bằng xã hội và việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt
Nam trong quan hệ với phát triển xã hội bền vững.
- Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng được khảo sát trên bình diện quan điểm chủ
trương của Đảng và chính sách vĩ mô của Nhà nước từ 1986 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được xây dựng trên cơ sở quan điểm của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, các chủ
trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về chiến lược và mục tiêu
phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam, các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
của thế giới mà trong đó Việt Nam là một thành viên tham gia tích cực. Ngoài
ra luận văn còn dựa vào sự nghiên cứu tham khảo các công trình nghiên cứu
có liên quan đến vấn đề này.
Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp phân tích- tổng hợp, lôgíc -
lịch sử, …
6. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, luận văn đã góp phần làm rõ vai trò của công bằng
xã hội đối với phát triển xã hội bền vững, thực trạng của việc thực hiện công

8

bằng xã hội.
Vấn đề công bằng được đặt ra trong lịch sử xã hội loài người ngay từ khi
con người ý thức được những bất công trong xã hội, nhận thức được bất công
ở mức độ nào sẽ hướng con người vươn tới sự công bằng xã hội. Như vậy, về
mặt nhận thức luận, bất công và công bằng là những khái niệm luôn nằm trong
quá trình sinh thành và phát triển trên cơ sở của thực tiễn phát triển xã hội. Có
thể thấy rằng, khái niệm công bằng xã hội là một khái niệm mở và đang từng
bước hoàn thiện cả về nội hàm lẫn ngoại diên của nó gắn với quá trình phát
triển kinh tế - xã hội.
Theo từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn xuất bản năm
2004, “Công bằng: theo đúng lẽ phải, không thiên vị”. Trong ngôn ngữ Anh và
Pháp công bằng (justice) thường được hiểu là sự đúng đắn, chính đáng, lẽ
phải, công lý.
Theo từ điển bách khoa triết học, (Matxcơva 1983), định nghĩa: “Công
bằng là khái niệm đạo đức - pháp quyền, đồng thời cũng là khái niệm chính trị -
xã hội. Khái niệm công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai
trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của họ trong đời sống xã hội,
giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự
trả công, giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã
hội. Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được đánh giá là sự bất công”.

10
Có thể thấy, bản chất của công bằng xã hội chính là sự tương xứng (sự
phù hợp) giữa đóng góp và hưởng thụ (theo nghĩa tích cực) và giữa phá hoại
và trừng phạt của cá nhân (nhóm xã hội) đối với sự phát triển của cộng đồng,
xã hội. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn triết học với cái nhìn lạc quan
hướng tới tương lai, luận văn chủ yếu đề cập đến công bằng xã hội theo nghĩa
tích cực: sự công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ.
Ngày nay, công bằng xã hội không chỉ được giới hạn ở công bằng về kinh
tế - mặc dù đây vẫn là yếu tố nền tảng- mà còn được mở rộng trong những lĩnh

đây là tiêu chuẩn đảm bảo sự công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa
quyền lợi và nghĩa vụ, giữa năng lực và vị trí xã hội.
Một nội dung khác của công bằng xã hội đó là phải gắn công bằng xã hội
với trách nhiệm công dân và điều kiện phát triển công dân. Tức là phải xác lập
được chuẩn tối thiểu về công bằng do luật pháp quốc gia quy định trong từng
lĩnh vực xã hội cụ thể. Chuẩn tối thiểu này cần được đảm bảo bằng những
chính sách cụ thể của Nhà nước đối với mọi người dân thuộc mọi tầng lớp,
nhóm xã hội; không phân biệt người giàu hay nghèo, nam hay nữ, miền núi
hay miền xuôi… Trên cơ sở xác định chuẩn tối thiểu, việc thực hiện công bằng
xã hội phải gắn với trách nhiệm của mỗi công dân. Tuy nhiên, do điều kiện địa
lý, điều kiện lịch sử, nguồn gốc giống nòi, giới tính, tôn giáo, vị trí xã hôi
vv…thì việc tiếp nhận những cơ hội, hưởng những phúc lợi xã hội khác nhau
nên ngoài trách nhiệm chung đối với xã hội thì mỗi cá nhân đều phải có những
trách nhiệm riêng tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, vị trí xã hội của mình.
Khái niệm công bằng xã hội không tách rời khái niệm bình đẳng xã hội,
do đó khi nghiên cứu về khái niệm công bằng cần phải xem xét cả khái niệm
bình đẳng.
Bình đẳng với tính cách là phạm trù chính trị - xã hội, có nghĩa là sự bằng
nhau, sự ngang nhau giữa các cá nhân hay các nhóm xã hội về một hay một số

