LUẬN VĂN:
Đổi mới cơ chế chính sách nhằm khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân ở Việt
Nam hiện nay
A. Lời mở đầu
Việt Nam trong công cuộc đổi mới đã thực sự đem lại nhiều kết quả to lớn làm
thay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và
I. Một số vấn đề lý luận về kinh tế tư nhân.
1. Bản chất của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
1.1 Phát triển kinh tế nhiều thành phần phù hợp với quy luật khách quan của sự
phát triển kinh tế xã hội.
1.1.1 Cơ sở lí luận đổi mới quan hệ sản xuất.
Một trong những nhiệm vụ kinh tế trong thời kì quá độ lên CNXH ở
nứơc ta là xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN. Xây dựng
và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta suy đến cùng là tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế đều phát triển, từ đó
phát huy tốt nhất vị trí vai trò của mỗi thành phần kinh tế đối với đất nước và xử lí hài
hoà mối quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế. Chính vì vậy việc
phát triển kinh tế tư nhân hiện nay là phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với xu
thế phát triển chúng của thời đại.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI đã đánh giá: "Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kì quá độ lên
CNXH là một quá trình lịch sử tương đối dai, trải qua nhiều chặng đường, và do tư
tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết Đã có
những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN từ đó
đề ra chủ trương củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả khu vực
quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện, cả về chế độ sở hữu, chế độ quản
lí, chế độ phân phối, làm cho thành phần kinh tế này giữ vai trò chi phối trong nền
kinh tế quốc dân Bằng các biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành
phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế
xã hội chủ nghĩa". Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không
chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản cuất phát triển
không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Tình hình thực tế của nước ta đòi hỏi phải coi trọng những hình thức kinh tế Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành nên nền kinh tế nhiều thành
phần ở nứoc ta. Trái ngược với giai đoạn nước ta ở trong nền kinh tế kế hoach, kinh tế
tư nhân được coi là đối tượng cần phải cải tạo thì bây giờ khu vực kinh tế tư nhân là
một trong những thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Trong giai đoạn hiện nay khi mà khu vực kinh tế nhà nứơc có những khó khăn, không
đạt kết quả như mong muốn thì khu vực kinh tế tư nhân vẫn đạt được những kết quả
nhất định, tạo được việc làm cho lực lượng lao động, tăng thu nhập cho người dân, nộp
ngân sách cho nhà nước. Tuy nhiên khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn có những mặt tiêu
cực. Tuy nhiên việc phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của
khu vực kinh tế tư nhân đòi hỏi Đảng và nhà nước phải có những chính sách đường lối
phù hợp để khu vực kinh tế tư nhân đạt được những kết quả to lớn đóng vào sự nghiệp
phát triển đất nước.
Một trong những chính sách đó là giữ vững định hướng XHCN trong phát triển
kinh tế tư nhân. Việc phát triển kinh tế tư nhân ở nứơc ta là vấn đề mà cả xã hội quan
tâm. Để có thể khuyến khích thành phần kinh tế tư nhân phát triển mà vần giữ được
định hướng XHCN thì cần có một số yêu cầu sau:
- Phát triển kinh tế tư nhân theo đúng pháp luật. Giữ vững vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trong nền kinh tế nhiều thành phần.
- Nhà nước hỗ trợ. định hướng. dẫn dắt và bảo hộ phát trỉên kinh tê tư nhân trong
mối quan hệ bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động.
- Khuyến khích tư nhân liên kết, liên doanh với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể.
- Chăm lo, bồi dưỡng giáo dục cho các doanh nghiệp, nâng cao lòng yêu nước, tự
hào dân tộc, kinh doanh theo đúng pháp luật, đóng góp hợp lí vào các hoạt động
xã hội.
2. Các bộ phận của kinh tế tư nhân.
Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới kinh tế nhất quán từ đại hội VI của đảng
tháng 12 năm 1986 cho đến nay là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng
vừa thuê một số ít lao động. Thế mạnh của thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ là phát
huy nhanh, có hiệu quả tiền, vốn, sức lao động, tay nghề, sản phẩm truyền thống. Vì
thế, nó có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, có khả năng đóng góp phát triển kinh
tế- xã hội.
