A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề phát huy dân chủ và tăng cường hơn nữa vai trò giám sát, phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc xây
dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước là
nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, được cụ
thể trong các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng. Tại
Đại hội đã đưa ra quan điểm xây dựng quy chế, cơ chế phản biện xã hội:
“Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ
trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả
đối với công tác tổ chức cán bộ”. Tuy vậy vấn đề thực hiện chủ trương này
trên thực tế còn mới và còn nhiều lúng túng chất lượng, hiệu quả phản biện
thấp.
Nước ta đang trong quá trình đổi mới, hội nhập, cần có sự cải cách,
thay đổi tư duy dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ bệnh quan liêu, khắc
phục những bất hợp lý trong hoạt động của chính quyền các cấp. Muốn vậy,
một trong những giải pháp hiệu quả là khơi dậy, phát huy dân chủ, công khai,
minh bạch, mà phản biện xã hội là một cách có hiệu quả nhất, đặc biệt là
trong điều kiện thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền.
Thế kỷ XXI, là thế kỷ của khoa học và tri thức, tầm nhìn sẽ vươn xa
hơn nhiều nếu biết quan sát bằng lăng kính nhều chiều xuất phát từ thực tế
cuộc sống, trong đó phản biện xã hội là một kênh quan trọng. Ở các nước phát
triển cả phương Tây và phương Đông việc áp dụng phản biện xã hội trong các
sinh hoạt chính trị - xã hội đã là công việc diễn gia thường nhật và đã đem lại
hiệu quả cao trong quản lý và phát triển đất nước. Phản biện chính là phương
thức và xu hướng của nền dân chủ hiện đại. Chính vì những lý do trên mà tác
1
giả chọn đề tài tiểu luận là: “Vai trò của phản biện xã hội đối với phát triển
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ các khái niệm phản biện và phản biện xã hội
- Phân tích thực tiễn của phản biện xã hội trong xã hội Việt Nam và vai trò
của nó đối với phát triển bền vững, đảm bảo dân chủ hóa xã hội.
- Nêu nên một số giải pháp để phát huy hiệu quả phản biện xã hội trong Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận tập chung nghiên cứu vấn đề phản biện xã hội trong lịch sử
thế giới, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phản biện xã hội và tình
hình thực hiện phản biện trên thực tế.
Thông qua việc tìm hiểu các tài liệu trên các trang Web của Đảng, Nhà
nước như cpv.org.vn, chinhphu.vn, mattran.org.vn và một trang mạng uy tính
khác như vietnamnet.vn, dantri.vn, mofa.gov.vn … các tạp chí Lý luận Chính
trị, Xây dựng Đảng, Lý luận và Truyền thông…
Trong khuôn khổ tiểu luận tác giả chỉ có thể đề cập đến những
điểm cơ bản nhất của phản biện xã hội và thực tế phản biện trong xã hội.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử.
- Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan
điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam, về thực hiện phản biện xã hội.
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, lôgic, phân tích,
thống kê, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn ...
6. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo tiểu luận có kết cấu 3 chương với các nội dung:
Chương 1. Cơ sở lý luận của phản biện xã hội
Chương 2. Thực tiễn phản biện xã hội trong nền dân chủ pháp quyền hiện
nay.
3
luận điểm của mình và chứng minh khả năng thực hiện trên thực tế. Nếu
không có sự bắt buộc ấy thì chưa phải là phản biện thực sự.
*Phản biện xã hội
4
Phản biện xã hội là vấn đề rất mới ở Việt Nam hiện nay. Con người
Việt Nam sống trong thời đại phong kiến chịu ảnh hưởng nặng nề của ý thức
hệ Nho giáo với những quan niệm như “trung quân”, “tam tòng tứ đức” …
thì ở đó không có chỗ cho sự phản biện và phản biện xã hội. Tiếp đó là thời
kỳ cả nước tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã
hội với nền kinh tế hoạch hóa tập chung, trên cơ sở đó cũng không thể tồn tại
phản biện xã hội. Ngày nay, khi nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập với thế giới thì hệ quả của nó là chấp
nhận sự hình thành xã hội công dân hay xã hội dân sự. Đó chính là điều kiện
để hình thành phản biện xã hội khi chuyển qua nền dân chủ cao hơn.