12
phương diện xã hội nhất định. Chẳng hạn, sự ngang bằng nhau giữa các cá
nhân hay các nhóm xã hội nào đó về những quyền và nghĩa vụ công dân, về
chính trị - xã hội, về cơ hội xã hội, về mức độ thoả mãn những nhu cầu nhất
định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…
Công bằng xã hội là sự ngang nhau giữa người và người không phải về
mọi phương diện hay một phương diện bất kỳ mà chính là về một phương diện
hoàn toàn xác định: quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và
hưởng thụ theo nguyên tắc cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau.
Còn thực hiện công bằng xã hội là đặt mọi người vào những cơ hội như nhau

đóng góp, cống hiến của họ. Ở đây, phần hưởng thụ về cơ bản là có thể lượng
hoá được một cách tương đối dễ dàng hơn, còn phần đóng góp, cống hiến, nhất
là sự đóng góp, cống hiến về tài năng và trí tuệ thì rất khó có thể lượng hoá
một cách chính xác được. Thêm vào đó, sự đóng góp của cá nhân không
những cần được xem xét không phải chỉ trong hiện tại, mà còn phải tính đến
cả sự đóng góp trong quá khứ và tương lai. Bất kỳ sự đánh giá đơn giản nào
vấn đề này đều có thể dẫn đến việc ngộ nhận công bằng thành bất công và
ngược lại.
Công bằng xã hội có tính khách quan vì công bằng xã hội xuất phát từ
nhu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội. Thực
hiện tốt công bằng xã hội sẽ khuyến khích mọi người hăng hái tạo ra càng
nhiều của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Công bằng xã hội không chỉ phụ
thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động
xã hội, vào mối tương quan giữa lao động phức tạp và lao động đơn giản, vào
tính chất của quan hệ sản xuất, mà còn phụ thuộc vào trình độ văn hoá, văn
minh của xã hội và chế độ xã hội.
Công bằng xã hội là khái niệm mang tính lịch sử. Nó xuất hiện và tồn tại
từ thời cổ đại và khi nào xã hội còn tồn tại bất công xã hội thì công bằng còn

14
tồn tại và luôn là mơ ước và là mục tiêu phấn đấu của loài người. Từ điển bách
khoa Việt Nam viết: “Công bằng xã hội là phương thức đúng đắn nhất để thoả
mãn một cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội,
các cá nhân, xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã
hội nhất định. Về nguyên tắc, chưa thể có sự công bằng nào được coi là tuyệt
đối trong chừng mực mà mâu thuẫn giữa nhu cầu con người và khả năng hiện
thực còn chưa được giải quyết. Bởi vậy, mỗi thời đại lại có những đòi hỏi
riêng về công bằng xã hội [65, tr.580].
Mỗi xã hội đều có những chuẩn mực riêng về công bằng xã hội do hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của xã hội đó quy định. Ph.Ăngghen từng nhận xét: “Công

đó là các quan điểm của Phật giáo, Nho giáo…, Phương Tây là các quan điểm
của Ki tô giáo, tiếp đến là các nhà triết học Tomát Đacanh, Ôguýtstanh …Các
quan điểm về công bằng xã hội thời kỳ này cũng thể hiện sự phân biệt đẳng
cấp giữa giai cấp thống trị và bị trị. Chẳng hạn Đổng Trọng Thư là một nhà tư
tưởng thời Lưỡng Hán (Trung Quốc). Ông ta lợi dụng quan điểm định mệnh
trong lý luận âm dương để nói rằng “dương thiện, âm ác”. Theo Đổng Trọng
Thư thì kẻ thống trị là một phần thế lực tính dương, người bị trị là một phần
của thế lực tính âm. Ông ta cho rằng trật tự âm dương là không thể thay đổi do
đó, trật tự phong kiến được ông chứng minh là trật tự thống trị hợp pháp, vĩnh
viễn.
Trong chủ nghĩa tư bản, cùng với quá trình xác lập địa vị thống trị của
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã sử dụng nguyên tắc trao đổi
ngang giá để chống lại sự bất công và bất bình đẳng đang tồn tại trong xã hội
phong kiến. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản đã tỏ ra bất lực trước vấn đề xây
dựng một xã hội công bằng và bình đẳng thực sự giữa người với người. Theo
Mác, mỗi thời đại kinh tế có một phương thức phân phối riêng đặc trưng cho