Do những ưu thế của nó, Nhà nước và các thành phần kinh tế khác không thể
không tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ về vốn, kỹ thuật, công nghệ, tài chính, tiêu thụ sản phẩm để nó từng bước tham gia kinh tế hợp
tác một cách tự nguyện hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế.
2.2 Kinh tế tư bản tư nhân.
Thành phần kinh tế tư bản tư nhân là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một
số nhà tư bản trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinh doanh dịch vụ.
Nét nổi bật của thành phần kinh tế này là sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hỗn hợp,
thuê và bóc lột sức lao động làm thuê, thường đầu tư vào những ngành vốn ít, lãi cao.
Kinh tế tư bản tư nhân tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Đối với thành phần kinh tế này, cần khẳng định
nhất quán chủ trương phát triển kinh tế tư bản tư nhân, bình đẳng với các thành phần
kinh tế khác. Khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, bảo vệ quyền
sở hữu và lợi ích hợp lí, tạo điều kiện thuận lợi và củng cố lòng tin cho các nhà tư bản
đầu tư phát triển.
3. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Trước đây khu vực kinh tế tư nhân không được thừa nhận, bị coi là đối tượng của
cách mạng XHCN, phải được cải tạo xoá bỏ. Từ đường lối đổi mới (Đại hội VI của
Đảng tháng 12.1986) khẳng định xây dựng, phát triển nền kinh tế nước ta với cơ cấu
nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại lâu dài. Nghị quyết trung
vực có vốn đầu tư nước ngoài.
3.2 Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội , nộp ngân sách cho nhà
nước.
Trong 10 năm gần đây vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh, chiếm tỉ lệ
cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 2000 vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể
29.267 tỷ đồng chiếm 19,82% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; vốn đầu tư phát triển của
các doanh nghiệp tư nhân đạt 6.627 tỷ đồng chiếm 4,49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Tổng vốn sử dụng thực tế của khu vực kinh tế tư nhân tăng nhanh. Đóng góp vào ngân
sách nhà nước của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng tăng. Năm 2000 nộp đuợc 5900
tỷ đồng ước tính chiếm 7,3% tổng thu ngân sách, tăng 12,5% so với năm 1999.
3.3 Khu vực kinh tế tư nhân tạo việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo.
Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Đây là lực
lượng kinh tế của đại bộ phận nhân dân hay có thể gọi là “kinh tế dân doanh”, nơi tạo
công ăn việc làm cho lực lượng lao động của cả nước. Thời điểm 31.12.2000 số lượng
lao động trong khu vực kinh tế tư nhân là 4.643.844 người chiếm 12% tổng số lao
động xã hội bằng 1,36 lần tổng số việc làm trong khu vực kinh tế nhà nước. Số lao động qua thực tế khảo sát ở các hộ kinh doanh cá thể lớn hơn nhiều so với số đăng kí
bởi họ sử dụng lao động trong dòng họ, lao động mang tính thời vụ và lao động nông
nhàn không thể hiện trong báo cáo thống kê. Việc tạo ra nhiều chỗ làm việc mới đã
góp phần thu hút nhiều lao động trong xã hội nhất là số người trẻ tuổi hàng năm đến
tuổi lao động chưa có việc làm, giải quyết số dôi dư từ các cơ quan, doanh nghiệp nhà
nước do tinh giảm biên chế và giải thể. Khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần đáng kể
vào việc xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân ở khu vực thành thị và nông
thôn. Thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế tư nhân có mức thu nhập
tương đương hoặc cao hơn thu nhập của những người lao động trồng lúa ở nông thôn
cùng địa bàn .
3.4 Khu vực kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ chế
chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế- xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
định thế đứng của minh. Quá trình kinh tế tư nhân Việt Nam tồn tại và phát triển qua
các thời kì sau.