Khi xem xét một khái niệm mới ta luôn phải đứng trên một thế giới
quan nhất định. Ở đây, tôi đứng trên quan điểm Mác xít về sự phát triển xã
hội, nhất là trong xã hội có giai cấp và nhà nước để xem xét các khái niệm
này trong hệ thống các thuật ngữ khoa học chính trị. Do đó, định nghĩa cho từ
phản biện xã hội được xây dựng trên phạm trù của triết học chính trị.
Trên phương diện này, có thể tìm thấy không ít ý kiến trong các tác
phẩm khoa học và cả trong các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Khi giải thích các thuật ngữ trong các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, một số tác giả cho rằng: “phản
biện xã hội là nhận xét đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học,
dự án trong các lĩnh vực khác nhau”. Đây mới chỉ là một cách hiểu đơn giản
nhất về thuật ngữ này bằng cách so sánh với những thuật ngữ tương đồng
khác, mà chưa làm rõ được nội hàm chủ yếu của khái niệm phản biện xã hội.
hay thay đổi nó bằng một cái khác. Hoạt động xây dựng dựa trên sự khẳng
định hoặc phủ định đối tượng đó. Nhưng sự phân biệt này chỉ có tính chất
tương đối.
Phản biện cũng khác tư vấn. Tư vấn là gợi mở, góp ý, đưa ra thông tin.
Góp ý và thảo luận mang tính thông thường. Phản biện mang tính chuyên
nghiệp hơn và là mức độ cao hơn của sự đối thoại dân chủ và tranh luận khoa
học để tìm kiếm sự thật, vạch ra những yếu tố sai trái bị che lấp như “thật”,
6
làm cho nhận thức, hiểu biết và quyết định gần với chân lý hơn, phản ánh
đúng quy luật khách quan và lợi ích của đa số nhân dân hơn.
Phản biện và thẩm định, thẩm tra có nhiều điểm chun; cùng phân tích,
lập luận và đánh giá vấn đề. Tuy nhiên, các hoạt động này có sự khác nhau cơ
bản; phản biện thường chú trọng vào chỗ hạn chế, chỗ sai; còn sự đánh giá
trong thẩm định thường cân bằng cả chỗ đúng và chỗ sai. Ngoài ra, việc tiến
hành thẩm định thường do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành, còn phản
biện thì không nhất thiết như vậy.
Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt, phản biện có thể dẫn đến phản bác,
nhưng phản bác chỉ là một khả năng, một tình huống có thể có trong phản
biện và phản bác mang tính phủ định cao. Phản bác có thể phủ định sạch trơn
quan điểm trước đó. Ví như, khi phản biện về trang phục của ai đó, chúng ta
có thể tiến tới phản bác toàn bộ quan điểm thẩm mỹ của người đó. Khi đó,
tính khách quan đã giảm xuống và quan điểm các nhân đã chi phối hoạt động
phản biện.
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, phản biện có thể chia thành nhiều
loại. Chẳng hạn, nếu căn cứ vào phạm vi tiến hành, có thể chia thành phản
biện rộng, phản biện hẹp; căn cứ vào tính chất, có thể chia thành phản biện
khoa học, phản biện đại chúng, phản biện chính thức, phản biện không chính
thức; phản biện nhà nước phản biện xã hội…
“tính xã hội” đã làm nên sự phân biệt giữa hoạt động phản biện xã hội với
phản biện khoa học, chuyên môn và phản biện nhà nước.
Vậy, phản biện xã hội là sự phản biện nói chung của nhân dân và các tổ
chức chính trị - xã hội về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách,
pháp luậ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục
– đào tạo, y tế, môi trường, trật tự an ninh … ảnh hưởng đến toàn xã hội của
Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan ban hành nhằm mục tiêu phát triển.
Về bản chất, phản biện xã hội là sự biểu hiện mặt tri thức và lý tính của
xã hội, sự phê phán và dân chủ xã hội.