16
nó. Phương thức ấy do những quan hệ sản xuất quyết định. Không có phương
thức phân phối chung cho mọi thời đại. Và điều đó cũng có nghĩa là không có
một khái niệm công bằng chung chung. Trong chủ nghĩa tư bản, cũng giống
như các phương thức phân phối trước đây, công bằng xã hội không phải là
vĩnh cửu, nó cũng mang tính lịch sử. Trong chủ nghĩa tư bản phân phối căn cứ
vào tài sản và vốn. Theo phương thức này, giai cấp nào nắm giữ tư liệu sản
xuất đương nhiên sẽ chi phối quan hệ phân phối trong xã hội. Đều đó đưa đến
hệ quả là nhà tư bản ngày càng giàu lên trong khi đó giai cấp vô sản, người lao
động ngày càng bị tha hoá và bất bình đẳng xã hội ngày càng lớn. Đó là sự
công bằng chỉ dành riêng cho giai cấp tư sản, “Bọn tư sản há chẳng khẳng định
rằng sự phân phối hiện nay là “công bằng” đó sao? Và quả vậy, trên cơ sở
phương thức sản xuất hiện nay thì đó chẳng phải là sự phân phối duy nhất

chưa loại trừ được mà vẫn còn hàm chứa trong nó sự chấp nhận một tình trạng
bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội vì những người lao
động không phải ai cũng như ai, người này khác người kia về thể chất và tinh
thần, về năng lực lao động và tay nghề, về hoàn cảnh gia đình…Vì theo Mác
“Cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ
nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội
cộng sản vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó là một xã hội, về mọi
phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu ấn của xã hội
cũ mà nó đã lọt lòng ra” [43, tr.33]. Vì vậy, “với một công việc ngang nhau và
do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội, thì trên
thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giầu hơn
người kia…” [43, tr.35]. Đó vừa là ưu việt vừa là thiếu sót của nguyên tắc
phân phối theo nhu cầu. Theo C.Mác, điều khó nói có thể tránh khỏi trong giai
đoạn đầu trong xã hội cộng sản chủ nghĩa. Thiếu sót đó chỉ có thể được khắc
phục trong chủ nghĩa cộng sản, khi có thể thực hiện được nguyên tắc phân

18
phối theo lao động: “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Bởi vậy, Mác
kết luận về những hạn chế tất yếu của công bằng xã hội trong chế độ xã hội
chủ nghĩa “Đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của
xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra,
sau những cơn đau đẻ kéo dài. Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao
hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó
quyết định” [49, tr. 35-36].
Như vậy xét trên lĩnh vực phân phối, công bằng được hiểu là quyền
hưởng thụ ngang nhau khi cống hiến ngang nhau. Mác khẳng định “Quyền
ngang nhau ấy là một quyền không ngang nhau đối với một lao động không
ngang nhau. Nó không thừa nhận một sự phân biệt giai cấp nào cả, vì bất cứ
người nào cũng chỉ là một người lao động như người khác; nhưng nó lại mặc
nhiên thừa nhận sự không ngang nhau về năng khiếu cá nhân và do đó, về

cái chung đó mọi người đều bình đẳng, dĩ nhiên là một quan niệm đã cũ rồi.
Nhưng yêu sách hiện đại về bình đẳng lại hoàn toàn khác với quan niệm đó;
nói cho đúng ra yêu sách đó đòi hỏi phải từ cái thuộc tính chung là con người,
từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách là con người, rút ra cái quyền có
một giá trị ngang nhau về chính trị và xã hội cho tất cả mọi người, hay ít ra
cho mọi công dân trong một nước, hay cho mọi thành viên trong một xã hội”
[44, tr.149]. Ở đây, công bằng xã hội thực chất là biểu hiện cụ thể của bình
đẳng xã hội, thực hiện công bằng xã hội là góp phần thực hiện bình đẳng xã
hội. Vì nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với
người về mọi phương diện. Trong khi đó nói tới công bằng xã hội là nói tới sự
ngang bằng nhau giữa người với người về phương diện quan hệ giữa cống hiến
và hưởng thụ, nghĩa vụ và quyền lợi theo nguyên tắc: cống hiến ngang nhau
thì sẽ được hưởng thụ ngang nhau. Theo cách hiểu này, thực hiện công bằng
xã hội là đã đạt được một phần quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng xã
hội hoàn toàn.

20
Lênin đã phát triển vấn đề công bằng và bình đẳng xã hội trong điều kiện
lịch sử mới: thực tế nước Nga sau cách mạng tháng Mười. Lênin cho rằng,
việc giải phóng khỏi ách tư bản, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc
của tất cả những người vô sản, của tất cả nhân dân lao động trên thế giới. Chủ
nghĩa xã hội thể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản, của những ý
nguyện tiến bộ và công bằng cho tất cả mọi người. Lênin viết “Chế độ dân chủ
tư sản, do bản chất của nó, vốn có cái lối nói trừu tượng hoặc hình thức về
quyền bình đẳng nói chung… Nấp dưới hình thức quyền bình đẳng của cá
nhân nói chung, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng hình thức
hoặc quyền bình đẳng trên pháp luật giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, do đó,
đã làm cho những giai cấp bị áp bức bị lừa dối một cách ghê gớm. Ý niệm
bình đẳng, bản thân nó chỉ là sự phản ánh những quan hệ sản xuất hàng hoá,
đã bị giai cấp tư sản biến thành một vũ khí đấu tranh chống lại việc thủ tiêu

của Mác khi Người cũng khẳng định cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ
ngang nhau. Quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Hồ Chí Minh kiên quyết
chống lại chủ nghĩa bình quân, Người viết: “Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai
cũng như nhau, bằng hết… Bình quân chủ nghĩa là trái với chủ nghĩa xã hội,
thế là không đúng” [29, tr.386]. Theo Người, chủ nghĩa xã hội là phấn đấu
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân: “Làm cho
người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm”
[29, tr.65].
Trên cơ sở kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về công bằng xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu xây
dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đó là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh.” Mục tiêu này đang dần được hiện thực hoá
trong quá trình định hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng,