1.1 Kinh tế tư nhân thời kì phục hồi kinh tế 1955- 1957.
Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 7/1954 hoà bình lập lại trên
miền Bắc, nền kinh tế nước ta đứng trước hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, Bộ
chính trị Ban chấp hành Trung ương đã họp vào tháng 9/1954 đề ra kế hoạch 3 năm
(1955-1957) tập trung khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tiếp tục hoàn
thành cải cách ruộng đất, tạo cơ sở vững chắc đưa miền Bắc tiến lên CNXH. Thời kì
này lực lượng kinh tế quốc doanh còn nhỏ, kinh tế hợp tác chưa phát triển, tham gia
lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế- xã hội chủ yếu là kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể.
Nhờ có những chính sách đúng đắn, sau 3 năm khôi phục và phát triển nông nghiệp,
công nghiệp nhẹ, đồng thời củng cố và khôi phục các cơ sở công nghiệp nặng cần
thiết các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội miền Bắc đều đạt được những kết quả
quan trọng. Thành công của thời kì khôi phục kinh tế (1955-1957) không những đem
lại nhiều biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế xã hội miền Bắc mà còn để lại nhiều
bài học quý giá đó lá:
- Đặt nông nghiệp, nông thôn vào đúng vị trị, gắn được sức lao động với tư liệu
sản xuất cơ bản của nông dân là ruộng đất.
- Phát huy được sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế. Lúc này kinh tế
quốc doanh chiếm tỉ trọng nhỏ bé, nhưng nhờ phát triển được vai trò của kinh tế
tư nhân trên cơ sở chính sách của Nhà nước nên nền kinh tế phát triển đúng
hướng với tốc độ cao.
1.2 Kinh tế tư nhân thời kì cải tạo xã hội nền kinh tế (1958-1960) và tới năm
1976. Trên cơ sở thắng lợi của thời kì khôi phục và phát triển kinh tế (1955-1957), miền
Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo XHCN với các thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh. Quốc hội thông qua kế hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế
phát triển văn hoá (1958-1960). Nội dung chủ yếu của công cuộc cải tạo XHCN đặt ra
Giá trị tổng sản lượng thành phần kinh tế này năm 1999 tăng thêm 34,5% so với năm
1989 trong đó xí nghiệp tư doanh tăng 51,9% hộ tiểu thủ công nghiệp và cá thể tăng
thêm 34%. Tỉ trọng giá trị sản lượng công nghiệp khu vực tư nhân và cá thể chiếm
trong giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp tăng khá đều đặn, năm 1986:
15,6%, năm 1988: 19,6%, năm 1990: 26,5%. Trong thương nghiệp lao động cuả thành
phần kinh tế tư nhân phát triển nhanh chóng đến năm 1990 là 81,1vạn người. Tỉ trọng
doanh số bán hàng hoá và dich vụ của tư nhân bán trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và
dịch vụ tiêu dùng xã hội ngày càng lớn. 1986: 45,6%, năm 1988: 50.4%, năm 1991:
73,1%.
1.4.1 Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, dưới sự quan tâm chỉ đạo đường lối
của Đảng và nhà nước, kinh tế tư nhân đã có những thành tựu cơ bản.
Lúc này kinh tế tư nhân mới được khuyến khích phát triển. Trong nông nghiệp,
nông thôn hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất tự chủ. ở thành thị kinh tế tư nhân phát
triển dưới nhiều hình thức theo các quy định của pháp luật. Đặc biệt kinh tế tư nhân
phát triển mạnh kể từ khi nhà nước ban hành luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty,
luật khuyến khích đầu tư trong nước và gần đây là luật doanh nghiệp. Kinh tế tư nhân
phát triển rộng khắp trong các ngành nghề mà pháp luật không cấm. Số cơ sở nhiều
nhất là trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, tiếp đến là công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp. Kinh tế tư nhân phát triển rộng rãi trong cả nước nhưng tập trung cao ở các đô
thị, những địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi, được chính quyền quan tâm,
khuyến khích, hỗ trợ.
Tình hình tăng trưởng doanh nghiệp.