Về mặt tri thức, phản biện xã hội thể hiện trình độ khoa học, trình độ
giáo dục, trình độ văn hóa và khả năng phát triển xã hội được thể hiện qua sự
8
phản ánh, bình luận, đánh giá và đề ra các phương pháp, kiến nghị đối với các
vấn đề quốc gia và xã hội.
Về mặt lý tính, phản biện xã hội thể hiện mức độ sáng suốt trong nhận
thức,môi trường nhận thức và khả năng sáng tạo, khả năng phê phán của xã
hội trên cơ sở trình độ tri thức xã hội đó. Phương diện này chủ yếu được thể
hiện trong tính dân chủ và tinh thần dân chủ của cộng đồng xã hội với sự
tham gia của đông đảo công dân vào các vấn đề xã hội.
Từ phản biện có dẫn tới phản đối, chống đối hay không.
Trong tâm lý truyền thống của xã hội tiền dân chủ như xã hội nhiều nước
phương Đông trước đây, trong đó có nước ta thường quen với sự ủng hộ, đồng
tình của nhân dân đối với các cơ quan quyền lực nhà nước. Còn nếu có ý kiến
phản biện, tranh biện thì dễ bị coi là phản đối, phản nghịch. Đến chế độ phong
kiến, ở nước ta có cơ chế gián quan mang tính dân chủ trong triều đình.
Gần đây tình hình dân chủ theo phong cách phản biện của các cơ quan
quản lý đã có sự thay đổi, nhưng vẫn còn là một yêu cầu không dễ thực hiện về
chất. Tâm lý sợ xã hội dân sự và phản biện xã hội, một trong những chức năng
chính trị nào không ý thức được rằng chính sách nào thì sinh ra xã hội ấy. Xã
hội có thể không vĩnh viễn trở thành sản phẩm của hệ thống chính trị nhưng
những trạng thái của nó là hệ quả của hệ thống chính trị ấy. Ví như, có những
xã hội mà suốt cả một thời kỳ im phăng phắc, không ai dám nói to tên các nhà
lãnh đạo cả. Nếu như tiếp tục duy trì như vậy thì có thể nói rằng tất cả các
trạng thái sợ hãi ấy tạo ra một xã hội sợ hãi. Một xã hội sợ hãi là một xã hội
sợ phát triển, sợ thay đổi, một xã hội yên phận thủ thường. Vấn đề đặt ra với
tư cách là các lực lượng xã hội, chúng ta muốn gì thì phải nói rõ với nhà nước
và cũng phải tỏ rõ quan điểm như vậy tức là tạo ra quá trình đối thoại.
Không có một xã hội đối thoại giữa các nhóm lợi ích với nhau thì
không thể có phản biện xã hội bởi vì xã hội không có thói quen thảo luận. Khi
đó, năng lực phản biện đáng gia xã hội caanfcos để làm cho đúng đắn hơn các
quyết định chính trị của nhà cầm quyền lại bị thay thế bằng sự phản đối xã hội
với nhà nước.
10
Phản biện là hoạt động thân thiện, là hoạt động có trách nhiệm, là sự
kết hợp giữa trí tuệ xã hội với trí tuệ của hệ thống chính trị để tạo nên tính
chính xác, đúng đắn của quyết định chính trị. Còn phản đối là câc phản ứng
cực đoan ở các cấp độ khác nhau, cùng với sự phát triển sai lầm của các quyết
định chính trị. Nếu khống tổ chức phản biện xã hội một cách đúng đắn và
thân thiện thì chắc chắn chúng ta sẽ biến hoạt động phản biện trở thành hoạt
động phản đối. Khi sự phản đối ấy được chuẩn bị một cách âm thầm cùng với
tấc đôi tăng trưởng của những sai lầm chính trị thì nó có thể trở thành sự
chuẩn bị tất yếu cho một cuộc cách mạng.
Phản biện xã hội chính là biện pháp thay thế cho sự chống đối xã hội,
hay nói cách khác, cần phải thay thế tự do cãi cọ bằng tự do ngôn luận. Ở
nước Anh, trong công viên Hyde Park người ta dành riêng một khu cho những
lựa chọn phương án xã hội chính xác nhất, hợp lý nhất, có thể là điều chỉnh,
bổ xung, hoàn thiện phương án chính thống, hay đề xuất phương án khác,
nhưng vẫn hướng đến mục tiêu xã hội chung, thống nhất.
