MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................................................1
NỘI DUNG...............................................................................2
I. Khái niệm, nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã và Luật hợp tác xã....................................2
1. Khái niệm về hợp tác xã.................................................................................................................2
2. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hợp tác xã...............................................................................3
II. Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 2012 so với Luật Hợp tác xã năm
2003........................................................................................................................................................4
1. Về số lượng các điều luật...............................................................................................................4
2. Về định nghĩa hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (Điều 3)..............................................................5
3. Về tên gọi những thành viên góp vốn............................................................................................6
4. Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động..................................................................................................6
5. Về bản chất của hợp tác xã.............................................................................................................7
6. Về vấn đề hình thức góp vốn và số vốn góp..................................................................................8
7. Hội đồng quản trị Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (Điều 35)......................................................9
KẾT LUẬN..............................................................................................................................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................11
Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 2012 so với Luật Hợp tác xã năm 2003 (tối
thiểu là năm điểm mới). - Bài tập học kì Luật Thương mại 1
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Thương mại 1
Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2003 (được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2004) cùng với các văn bản hướng dẫn đã thể chế hóa một bước quan điểm mới của Nghị
quyết số 13/NQ-TW Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (Khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát
triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Sau 6 năm thực hiện, nhìn chung Luật Hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã năm 2003 đã đạt được một số kết quả, tạo thuận lợi hơn cho các tổ chức kinh tế tập thể phát
triển so với khung pháp luật thời kỳ trước đây, có đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế tập
thể, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, góp phần vào việc hoàn thiện quan hệ sản xuất, và vào sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Quy định tại điều 7 luật hợp tác xã năm 2012 như sau:
Điều 7. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động
1. Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã. Hợp tác xã tự
nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp hợp tác xã.
2. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên.
3. Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn
góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; được cung
cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu
nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ.
4. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật.
5. Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam
kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ. Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
được phân phối chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên
hoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm.
6. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, hợp tác xã
thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản
chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
7. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên, hợp tác xã thành
viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc
gia và quốc tế.
3. Luật hợp tác xã
Luật hợp tác xã: Là luật quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động đối với hợp tác xã trong các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, nhằm khuyến khích và phát triển mô hình Hợp tác xã
kiểu mới, đồng thời định hướng phát triển các Hợp tác xã hiện có hoạt động theo đúng bản chất hợp tác
xã.
II. Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 2012 so với Luật
Hợp tác xã năm 2003.
Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2003 đã đạt được một số kết quả, tạo thuận lợi hơn cho các
lý Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã; Tài sản, tài chính của Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã; Chia,
tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản; Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã; Tổ chức đại diện của Hợp
tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã…
Cụ thể, ở Luật hợp tác xã 2012 có:
- Chương I: Những quy định chung: gồm 12 Điều (1- 12)
- Chương II: Thành viên, hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành viên: gồm 6 Điều (13- 18)
- Chương III: Thành lập và đăng ký hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã: gồm 10 Điều (19-28)
- Chương IV: Tổ chức quản lý hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã: gồm 13 Điều (29- 41)
- Chương V: Tài sản, tài chính của hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã: gồm 10 Điều (42- 51)
- Chương VI: Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã: gồm 5
Điều (52- 56)
- Chương VII: Tổ chức đại diện của hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã: gồm 2 Điều (57- 58)
- Chương VIII: Quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã: gồm 3 Điều (59- 61)
- Chương IX: Điều khoản thi hành: gồm 3 Điều (62- 64)
Trong từng chương lại có những điểm mới cụ thể sẽ được phân tích riêng ở phần dưới đây.
Ngoài ra, Luật hợp tác xã 2012 không có chương về khen thưởng, khen thưởng thực hiện theo Luật thi
đua khen thưởng và các quy định khác của pháp Luật hiện hành. Chủ yếu làm rõ hơn bản chất, tổ chức
quản lý của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; quyền, nghĩa vụ
của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên hợp tác xã,
liên hiệp hợp tác xã; tiếp thu những quy định pháp luật mang tính cơ bản, ổn định lâu dài được quy
định tại Nghị định 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004 và Nghị định 87/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005
nhằm bảo đảm tính toàn diện của Luật, đồng thời nhằm hạn chế tối đa việc ban hành văn bản dưới
Luật; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã thành lập và hoạt động.
2. Về định nghĩa hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (Điều 3)
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự
nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm
doanh nghiệp có nhu cầu là có thể thành lập Liên hiệp hợp tác xã như Luật hợp tác xã 2003)…
3. Về tên gọi những thành viên góp vốn
Tại Điều 2 ( Luật hợp tác xã 2012).
Luật này áp dụng đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên hợp tác xã (sau đây gọi là thành
viên), hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi là hợp tác xã thành viên) và tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức, hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp
tác xã.