Trong giai đoạn 1996-2000 số lượng đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong
khu vực kinh tế tư nhân tăng lên đáng kể, số hộ kinh doanh cá thể tăng 6,02%, số
doanh nghiệp tăng 45,61% nhưng không đều qua các năm. Trong cơ cấu các hình thức
tổ chức kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân, các hộ cá thể chiếm số lượng rất lớn,
đến cuối năm 2000 có 2.137.731 hộ và 29.548 doanh nghiệp. Trong các loại hình
doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân chiếm số lượng lớn nhất, tiếp đến là công ty trách
nhiệm hữu hạn, sau đó là công ty cổ phần, công ty hợp doanh chiếm số lượng không
đáng kể. Hộ kinh doanh cá thể có số lượng lớn, phát triển rộng rãi từ nhiều năm nay.
Về lao động của khu vực kinh tế tư nhân.
Tính từ năm 1996 đến nay số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân phi
nông nghiệp trong các năm đều tăng. So với tổng số lao động toàn xã hội thì khu vực này chiếm tỉ lệ khoảng 11% qua các năm. Trong các ngành phi nông nghiệp, số lao
động khu vực kinh tế tư nhân năm 2000 tăng 20,12% so với năm 1996; bình quân mỗi
năm tăng 4,75 %/ năm. Năm 2000, lao động khu vực kinh tế tư nhân hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp chiếm 63,9% tổng số lao động nông nghiệp toàn quốc. Năm
2000, trong khu vực kinh tế tư nhân các ngành phi nông nghiệp, lao động trong công
nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất. Lao động trong công nghiệp chiếm 45,67%; lao động
trong ngành thương mại, dịch vụ chiếm tỉ trọng 37,37%; lao động các ngành khác
chiếm 16,94%. Tính từ năm 1996 đến nay, lao động trong công nghiệp tăng nhiều hơn
ngành thương mại dịch vụ. Lao động công nghiệp ở doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh
hơn ở hộ kinh doanh cá thể; năm 2000 so với năm 1996, lao động công nghiệp ở
doanh nghiệp tăng 114,02%; lao động công nghiệp ở hộ kinh doanh cá thể chỉ tăng
được 6,4%.
Xuất xứ lao động khu vực kinh tế tư nhân.
Đối với hộ kinh doanh cá thể, lao động ở khu vực này là các xã viên của các hợp
tác xã trước đây, các hộ cá thể hoạt động từ lâu theo kiểu truyền nghề từ đời trước (đối
với nghề tiểu thủ công nghiệp, cửa hiệu kinh doanh), các hộ sản xuất nông nghiệp
chuyển sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, lực lượng lao động trẻ được bổ
xung hàng năm, cán bộ, công nhân từ các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước chuyển
sang, bộ đội hoàn thành nghĩa vụ…Đối với doanh nghiệp một phần lớn phát triển từ
kinh tế hộ đi lên, một số được chuyển từ hình thức hợp tác xã, một số khác được
thành lập mới. Trong số chủ doanh nghiệp: chủ doanh nghiệp tư nhân hầu hết trưởng
thành trong chế độ mới. Theo báo cáo của các địa phương, nhiều người trong số họ là
cán bộ, đảng viên đã từng tham gia công tác trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà
nước, lực lượng vũ trang; trong đó có cả thanh niên, phụ nữ, có một số doanh nghiệp
do nguời dân tộc thiểu số làm chủ.