- Tính pháp lý
Phản biện xã hội phải tuân thủ các quy phạm pháp luật. Phản biện xã
hội có thể mang tính tự giác và tự phát nên phải có pháp lý. Và không có cơ
sở pháp lý thì khách thể có thể ngăn cản không cho xã hội thực hiện hành vi
phản biện, hoặc phản biện không được tiếp thu, giải trình. Đồng thời, trong
những tình huống, hoàn cảnh nhất định có thể bị những lực lượng chống đối
xã hội lợi dụng phản biện xã hội để thực hiện mục đích của mình. Do đó, hoạt
động phản biện cần có cơ chế, quy chế pháp lý rõ ràng, cụ thể. Bản thân hoạt
động phản biện xã hội phải mang tính pháp lý thì mói có tổ chức, có ý thức và
có sức mạnh.
Xã hội dân chủ thì công dân tự do phản biện nhưng tự do làm theo luật
pháp một cách tự giác. Ngay cả ở Mỹ, một nước mệnh danh “tự do dân chủ
nhất” nhưng cũng không phải ngoại lệ: “nền tảng của tự do, một cách nghịch
lý, lại chính là pháp luật. Không có pháp luật thì tự do cũng bốc hơi, trở
thành một thứ vô chính phủ, vô kỷ luật, mạnh ai nấy làm theo sở thích riêng,
và rốt cục đưa đến luật rừng”.
Phản biện mang tính xã hội, tức là phản ánh các quan điểm, quyền lợi
của các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Bất kỳ ai, chịu sự tác động của đối
tượng phản biện đều có thể trở thành chủ thể phản biện, đều có quyền phản
12
biện và quyền được tôn trọng sự phản biện của mình. Tính dân chủ, tính quần
chúng rộng rãi là tính quan trọng, là điều kiện để hoạt động phản biện phát
triển. Chính tính chất này mà chúng ta có thể phân biệt phản biện xã hội với
những dạng phản biện khác.
- Tính khách quant rung thực
tiễn để vạch ra những cái đúng, nhất là cái sai để nhằm đáp ứng nhu cầu xã
hội đề ra. Khi dự thảo các chính sách, các dự án luật, các quyết định thì bao
giờ tính chủ quan của người dự thảo cũng khá đậm nét.
Chuyên chế, độc đoán hay dân chủ hình thức, thảo luận chiếu lệ, phản
biện miễn cưỡng chỉ đem lại những kết quả trái ngược. Chẳng hạn, chủ
trương không bắn pháo hoa Xuân Đinh Hợi 2007, tuy đề ra chủ trương nhưng
không lấy ý kiến người dân, nên khi dư luận phản ứng báo chí lên tiếng thì Ủy
ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phải thay đổi quyết định của mình.
Do hạn chế về nhận thức chủ quan nên việc mở rộng ý kiến thì bao giờ
cũng toàn diện hơn, sát thực tế hơn. Do vậy, rất cần có sự tồn tại của cơ quan
phản biện. Đây không chỉ là phương thức sinh hoạt khoa học hay trong tòa án
mà nhất định phải trở thành cơ chế bắt buộc trong quản lý, lãnh đạo.
Phản biện xã hội là hình thức dân chủ trực tiếp trong hoạt động lãnh
đạo quản lý. Đây là cách tạo nên sự đồng thuận xã hội, nâng cao tính chủ
động sáng tạo của nhân dân. Nó cụ thể hóa nguyên lý tham dự, tham gia lãnh
đạo, quản lý, phù hợp với xu hướng hiện đại hóa trong hoạt động lãnh đạo,
quản lý. Trong cơ chế một đảng cầm quyền thì điều này còn tránh được bệnh
chủ quan, gia trưởng, độc đoán.
