MỞ BÀI
Như chúng ta được biết, hợp tác xã là một loại hình kinh tế tập thể
khá phổ biến, hoạt động trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội và hiện diện
ở các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau. Kinh nghiệm thế giới
cho thấy, đến nay hợp tác xã vẫn tỏ ra là mô hình hoạt động hiệu quả,
phù hợp với điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt. Và quan trọng hơn
nữa, thông qua hợp tác xã, các hộ nông dân, các doanh nghiệp nhỏ hợp
tác với nhau, tăng sức mạnh để đối phó với khó khăn và tránh các nguy
cơ thua lỗ cao. Luật hợp tác xã năm 2012 được Quốc hội thông qua
ngày 20/11/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2013. Nhằm làm rõ hơn
những điểm đổi mới cơ bản của luật hợp tác xã năm 2012, em xin lựa
chọn đề bài số 02 : “Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật
hợp tác xã 2012 so với Luật hợp tác xã năm 2003( tối thiểu là năm điểm
mới)” làm nội dung nghiên cứu trong bài tập học kỳ.
NỘI DUNG
I.
Một số vấn đề cơ bản về hợp tác xã
a) Hợp tác xã
Sự tồn tại và phát huy tác dụng rõ nét của mô hình hợp tác xã đã
khẳng định sức sống mãnh liệt của mô hình này, đồng thời thể hiện sự
phù hợp về quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất xã hội. Hợp tác xã với vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình,
kinh tế tư nhân, cá thể, đáp ứng nhu cầu phong phú của đời sống cộng
đồng theo các nguyên tắc nhất định đã khẳng định sức sống của hợp tác
xã.
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao, hợp tác xã hoạt
động như một doanh nghiệp dựa trên các giá trị và nguyên tắc tương
1
Luật hợp tác xã quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh
tế.
Đối tượng điều chỉnh của luật hợp tác xã là hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã, thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên của liên hiệp
hợp tác xã và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan đến việc thành
lập, tổ chức, hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
c) Mục đích sửa đổi
Sự sửa đổi Luật hợp tác xã nhằm thể chế hoá đầy đủ quan điểm,
chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tập thể, xây dựng khung pháp
luật cơ bản phù hợp với bản chất của tổ chức hợp tác xã (hợp tác xã);
Tăng năng lực cạnh tranh của kinh tế hộ gia đình, đặc biệt là kinh tế hộ
nông dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ trong
điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
II.
Một số điểm mới của luật hợp tác xã 2012
1. Về hình thức
Luật hợp tác xã năm 2012 có 9 chương và 64 điều. Trong khi Luật
hợp tác xã năm 2003 có 10 chương và 52 điều. 9 chương của Luật hợp
tác xã 2012 gồm:
- Chương I: Những quy định chung: gồm 12 Điều (1- 12)
- Chương II: Thành viên, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành viên:
gồm 6 Điều (13- 18)
- Chương III: Thành lập và đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã:
gồm 10 Điều (19-28)
- Chương IV: Tổ chức quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã: gồm
13 Điều (29- 41)
xã 2012 quy định : “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu,
4
có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và
hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo
việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự
chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác
xã.” Còn theo luật hợp tác xã 2003, khái niệm hợp tác xã là “tổ chức
kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi
chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức
lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của
từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả
các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Như vậy, ở đây luật mới đã quy định tư cách pháp nhân cho hợp tác
xã đồng thời giới hạn số lượng thành viên tối thiểu của hợp tác xã. Điều
này sẽ giúp hợp tác xã tham gia vào các quan hệ dân sự tốt hơn, đồng
thời thể hiện được tính chất kinh tế tập thể khi quy định số thành viên tối
thiểu. Bên cạnh đó ,quy định số lượng 7 thành viên tối thiểu giúp pháp
luật thêm chặt chẽ bởi đây là số lượng ít nhất cần có để có thể duy trì
khả năng hoạt động một cách hiệu quả cho hợp tác xã.