được qua đào tạo. Họ điều hành quản lí chủ yếu dựa vào các kinh nghiệm được tích
luỹ trong quá trình kinh doanh quy mô gia đình, kinh doanh nhỏ. Thực tế cho thấy đại
đa số chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo không có bằng cấp chuyên môn rất khó đáp
ứng yêu cầu cạnh tranh của thị trường, do đó trong điều kiện hội nhập hội nhập với
nền kinh tế, khu vực thì chắc chắn kinh nghiệm quản lí kinh doanh kiểu trên sẽ không
còn phù hợp và lối kinh doanh ấy sẽ là rào cản doanh nghiệp ít có cơ hội tiếp cận để
mở rộng tầm nhìn, mở rộng giao lưu với các đối tác bên ngoài. ở khía cạnh khác, do
không hội đủ các điều kiện chuyên môn, am tường pháp luật, kiến thức quản lí, kinh
doanh cho nên không ít giám đốc doanh nghiệp tư nhân đã đẩy đơn vị mình vào tình trạng nợ nần, mất khả năng kinh doanh, phá sản. Đa số nhà doanh nghiệp khi ra trước
toà đều có chung tình trạng là kém trình độ kinh doanh, không thông hiểu pháp luật
dẫn đến các vi phạm pháp luật. Nhìn từ góc độ chiến lược đầu tư, ngành nghề đầu tư,
phần lớn các chủ thể kinh tế tư nhân hiện nay tập trung vào các ngành thương mại,
dịch vụ nhưng ít đầu tư vào hoạt động sản xuất.
Bên cạnh những khó khăn về vốn, lao động, trình độ công nghệ còn có những khó
khăn về đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân
được thành lập và phát triển từ khi có chủ trương đổi mới, và tăng nhanh sau khi luật
doanh nghiệp có hiệu lực thi hành. Nhà nước đã tiến hành giao quyền sử dụng đất theo
luật đất đai, do đó về cơ bản là không còn đất vô chủ. Do các doanh nghiệp tư nhân ra
đời muộn, không còn đựơc Nhà nước ưu đãi về đất như trước, chính vì vậy thiếu mặt
bằng kinh doanh đang là trở ngại lớn đối với các cơ sở kinh doanh. Nhiều doanh
nghiệp tư nhân phải sử dụng nhà ở, đất ở của gia đình trong khu dân cư làm nơi sản
xuất, kinh doanh. Một số doanh nghiệp tư nhân phải đi thuê lại đất, nhà xưởng bỏ
hoang của các đơn vị khác mà thường là cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước,
hợp tác xã. Chính vì phải thi đi thuê lại đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh nên
doanh nghiệp phải trả giá cao hơn rất nhiều so với giá thuê của Nhà nước quy định.
Nhiều doanh nghiệp không dám đầu tư lâu dài vào nhà xưởng, máy móc thiết bị vì lo
phải trả lại đất, trong khi chưa thu hồi đủ vốn. Ngoài ra, doanh nghiệp gặp nhiều khó
có phần định kiến đối với khu vực kinh tế tư nhân, chưa nhìn nhận đúng vai trò nhà
kinh doanh tư nhân trong xã hội. Do vậy còn có tâm lí e ngại, dè dặt, sợ chệch hướng
XHCN, không muốn thúc đẩy khu vự c này phát triển. Quan niệm coi kinh tế tư nhân
gắn liền với bóc lột, tính tự phát, luôn chỉ nhìn thấy những tiêu cực của khu vực kinh
tế tư nhân như làm hàng giả, trốn lậu thuế, gian lận thương mại đã dẫn đến tâm lí kì
thị, phân biệt đối xử với khu vực kinh tế tư nhân trong một số không nhỏ cán bộ ở các
cấp của Đảng, Nhà nước, trong nhân dân. Mặc dù từ khi Luật doanh nghiệp ra đời, môi
trường pháp lí, tâm lí xã hội đã tạo thuận lợi hơn rất nhiều cho các hoạt động của khu
vực kinh tế tư nhân nhưng thực tế vẫn còn nhiều khó khăn đối với khu vực này khiến
nhiều người không dám mạnh dạn đầu tư phát triển, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ
đến việc huy động các nguồn lực, tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân cho đầu tư
phát triển sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh các yếu tố từ bên ngoài gây tác động đến hoạt động của khu vực kinh tế
tư nhân thì ngay trong bản thân khu vực này cũng có những khó khăn riêng. Do nước
ta đang ở trong chế độ XHCN, vừa mới thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch tập trung nên bản thân các doanh nghiệp Việt nam hầu hết mới thoát thân từ cơ chế bao cấp, nên
còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng mong chờ sự giúp đỡ, che chở của Nhà nước. Một số
hoạt động kinh doanh còn mang tính chụp giật, không ổn định lâu dài. Tính liên kết,
hợp tác trong sản xuất, kinh doanh giữa các doanh nghiệp còn thấp, nên khó tạo được
sức mạnh chung trên cơ sở phát huy lợi thế của từng cơ sở. Các doanh nghiệp chưa