Phản biện xã hội là một nhu cầu cần thiết, là một trong những phương
thức đặc trưng của việc thực thi nền dân chủ. Sự tham gia của người dân trong
việc tham gia các quyết định là yếu tố căn bản của xã hội dân chủ. Ở nước ta,
phản biện xã hội đã và đang góp phần tạo không khí dân chủ, điều chỉnh hoạt
động lãnh đạo quản lý theo hướng hợp lòng dân hơn. Song, cũng còn nhiều
chính sách còn xa dân, phản biện nhiều nhưng thay đổi chậm.
Xã hội là tập hợp của nhiều cá nhân theo những nhu cầu lợi ích nhất
định nảy sinh trong hoạt động thực tiễn. Dân chủ có nghĩa là khi quyết định
14
các công việc chung của cộng đồng, tiếng nói của mỗi cá nhân được lắng
nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát
của nhân dân…”; “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là
cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống
đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân
dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân…” ; “ Công dân
có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn
đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước…”.
Phản biện xã hội là hình thức cụ thể để thực hiện những quy định trên, góp
phần quan trọng vào việc thể hiện ý chí nguyên vọng của nhân dân, xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Để xã hội phát triển ổn định, quyền lực không trở thành lòng tham
quyền vị lợi thì phải phát huy vai trò của phản biện xã hội. Trong Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, tại phần Phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể có viết: “Nhà nước ban hành cơ chế
để các đoàn thể và nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã
hội”. Với điều kiện này, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng thông
qua phản biện góp tiếng nói của mình đối với mọi công việc của đất nước một
cách thuận lợi hơn, góp phần vào việc hoạch định phương án xã hội một cách
hợp lý nhất.
Có thể thấy vai trò của phản biện xã hội là không nhỏ, tuy nhiên không
nên tuyệt đối hóa vai trò của nó, coi đó là giải pháp vạn năng trong đời sống
chính trị. Mặc dù có vai trò quan trọng, nhưng phản biện xã hội cũng chỉ là
một hình thức để thực hiện dân chủ trong tổng thể cơ chế tập chung dân chủ.
Do vậy, cần có cách nhìn biện chứng khi sử dụng phản biện xã hội.
16
Cho nên xây dựng xã hội dân sự là một tất yếu và là nội dung cương
lĩnh xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường. Điều này đã
được nhắc đến trong Hội nghị Trung ương lần thứ sáu của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X, Tông Bí thư Nông Đức Mạnh lần đầu nêu lên bộ
ba: nhà nước, thị trường và xã hội; còn Hội nghị cuối năm 2007, đầu năm
2008, Hội đồng Lý luận Trung ương khi đề xuất việc xây dựng “Chủ thuyết
phát triển ở Việt Nam”, lần đầu tiên đã đề cập tới xã hội dân sự, như một nội
dung của nó.
2.1.2 Bản chất và vai trò của xã hội dân sự trong quan hệ với nhà nước
pháp quyền
Trong sự phân tích của các nhà khoa học thì quan điểm của GS. Tương
Lai là rất đáng lưu ý. Ông cho rằng: các nước đang cố gắng xây dựng một nhà
nước pháp quyền gắn liền với xã hội dân sự, việc mà chúng ta đang cố gắng
làm; chỉ có điều, chúng ta nói nhiều về nhà nước pháp quyền nhưng lại có
phần nào còn e dè về xã hội dân sự, trong khi đó xã hôi dân sự và nhà nước
pháp quyền gắn với nhau như bóng với hình. Hơn nữa, cái ý tưởng về xã hội
dân sự vốn đã được ấp ủ từ rất lâu trong khát vọng của con người. Trong lịch
sử loài người, quyền con người và quyền công dân là những vấn đề có ý nghĩa
to lớn về thực tiễn cũng như về lý luận, như J.J Rousseau, nhà tư tưởng của
Thế kỷ khai sáng đã nói: “Con người sinh ra là để tự do, vậy mà ở khắp
mọi nơi con người lại bị cùm kẹp?”. Từ khi tác phẩm Bàn về khế ước xã
hội của Rousseau ra đời, trong tư duy của loài người, quyền lực tưởng như
vô hạn của vua chúa đã bị hạ bệ với việc khẳng định quyền của nhân dân,
quyền xuất phát từ nhân dân, nhà nước được xem như người ký kết hợp
đồng với quốc dân.