Như vậy, Luật hợp tác xã năm 2012 đã thay khái niệm “xã viên” trong Luật hợp tác xã năm 2003 bằng
khái niệm “thành viênThể hiện nguyên tắc Hợp tác xã, liên hiệp Hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên,
hợp tác xã thành viên ở các quy định cụ thể: số lượng xã viên giới hạn tối thiểu, không quy định số
lượng tối đa; điều kiện trở thành xã viên được mở rộng hơn cho cả người nước ngoài cư trú hợp pháp
tại Việt Nam; ( quy định tại điều 13 luật hợp tác xã năm 2012 ). Luật Hợp tác xã có quy định mở rộng
quyền được làm thành viên Hợp tác xã của đối tượng là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Tuy
nhiên, quy định này có thể dẫn đến nguy cơ người nước ngoài thành lập Hợp tác xã tại Việt Nam, tận
dụng các lợi thế và các chính sách ưu đãi đối với Hợp tác xã để kinh doanh và có thể gây thiệt hại cho
các chủ thể khác trong nước,đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Bên cạnh đó, trong Luật Hợp tác xã
đã quy định rõ “Chính Phủ sẽ quy định cụ thể các điều kiện làm xã viên Hợp tác xã đối với người nước
ngoài cư trú tại Việt Nam”. Như vậy, chúng ta có thể có các quy định hạn chế và kiểm soát chủ thể này
khi thành lập Hợp tác xã.
Ngoài ra còn bãi bỏ đối tượng cán bộ công chức được tham gia HTX với tư cách là thành viên.
4. Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động
Ở luật hợp tác xã năm 2003 thì nguyên tắc tổ chức, hoạt động chỉ có 5 điểm, còn ở luật hợp tác xã 2012
có 7 điểm. Luật Hợp tác xã bổ sung những nguyên tắc mới rất đặc thù bao gồm các nguyên tắc được
quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 7 của Luật Hợp tác xã 2012. Qua đó, phân tích sự thể hiện của
nguyên tắc này trong các quy định cụ thể của Luật Hợp tác xã 2012:
Thể hiện nguyên tắc Hợp tác xã, liên hiệp Hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên,
hợp tác xã thành viên ở các quy định cụ thể:
dụng dịch vụ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhưng không quy định nghĩa vụ của hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã phải cung cấp sản phẩm, dịch vụ, trước hết nhằm phục vụ hoạt động kinh tế, đời sống của xã
viên. Luật chưa thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm của xã viên trong việc góp vốn và chia sẻ rủi ro;
thực tế vốn góp của xã viên còn mang tính hình thức, khi làm ăn thua lỗ, xã viên không liên đới chịu
trách nhiệm.
So với Luật Hợp tác xã 2003, Luật Hợp tác xã 2012 xác định rõ ràng hơn bản chất của Hợp tác xã;
khắc phục những khó khăn, tồn tại của Luật Hợp tác xã 2003. Cụ thể, năm 2008 Việt Nam có 14.500
Hợp tác xã , thì đến năm 2009 con số này là 13.552 Hợp tác xã và năm 2010, giảm dần chỉ còn 12.249
Hợp tác xã còn hoạt động. Thực tế trong số đó, lại có tới 32% là các Hợp tác xã “trá hình”, có nghĩa là
họ hoạt động theo hình thức công ty, trong đó có nhiều Hợp tác xã thực chất là công ty nhưng lại
“mang danh” là Hợp tác xã để được hưởng những ưu đãi của Chính phủ theo Luật Hợp tác xã ra đời
năm 2003. Điều này tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp với các Hợp tác xã,
khắc phục tình trạng các doanh nghiệp mang danh Hợp tác xã hưởng lợi từ chính sách Nhà nước, tránh
thất thu thuế cho Nhà nước.
Điểm mới của Hợp tác xã 2012 còn thể chế hóa rõ hơn về bản chất, tổ chức của Hợp tác xã, để làm rõ
sự khác biệt so với tổ chức doanh nghiệp, ở mục tiêu thành lập, quan hệ sở hữu, quan hệ kinh tế, quan
hệ quản lý, và quan hệ phân phối trong Hợp tác xã. Hợp tác xã phải mang lại lợi ích cho thành viên
thông qua đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ, việc làm của thành viên là chủ sở hữu Hợp tác
xã. Luật Hợp tác xã năm 2012 đã xác định rõ bản chất của hợp tác xã đó là “ hợp tác xã nhằm đáp ứng
nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản
lý hợp tác xã”.
Theo Luật hợp tác xãnăm 2012: Mục tiêu của Hợp tác xã là mang lại lợi ích cho thành viên; “phân phối
của hợp tác xã chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên; theo công sức lao động,
phần còn lại chia theo vốn góp”. Bản chất của Hợp tác xã là phục vụ lợi ích của thành viên; còn bản
chất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp chia theo vốn
góp.
Vì vậy, Luật hợp tác xã năm 2012 bỏ quy định “hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”
so với Luật hợp tác xã năm 2003.