mạnh dạn khai thác các loại dịch vụ của các cơ sở chuyên nghiệp, nhất là vấn đề đầu
tư, thuế, tài chính, kế toán mà thường tự mình tiến hành, trong nhiều trường hợp
không phải là cách làm có hiệu quả. Hơn thế nữa, bản thân khu vực kinh tế tư nhân
cũng chưa thực hiện tốt các quy định của Nhà nước. Một số doanh nghiệp của tư nhân
lợi dụng sự cởi mở của Luật doanh nghiệp để khai man, tự lấy tên, địa chỉ các cá nhân
khác để đăng kí thành lập công ty, hình thành pháp nhân giả. Vẫn còn tình trạng không
đủ điều kiện về nhân thân, bị cấm thành lập doanh nghiệp cũng xin đăng kí thành lập
doanh nghiệp. Có tình trạng doanh nghiệp đăng kí kinh doanh xin cấp mã số thuế, sau
phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các
doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân
rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lí để kinh tế tư bản tư nhân phát
triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài, khuyến
khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên
doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Tại Đại hội khoá VII,
Bộ chính trị đã ra chỉ thị về tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân
dân trong các doanh nghiệp tư nhân nhằm thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần và đảm bảo cho các doanh nghiệp tư nhân tiếp tục phát triển lành
mạnh đúng hướng, đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nhằm đảm bảo cho chủ trương đương lối của Đảng đi vào cuộc sống, Quốc hội,
Chính phủ đã từng bước thể chế hoá, trước hết bằng luật cơ bản, đó là Hiến pháp năm
1992. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã ban hành các luật từ luật doanh nghiệp tư nhân và
luật công ty đến Luật doanh nghiệp. Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành các văn
bản dưới luật quy định chi tiết và hướng dẫn để triển khai thực hiện ở các ngành, các
địa phương. Ngoài ra, trong nhiều văn bản luật và dưới luật đã khuyến khích đầu tư
trong nước, phát huy nội lực, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hỗ trợ các doanh
nghiệp vừa và nhỏ Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến phát triển khu vực kinh tế tư nhân ngày càng được hoàn thiện, thúc đẩy khu vực này tăng trưởng nhanh hơn
nữa.
2.2 Quản lý của Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Để thể chế hoá các chủ trương đường lối của Đảng đi vào hoạt động, nhà nứơc
đã thực hiện chức năng quản lí của mình đối với khu vực kinh tế tư nhân.
2.2.1 Xây dựng luật và các văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã chú trọng xây dựng
khung khổ pháp lí, hoàn chỉnh dần, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích khu vực kinh
tế tư nhân phát triển mạnh và có hiệu quả hơn theo những quy định của pháp luật, đảm
doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, trong khu vực này vẫn còn nhiều khó khăn trong
việc tiếp cận, nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại và Quỹ hỗ trợ phát triển.
Chính sách mặt bằng, đất đai cho kinh tế tư nhân.
Như đã đề cập ở trên, một trong số những hạn chế đến hoạt động, kết quả của khu
vực kinh tế tư nhân là mặt bằng sản xuất, đất đai thì Luật đất đai (sửa đổi) năm 1998
đã thể hiện chính sách cấp đất ổn định, lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức,
yêu cầu tất cả các tổ chức, cá nhân, gia đình và các thành phần kinh tế muốn sử dụng
đất đai được cấp để kinh doanh phải chuyển sang hình thức thuê đất. Luật khuyến
khích đầu tư trong nước quy định việc miễn giảm đáng kể tiền thuê đất, đặc biệt đối
với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Tuy nhiên, một số quy định trong các luật, nghị
định trong thực tế đang còn gây khó khăn, hạn chế sự phát triển của kinh tế tư nhân
như đối với đất đã được cấp quyền sử dụng hoặc mua lại của cá nhân, khi dùng vào
mục đích kinh doanh phải qua nhiều thủ tục quy định phức tạp, phiền hà, tốn kém, mất
nhiều thời gian thậm chí mất cơ hội kinh doanh. Khi doanh nghiệp đầu tư vào khu
công nghiệp tập trung không có hỗ trợ nên chi phí thuê đất quá cao so với khả năng
của doanh nghiệp nhỏ và vừa của khu vực kinh tế tư nhân.