Học thuyết về nhà nước pháp quyền ra đời ở thế kỷ XIX vơi một quá
trình thăng trầm, thậm chí có lúc bị lãng quyên trong một thời gian dài. Ở
những nước xã hội chủ nghĩa thường không nói đến nhà nước pháp quyền mà
chỉ nói đến nhà nước chuyên chính vô sản. Cho đến năm 1988, với cải tổ, ở
việc chống “quốc nạn” tham nhũng đang là bức xúc của người dân.
19
Phản biện xã hội xuất phát từ nhu cầu kép của bản thân xã hội dân sự
và bản thân nhà nước
Nhà nước trong xã hội ngày nay, không chỉ thực hiện chức năng quản
lý mà còn thực hiện chức năng phục vụ xã hội và theo xu hướng chuyển từ cai
trị, kiểm soát sang quản lý các chức năng phục vụ xã hội, phục vụ nền kinh tế
thị trường. Nhà nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trìn phát
triển xã hội và nền kinh tế thị trường thông qua việc ban hành Hiến pháp và
các pháp luật, chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển cũng như tổ chức
thực hiện chúng. Điều đó ảnh hường đến quyền và nghĩa vụ công dân, các tổ
chức kinh doanh và xã hội. Luật pháp và quyết sách đúng thì xa hội và nhân
dân có lợi, kinh tế phát triển và ngược lại nó có thể làm thiệt hại đến lợi ích và
quyền công dân, kìm hãm sự phát triển, bỏ lỡ cơ hội và thậm chí làm chệch
hướng sự lãnh đạo của đảng cầm quyền.
Muốn pháp luật, chủ trương, chính sách phù hợp với quy luật khách
quan thì bản thân cơ quan nhà nước phải có đủ năng lực, bản lĩnh, giải
pháp cần thiết. Điều đó không chỉ xuất phát từ bản thân nội bộ nhà nước.
Bản thân nhà nước dù cố gắng đến mức nào cũng không đủ làm cho pháp
luật, quyết sách của mình đưa ra đúng đắn, phù hợp với lợi ích đa dạng của
các tổ chức xã hội.
Trong khuynh hướng xây dựng nền dân chủ pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, một điều bắt buộc, tất yếu xuất phát tù bản thân nhà nước và quan
trọng hơn còn là xuất phát từ quyền lực của nhân dân. Nhân dân và xã hội dân
sự có quyền, nghĩa vụ cùng với nhà nước xây dựng luật pháp và quyết sách
thông qua chức năng phản biện xã hội, giám sát xã hội… Chính điều đó làm
pháp luật và quyết sách phản ánh được thực tế cuộc sống đa dạng cùng với sự
nhu cầu khách quan và đúng đắn. Đồng thời, nếu nhà nước không đề ra các
quy chế, thể chế công khai, minh bạch thì thông tin và các quy chế ấy không
được luật pháp hóa thì xã hội và nhân dân khó lòng thực hiện được chức năng
phản biện.
21
Nhưng khó khăn, trở ngại cũng bắt nguồn tù bản thân tâm lý và nhạn
thức của xã hội, truyền thống chưa xây dựng được nền dân chủ, chưa xây
dựng được xã hội dân sự đúng nghĩa, thì người dân e ngại đụng chạm với nhà
nước. Ngoài ra, nhân dân và công dân chưa được trang bị kỹ năng, phương
tiện, thông tin từ hoạt động của nhà nước, thiếu quy chế để thực hiện phương
châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân gián sát”. Phản biện xã hội đảm bảo
yêu cầu về mặt khoa học, dân chủ, đối thoại qua đó mới phát huy được trí tuệ
của nhân dân, đóng góp cho nhà nước, phục vụ sự phát triển, ích nước lợi dân.
Phản biện xã hội với ý nghĩa là đặt lại vấn đề, bổ xung ý kiến làm cho
quyết sách ngày càng hoàn thiện và đúng đắn. Điều đó đảm bảo sự hài hòa lợi
ích giữa công dân và xã hội, giữa xã hội và nhà nước, giữa lợi ích của đảng cầm
quyền và lợi ích của dân tộc thì không có lý do gì mà không tạo điều kiện tốt
nhất để phản biện xã hội được thực hiện trong một khung pháp lý thích hợp.