Ngoài khái niệm “Ban kiểm soát” bổ sung khái niệm “Kiểm soát viên”; hợp tác xã có 30 thành viên trở
lên thì bầu Ban kiểm soát; Ban kiểm soát tối đa có 07 thành viên; nếu hợp tác xã có số lượng thành
viên ít (dưới 30 thành viên) thì có thể chỉ bầu 01 kiểm soát viên quy định tại điều 39 Luật hợp tác xã
2012
Điều 39. Ban kiểm soát, kiểm soát viên
Khái niệm “đăng ký hợp tác xã” thay khái niệm “đăng ký kinh doanh”. Ngoài ra còn có một số quy
định liên quan các nội dung sửa đổi, bổ sung khác. Mô hình quản trị theo Luật Hợp tác xã 2012 là mô
hình đơn nhất, không có sự phân biệt tùy theo trường hợp giữa quản trị và điều hành như trong Luật
Hợp tác xã 2003;
+ Tên gọi của các cơ quan quản lý điều hành trong Hợp tác xã đã hoàn toàn thay đổi, không còn được
gọi là Đại hội Xã viên, Ban quản trị mà sử dụng các tên gọi giống như các cơ quan trong cơ cấu tổ chức
của Doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp 2005. Về nội dung này, tác giả cho rằng nỗ
lực biến Hợp tác xã thành hoặc gần giống đến mức gây nhầm lẫn với các loại hình công ty là quy định
không phù hợp và mâu thuẫn với chính mục đích của Luật hợp tác xã 2012 khi cố gắng để khẳng định
Hợp tác xã không phải là Doanh nghiệp, không có hoạt động giống như Doanh nghiệp;
+ Người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã chỉ là chủ tịch Hội đồng quản trị thay vì trước đây theo
Luật 2003 có thể là Chủ nhiệm hoặc trưởng ban quản trị tùy thuộc vào từng mô hình. Cách quy định
này khá cứng nhắc và làm cho vai trò của Giám đốc/Tổng giám đốc trong Hợp tác xã sẽ khá mờ nhạt.
Đây là một bước lùi của Luật Hợp tác xã 2012 bởi cách quy định về quản trị Hợp tác xã và cách đặt
tên các cơ quan trong bộ máy quản lý Hợp tác xã cho thấy sự mâu thuẫn của chính các nhà làm luật.
Trong khi Luật Hợp tác xã 2012 đang cố gắng tách biệt giữa Doanh nghiệp và Hợp tác xã, khẳng định
Hợp tác xã không phải là doanh nghiệp và cũng không hoạt động giống như doanh nghiệp. Tuy nhiên,
chính cách đặt tên và cách cơ cấu tổ chức quản lý của Hợp tác xã theo Luật này lại làm cho Hợp tác xã
“gần” hơn với mô hình quản trị của các công ty theo Luật doanh nghiệp.
Ngoài ra, đối với tư cách pháp nhân của Liên hiệp Hợp tác xã, cách đặt vấn đề so sánh giữa Liên hiệp
Hợp tác xã cũng là tổ chức của nhiều hợp tác xã thì có tư cách pháp nhân trong khi Tập đoàn kinh tế thì
không có tư cách pháp nhân là vấn đề không thỏa đáng. Hai loại hình này hoàn toàn khác nhau về bản
chất. Hợp tác xã là một loại hình chủ thể kinh doanh với thành viên góp vốn là các Hợp tác xã thành
viên, vì vậy nó có tư cách pháp nhân là phù hợp. Tuy nhiên, tập đoàn kinh tế là tập hợp của các pháp
nhân hoàn toàn độc lập với nhau. Từng pháp nhân có quan hệ với nhau về vốn, công nghệ… nhưng họ
công nghệ, chế biến, tiêu thụ/xuất khẩu, gắn kết “bốn nhà” mà chính họ là người chủ sở hữu. Tổ chức
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phát triển sâu rộng sẽ tác động tích cực toàn diện cả về kinh tế, chính
trị, và văn hóa - xã hội.
KẾT LUẬN
Luật Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2012 nhằm mục tiêu khuyến khích và phát triển mạnh mẽ
mô hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kiểu mới, đồng thời
định hướng phát triển các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
hiện có hoạt động theo đúng bản chất hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đưa khu vực hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã nói riêng và thành phần kinh tế tập thể nói chung trở thành lực lượng to lớn, phát triển
rộng khắp và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta; bảo đảm quyền và lợi ích của hàng chục
triệu hộ nông dân, hàng chục triệu người tiêu dùng, hộ kinh doanh cá thể.
Mô hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kiểu mới trong Luật
Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã năm 2012, nếu thực hiện thành công, phát triển thành phong trào rộng
khắp sẽ góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho hàng chục triệu hộ nông dân, hộ sản
xuất kinh doanh cá thể, là bộ phận yếu thế trong xã hội. Đây sẽ thực sự là một phương thức mới góp
phần nâng cao khả năng cạnh tranh của kinh tế hộ thành viên, đặc biệt là kinh tế hộ nông dân và các cơ
sở sản xuất, kinh doanh quy mô vừa và nhỏ trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế; thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, nhất là giữa nông thôn và thành thị, cải thiện công
bằng xã hội, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, và góp phần định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị
trường ở nước ta.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật Thương mại tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, Hà Nội, 2011.
2. Luật Hợp tác xã 2003.
3. Luật Hợp tác xã 2012.
4. Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam năm 1992.
5. ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012, BỘ TƯ PHÁP