Về khái niệm liên hiệp hợp tác xã theo Luật hợp tác xã 2012 là “tổ
chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04
hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã
thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ
trong quản lý Liên hiệp hợp tác xã”. Liên minh hợp tác xã Việt Nam được
thành lập ở trung ương; liên minh hợp tác xã cấp tỉnh được thành lập ở
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Điều lệ liên minh hợp tác xã
Luật hợp tác xã 2003)…
3. Một số đổi mới liên quan đến việc thành lập hợp tác xã
Luật hợp tác xã 2012 đã quy định tại Điều 13 thêm điều kiện trở
thành thành viên hợp tác xã là: “Cá nhân là người nước ngoài đủ điều
kiện như công dân Việt nam được tham thành viên hợp tác xã ; Đối với
6
hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên chỉ là cá nhân”. Trong khi đó Luật
hợp tác xã 2003 lại quy định : “mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có
đủ điều kiện theo quy định của Luật này, tán thành Điều lệ hợp tác xã
đều có quyền gia nhập hợp tác xã; xã viên có quyền ra hợp tác xã theo
quy định của Điều lệ hợp tác xã”. Như vậy có thể thấy Luật hợp tác xã
2012 đã quy định điều kiện để trở thành thành viên của hợp tác xã một
cách chặt chẽ hơn.
Về điều lệ của hợp tác xã thì theo Luật 2012 tại khoản 5 Điều 21 bổ
sung thêm quy định về “mức độ thường xuyên sử dụng sản phẩm, dịch
vụ; giá trị tối thiểu của sản phẩm, dịch vụ; giá trị tối thiểu của sản phẩm,
dịch vụ mà thành viên sử dụng; thời gian liên tục không sử dụng sản
phẩm, dịch vụ của hợp tác xã nhưng không quá 3 năm, đối với hợp tác
xã tạo việc làm là không quá 2 năm;
Việc quy định như vậy sẽ giúp hợp tác xã tích cực sản xuất , đồng
thời duy trì tính chất xã hội của hợp tác xã.
4. Vấn đề hỗ trợ và ưu đãi của Nhà nước dành cho hợp tác xã
Theo Điều 5 Luật hợp tác xã 2012 đã bổ sung thêm quy định “bảo
đảm của Nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã” như sau :
“1. Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn, thu nhập, các
quyền và lợi ích hợp pháp khác của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc lợi ích quốc
khi đó , Luật hợp tác xã 2003, cho phép chọn một trong hai mô hình tổ
chức, gồm: một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành (Điều 27); hoặc
thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành(Điều 28).
b) Hội đồng quản trị hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (Điều 35)
Theo Luật hợp tác xã 2012, Hội đồng quản trị hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã là “cơ quan quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã do hội
8
nghị thành lập hoặc đại hội thành viên bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo
thể thức bỏ phiếu kín. Hội đồng quản trị gồm chủ tịch và thành viên, số
lượng thành viên hội đồng quản trị do điều lệ quy định nhưng tối thiểu là
03 người, tối đa là 15 người”.
Trong khi đó, Luật 2003 lại không lập hội đồng quản trị hợp tác xã.
Chỉ có Liên hiệp hợp tác xã mới thành lập Hội đồng quản trị và Ban
giám đốc( điều 44).
c) Về tên gọi một số chức danh trong hợp tác xã
Theo quy định của Luật hợp tác xã 2012, Ban quản trị đã được đổi
thành Hội đồng quản trị; chủ nhiệm, phó chủ nhiệm được gọi là giám
đốc, phó giám đốc hợp tác xã; xã viên được gọi chung là thành viên như
Liên hiệp hợp tác xã.
Nhìn chung tổ chức hoạt động của hợp tác xã theo hương gọn hơn
và chặt chẽ hơn, bao gồm cả cơ quan quản lí và cơ quan giám sát. Có
thể thấy mô hình tổ chức của hợp tác xã đã học hỏi khá nhiều từ việc tổ
chức doanh nghiệp. Điều này nhằm mục đích góp phần tăng cường hiệu
quả hoạt động của hợp tác xã.
6. Về phân phối thu nhập và tài sản của hợp tác xã
Theo luật mới, hợp tác xã sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính với
Nhà nước, thu nhập của hợp tác xã được phân bổ như sau:
“-Trích lập quỹ đầu tư phát triển không thấp hơn 20%/thu nhập;
d) Vốn, tài sản khác được điều lệ quy định là tài sản không chia.
Xử lý tài sản và vốn của hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã khi giải
thể được thực hiện tương tư như Luật hợp tác xã 2003, riêng tài sản
không chia do Chính phủ quy định việc xử lý khi hợp tác xã, Liên hiệp
hợp tác xã giải thể.