Như vậy, xây dựng xã hội dân sự, xây dựng nhà nước pháp quyền là
những yêu cầu cơ bản cùng với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển
đồng bộ, hài hòa là nhằm thực hiện xây dựng một xã hội cường thịnh, dân
chủ, công bằng và văn minh. Đó là một xã hội làm nền tảng thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
2.2 Vấn đề phản biện xã hội với phát triển bền vững
2.2.1 Một số đặc điểm của dân chủ pháp quyền trong quan hệ với phản
biện và giám sát xã hội
Dân chủ pháp quyền vừa là cơ sở vừa là hệ quả của quá trình vận động,
chuyên chế và tự do vô chính phủ mới tạo nên dân chủ thực sự. Quan trọng
nhất là thực hiện phản biện và giám sát xã hội thường xuyên và thực chất.
+ Giữa pháp quyền và phi pháp quyền: Dân chủ phi pháp quyền hay
chế độ phi pháp quyền, nửa pháp quyền không dựa vào quyền lực tối cao của
pháp luật, nên dễ tùy tiện theo cảm tính, theo ý chí của nhà cầm quyền hoặc lệ
làng. Pháp quyền là biến ý chí của nhân dân thành ý chí của nhà nước, thành
luật. Dân chủ theo luật, thực hiện nghiêm luật pháp không kể là cơ quan nhà
23
nước hay đảng cầm quyền, tiếm quyền thì phải có phản biện và gián sát đầy
đủ, theo phương tram quyền lực kiểm soát quyền lực.
+ Giữa thiểu số và đa số, giữa quyền lực của nhân dân và quyền lực của
nhà nước: Quyền lực của nhà nước là do một số người nắm giữ, điều hành để
phục vụ nhân dân nhưng không phải khi nào cũng như ý mà quyền lực có khi
bị lạm quyền. Tât nhiên, quyền lực của nhà nước lại là quyền lực của nhân
dân, do nhân dân ủy quyền, nhân dân có quyền phản biện các quyết sách và
có quyền giám sát quyền lực trong tất cả các hoạt động của nhà nước dưới
hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua cơ quan đại diện của mình, hoặc
các công cụ khác như báo chí, dư luận xã hội…
+ Giữa các quyền lực trong hệ thống nhà nước: Các quyền lực của nhà
nước như quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vùa có mục tiêu chung nhưng
lại có nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau, có tính độc lập cao. Cho nên giữa
chúng phải phân công, phân rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm. Chúng phải
có tính độc lập cao và phải có quyền phản biện, giám sát, kiểm soát lẫn nhau
theo luật định, tránh tình trạng nhập nhằng chồng chéo. Quốc hội không phải
tập chung tất cả quyền lực nhà nước. Quốc hội cũng phải bị phản biện và
giám sát từ nhân dân, từ đảng cầm quyền, từ tòa án hiến pháp, từ thành tra
Quốc hội.
+ Giữa đảng cầm quyền và nhà nước: Tuy thống nhất về mục tiêu và
Phương thức phát triển thông qua mâu thuẫn biện chứng như nói ở trên,
nhưng chính từ trong phương thức đó đã nảy sinh cách giải quyết tự nó một
cách phù hợp, không phải từ bên ngoài vào mà tự thân nó vừa là những mặt
của mâu thuẫn vừa là phương thức vận động và tự giải quyết mâu thuẫn nội
tại của chúng.
Phương thức giải quyết và những điều kiện giải quyết mâu thuẫn trong
xã hội dân chủ pháp quyền trước hết phải thông qua phản biện xã hội. Tiếp
theo là giám sát xã hội và giám sát, kiểm soát xã hội nói chung từ các cơ
quan, tổ chức, cá nhân tùy theo chức năng và quyền hạn của mình được luật
pháp quy định… Dân chủ pháp quyền này không phải là dân chủ tự trị, tự
phát, dù tồn tại hình thức tự quản và dân chủ trực tiếp.
25