22
bình đẳng luôn được đề cập trong các kì đại hội Đảng đặc biệt là từ Đại hội
Đảng VI (1986) đến nay.
Từ những phân tích trên, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, công
bằng xã hội là một giá trị định hướng để con người thoả mãn một cách hợp lý
những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần trong quan hệ phân
phối sản phẩm xã hội và khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển giữa các cá
nhân, nhóm xã hội dựa trên sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, xuất
phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Công bằng xã hội, như chúng tôi đã chỉ rõ, là một khái niệm mà nội hàm
của nó gắn liền với trình độ phát triển nhất định của xã hội và một kiểu hay
một mô hình phát triển xã hội cụ thể. Do đó, những luận giải, phân tích công
bằng xã hội một cách biện chứng duy vật, chúng ta phải dựa trên những trình
độ phát triển và đặc điểm, tính chất của xã hội trong những điều kiện hiện
thực, cụ thể.

đã phần nào thoả mãn được nhu cầu vật chất và tinh thần cho loài người và
mang tới một bước tiến mới cho văn minh nhân loại. Công nghiệp hoá nền sản
xuất, việc mở rộng các thành phố, sự phát triển của kiến thức khoa học và các
ứng dụng của nó, trong đó có việc sử dụng các nguồn năng lượng mới và
thông tin liên lạc viễn thông, sẽ làm tăng quá trình nhân tạo hoá trong thời kỳ
đương đại. Nhưng cũng chính sự phát triển đó đã làm nảy sinh một số vấn đề
ngày càng nổi cộm. Đó là: cuộc khủng hoảng môi trường đánh dấu các giới
hạn của khoa học và tiến bộ công nghệ và dường như thiên nhiên đang có biểu
hiện hạn chế và thậm chí chống lại sự phát triển xã hội. Và cùng với sự suy
giảm của môi trường sinh thái, tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một
cách quá mức, phân hoá giàu nghèo đã gây trở ngại đối với phát triển kinh tế
và làm giảm sút chất lượng cuộc sống, đe doạ cuộc sống hiện tại của con

24
người và ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai. Hiện tượng tăng trưởng liên tục
của kinh tế, khoa học công nghệ dẫn tới một tải trọng khổng lồ đè nặng lên cỗ
máy thiên nhiên cũng như các hiện tượng mất cân đối quá mức và các điều
kiện sống, sự phân bố của cải trên thế giới. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc
năm 1950, thế giới có 2,5 tỷ người, năm 2000 trái đất có 6 tỷ dân, theo các dự
báo thì đến năm 2050 dân số thế giới sẽ là 9,3 tỷ. Các nước đang phát triển
chiếm 80% dân số vào năm 2000 và có thể sẽ tăng lên 87% vào năm 2050.
Theo báo cáo của tổ chức ngân hàng thế giới, khoảng gần 1/4 (24,3%) dân số
thế giới sống dưới ngưỡng nghèo. Một nửa dân số thế giới hiện sống trong các
thành phố gần như không được bảo đảm đầy đủ các chức năng đô thị (nhà ở,
công trình đô thị, nơi làm việc, mạng giao thông vận tải…). Ngoài các bất
bình đẳng lớn về điều kiện sống này, hiện tượng ô nhiễm môi trường dưới
nhiều dạng khác nhau ngày càng tăng: khí quyển nóng lên, thiên tai tăng về số
lượng và cường độ và sự xuất hiện của nhiều dịch bệnh đang đe doạ trầm
trọng tới chất lượng cuộc sống.
Cơ sở tham chiếu này làm sáng tỏ ba nguyên nhân cơ bản của cuộc

Năm 1987, Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển đã công bố báo
cáo “Tương lai chung của chúng ta” - Báo cáo BrundtLand. Trong báo cáo
này, thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu được phổ biến. Sự phát triển bền
vững được định nghĩa là “Sự phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ
hiện tại mà không tổn hại đến khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai
sau”.
Phát triển bền vững thể hiện một sự thừa nhận rõ ràng rằng những nhu
cầu về xã hội, môi trường và kinh tế phải được lồng ghép với nhau và đáp ứng

Trích đoạn Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về thực hiện công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status