Chính sách về khoa học công nghệ.
Nhà nước có một số văn bản khung tạo pháp lí chung về chính sách khoa học,
công nghệ và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp chung cho các thành phần kinh tế, đã
hỗ trợ, khuyến khích thúc đẩy việc áp dụng, khoa học- kỹ thuật, chuyển giao công
nghệ mới nhằm thay thế công nghệ cũ, nâng cao trình độ công nghệ, sản xuất được
những sản phẩm chất lượng ngày càng cao hơn, mẫu mã đa dạng hơn, tăng được năng
suất lao động, khả năng cạnh tranh đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và tăng
được hàng xuất khẩu. Song trên thực tế, do năng lực nội tại còn non yếu như tài chính
còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ chuyên môn trình độ cao nên ít nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước về đổi mới công nghệ, bản thân doanh nghiệp không đủ
khả năng, tiến hành các hoạt động liên quan đến sở hữu công nghiệp.
Chính sách thuế,tài chính, kế toán, kiểm toán.
III. Định hướng đổi mới và các giải pháp có tính khuyến nghị về đổi mới các
chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân.
1. Thực hiện chính sách tài chính tín dụng đối với kinh tế tư nhân bình đẳng
với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Những năm gần đây hệ thống ngân hàng đã có những hình thức tín dụng đa
dạng và có cạnh tranh hơn nhằm thực hiện chính sách cho vay bình đẳng không phân
biệt hình thức kinh tế Nhà nước hay kinh tế tư nhân.
Nhà nước cũng dành một khoản vốn đáng kể, thông qua quỹ hỗ trợ phát triển
(kế hoạch năm 2001 là 23.800 tỷ đồng) để cho vay trung hạn và dài hạn với lãi suất ưu
đãi, hỗ trợ lãi suất đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư cho các dự án đầu tư vào các lĩnh
vực khuyến khích đầu tư tại các địa bàn khó khăn, hoặc theo các chương trình kinh tế
lớn của chính phủ, không phân biệt thành phần kinh tế.Nghị định 05/NĐ-CP về việc
bổ sung một số giải pháp điều hành kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2001 đã tháo gỡ
được một phần khó khăn, vướng mắc về thủ tục đầu tư cho khu vực kinh tế tư
nhân.Tuy nhiên trong khu vực này vẫn còn nhiều khó khăn do đó cần khuyến nghị các
giải pháp: Bảo đảm để kinh tế tư nhân tiếp cận và được hưởng các ưu đãi của Nhà
nước cho kinh tế hộ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho đầu tư theo các mục tiêu được Nhà
nước khuyến khích.
Nhà nước hỗ trợ về xây dựng cơ sở hạ tầng chung (giao thông, điện, nước,
thông tin liên lạc ) tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển
Tiếp tục đổi mới chế độ kê khai và nộp thuế phù hợp với đặc điểm của các hộ
kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, vừa tạo thuận lợi cho người kinh doanh, vừa
chống thất thu thuế.
Có chính sách bảo hiểm rủi ro cho hoạt động của kinh tế tư nhân trong kinh tế
thị trường; khuyến khích thành lập và tham gia quỹ bảo hiểm tương hỗ của các doanh
nghiệp có sự hỗ trợ của Nhà nước
Ban hành quy định về đăng ký sở hữu tài sản, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động
kinh doanh.
2. Tạo môi trường thuận lợi về thể chế và tâm lý xã hội cho phát triển của
kinh tế tư nhân.