10
Như vậy, tài sản của hợp tác xã được tạo lập không chỉ từ vốn góp
ban đầu của xã viên, vốn do hợp tác xã tự tích lũy, huy động, được tài
trợ mà còn từ vốn trợ cấp của nhà nước, đặc biệt là trợ cấp không hoàn
lại. Những tài sản có nguồn gốc trợ cấp không hoàn lại này tuy thuộc sở
hữu tập thể, được sử dụng để phục vụ cộng đồng xã viên nhưng phải
chuyển giao lại cho Nhà nước khi hợp tác xã giải thể. Do bản chất của
kinh tế tập thể, việc khai thác khối tài sản của hợp tác xã không chỉ vì
mục tiêu tối đa hóa lợi tức vốn góp cho xã viên (như doanh nghiệp), mà
sâu xa hơn là phải hình thành được các quỹ và tài sản nhằm giải quyết
và đáp ứng tốt nhất những nhu cầu chung về kinh tế – xã hội mà xã viên
quan tâm, chẳng hạn các dịch vụ tín dụng, tiết kiệm, chăm sóc sức khỏe,
nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường, tổ chức lễ hội, giáo dục, nhà
trẻ…Thực trạng sử dụng quỹ và tài sản dành cho phúc lợi tập thể có thể
xem như một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả cũng
như sự thành công hay không của một mô hình hợp tác xã cụ thể.
Những tài sản phúc lợi này không đương nhiên được phân chia cho xã
viên khi hợp tác xã giải thể, mà được xử lý theo điều lệ và quy định của
pháp luật; theo đó, phần nào có nguồn gốc trợ cấp nhà nước thì giao
chính quyền địa phương, phần còn lại do Đại hội xã viên quyết định. Đây
cũng chính là khác biệt lớn trong thực hiện quyền sở hữu giữa hợp tác
xã và công ty.
Trong trường hợp giám đốc (tổng giám đốc) do hợp tác xã, Liên
hiệp hợp tác xã thuê thì ngoài việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ
như quy định trên còn phài thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ theo hợp
đồng lao động và có thể được mời tham gia cuộc họp đại hội thành
viên, hội đồng quản trị...
b) Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hợp tác xã, Liên hiệp hợp
tác xã
Luật hợp tác xã 2012 đã bổ sung quy định về hoạt động của hợp tác
xã đó là: “Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia
nhập, ra khỏi hợp tác xã. hợp tác xã tự nguyện thành lập, gia nhập, ra
khỏi Liên hiệp hợp tác xã.”
Có thể thấy tự nguyện là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất
của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Tự nguyện thành lập, gia nhập, ra
khỏi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khi thực sự có nhu cầu hợp tác, có
nhu cầu sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và không
ai, tổ chức nào có quyền ép buộc. Khi tất cả đều tự nguyện thì mọi việc
sẽ tốt đẹp hơn.
12
Luật hợp tác xã 2012 cho phép hợp tác xã , liên hiệp hợp tác xã kết
nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên.
Sự đổi mới này cõ lẽ xuất phát từ quan điểm cho rằng :thành viên là
cốt lõi, là đối tác, là khách hàng, là thị trường chính của hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã. Không có thành viên: không có hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã. Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã việc phát triển thành
viên là tăng cường nguồn lực( góp vốn), tăng thị trường, bạn hàng (sử
dụng dịch vụ, sản phẩm) đây là nền tảng để hợp tác xã, liện hiệp hợp tác
xã phát triển bền vững trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Việc
mở rộng việc kết nạp thành viên sẽ giúp cho hợp tác xã phát triển vững
ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Giáo dục là hoạt động thường xuyên của mỗi tổ chức. Giáo dục đối
với thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cần tập trung vào thông
tin, phổ biến, giới thiệu những giá trị, nguyên tắc và lợi ích của thành
viên khi tham gia vào hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; giáo dục tinh thần
tự chủ, tự giác, trách nhiệm với hợp tác xã, với cộng đồng thành viên và
xã hội…
Bên cạnh đó, đào tạo là hoạt động không thể thiếu ở bất cứ tổ chức
nào. Đào tạo trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tập trung vào đào tạo
nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng làm việc cho đội ngũ cán bộ chủ
chốt, nhân viên nghiệp vụ làm việc thường xuyên tại hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã.
Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng
đồng thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát
triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và
quốc tế.
Có thể thấy rằng chăm lo cho thành viên là trách nhiệm của hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã. Thành viên được đáp ứng càng nhiều các nhu
cầu của mình, các quyền lợi của thành viên ngày một nhiều hơn thì
14
thành viên càng gắn bó với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã
cũng sẽ mạnh lên, phát triển bền vững hơn và ngược lại.
KẾT LUẬN
Việt Nam với vị trí của một nước nông nghiệp thì việc hoàn thiện
chính sách, pháp luật về hợp tác xã trong đó có chế định hình thức sở
hữu, để từ đó phát hiện và nhân rộng các mô hình hợp tác xã tiên tiến là
công việc có ý nghĩa thiết thực đối với yêu cầu tăng trưởng kinh tế bền
16