1
MỘT SỐ NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÉP
BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG
ĐỔI MỚI TƯ DUY BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY
Phép biện chứng duy vật là khoa học về những quy luật chung nhất
của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, là một trong ba
hình thức cơ bản của phép biện chứng, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng
vào giữa thế kỷ XIX, được V.I.Lênin kế thừa, bảo vệ và phát triển trong
điều kiện lịch sử mới. Phép biện chứng duy vật đã kế thừa có chọn lọc, có
sự phê phán các học thuyết triết học trong lịch sử và sử dụng khá triệt để
các thành tựu của khoa học đương thời. Thế giới quan duy vật biện chứng
và phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ trong phép
biện chứng đấy. Ngay từ khi ra đời đã khắc phục được những hạn chế của
phép biện chứng chất phát thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện
chứng duy tâm khách quan thời cận đại. Nó đã khái quát đúng đắn những
quy luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới.
Phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học.
Nội dung của phép biện chứng duy vật hết sức phong phú, song nội
dung khái quát của nó là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự phát
triển của thế giới hiện thực. Nội dung đó được thể hiện ở các nguyên lý cơ
bản, các cặp phạm trù cơ bản và các quy luật cơ bản được sắp xếp một
cách lôgíc, hệ thống. Trong đó các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng
duy vật là những yếu tố đầu tiên có tính chất phổ quát nhất, định hướng
toàn bộ nội dung, đồng thời xác định những nguyên tắc phương pháp luận
cơ bản của cả hệ thống.
2
gian, thời gian; phải nghiên cứu cả quá khứ, hiện tại và tương lai của nó;
phải xem xét trong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực
tiếp và gián tiếp) trong một chỉnh thể. Đề cập đến nội dung này, V.I. Lênin
từng viết: muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên
cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó.
Mặt khác, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, hiện
tượng cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con
người. Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch
sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu
hạn những mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là
tương đối, không đầy đủ không trọn vẹn. Có ý thức được điều này chúng ta
mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh
xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể
phát triển. Để nhận thức được sự vật, hiện tượng cần phải nghiên cứu tất cả
các mối liên hệ, phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng khỏi phạm sai
lầm và sự cứng nhắc.
Quan điểm toàn diện không phải là xem xét một cách bình quân, ngang
bằng mọi mối liên hệ mà phải đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mối
liên hệ, từng vấn đề. Có như thế chúng ta mới nắm được thực chất sự vật,
vấn đề cần nghiên cứu và mới có quyết sách đúng đắn. Mặt khác, để nhận
thức được bản chất của sự vật, vấn đề cần xem xét có trọng tâm, trọng
điểm. Quan điểm toàn diện đặt ra đối với chúng ta là luôn phải chống quan
điểm siêu hình, xem xét sự vật một cách phiến diện, phân tích mọi vấn đề
trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện.
4
Quán triệt quan điểm toàn diện trong xem xét, nhận thức và hành
động, giúp chúng ta nhận thức đúng bản chất của các sự vật, hiện tượng
phải đảm bảo tính khách quan trong quá trình xem xét, nghiên cứu và cải
tạo sự vật, hiện tượng. Phải kết hợp phân tích cho được những nhân tố bên
trong, những mối liên hệ cơ bản và những mâu thuẫn chủ yếu tồn tại trong
mỗi sự vật, hiện tượng với những điều kiện và hoàn cảnh khách quan, với
một quá trình lịch sử đã và đang diễn ra của bản thân mỗi sự vật, hiện
tượng. Không được xuất phát từ những ảo tưởng xa xôi, viển vông hão
huyền và xa rời hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của mỗi sự vật, hiện tượng.
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể, trong hoạt động nhận thức, con
người sẽ nhận thức được đúng đắn tình hình, hoàn cảnh lịch sử của sự vận
động và phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng, nhận thức được cái bản chất,
quy luật và các quá trình phát triển của chúng trong thế giới vật chất. Từ
đó con người có thể đánh giá, phân tích được tình hình, hoàn cảnh hiện tại,
dự kiến được sự vận động, phát triển trong tương lai. Từ đó, trong hoạt
động thực tiễn, con người có thể đề ra được những chủ trương, biện pháp
đúng đắn và thật sự khoa học để góp phần cải tạo thế giới vật chất. Nếu
phủ nhận quan điểm lịch sử - cụ thể thì con người sẽ đi đến chỗ bế tắc
trong cải tạo thực tiễn, những giải pháp đưa ra sẽ trở lên giáo điều, kinh
viện, duy tâm và siêu hình, từ đó gây cản trở, thậm chí kéo lùi quá trình
vận động phát triển của thế giới vật chất, cũng như sự phát triển của xã hội
loài người.
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển
không ngừng, bản chất khách quan đó của hiện thực đòi hỏi trong nhận
6
thức và hoạt động của bản thân, chúng ta phải có quan điểm phát triển.
V.I.Lênin chỉ rõ: “Điều kiện quan trọng nhất của một sự nghiên cứu khoa
học là không nên quên mối liên hệ lịch sử căn bản, là xem xét mỗi vấn đề
theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch
Việt Nam đã kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin
nói chung, hệ thống các nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng duy vật
nói riêng trong nhận định, đánh giá thời cuộc để hoạch định chiến lược,
sách lược trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Trong đó, vấn đề bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thể hiện một cách sinh động sự vận
dụng đó của Đảng ta.
Thực chất của sự vận dụng hệ thống các nguyên tắc cơ bản của phép
biện chứng duy vật trong đổi mới tư duy bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa hiện nay của Đảng ta là sự vận dụng các nguyên tắc cơ bản của
phép biện chứng duy vật (toàn diện, lịch sử - cụ thể, phát triển) trong xem
xét, nhận thức và giải quyết vấn đề bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trên cơ sở đó, định ra đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn đối với
vấn đề bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thời đấu tranh chống những quan
điểm rập khuôn, máy móc, phiến diện, duy ý chí trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn đối với vấn đề này.
Bảo vệ Tổ quốc luôn là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách
mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhất là từ khi tiến hành công cuộc
đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng phát triển và hoàn chỉnh tư duy
chiến lược bảo vệ Tổ quốc, trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm toàn
diện, lịch sử - cụ thể, phát triển.
Về nội dung bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong một thời gian dài cho đến những năm cuối thập niên 80 của
thế kỷ XX, bảo vệ Tổ quốc vẫn chủ yếu gắn với nội dung bảo vệ chủ quyền
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và bằng các phương thức đấu tranh quân sự - vũ
8
trang là chính. Trước thực trạng nhiều biến động của thời cuộc: “chiến
9
chống kẻ thù xâm lược từ bờn ngoài và bọn phản động bờn trong cấu kết với nhau;
“diễn biến hũa bỡnh” của chủ nghĩa đế quốc, chống “tự diễn biến” trong nội bộ ta.
Trước đây, trong điều kiện phải chiến đấu chống xâm lược, giải phúng Tổ
quốc, tư duy chiến lược của chỳng ta về bảo vệ Tổ quốc thiờn về dựng vũ trang
chống lại sự tấn cụng từ bờn ngoài là chủ yếu. Ngày nay, trong điều kiện rất mới
của quốc tế và trong nước, một mặt phải chuẩn bị đầy đủ sức mạnh vũ trang cần
thiết để giữ vững hũa bỡnh, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược của cỏc thế
lực thù địch trong mọi tỡnh huống; mặt khác, tư duy mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc nhấn mạnh sức mạnh và cỏc biện phỏp phi vũ trang để giữ vững được độc
lập, chủ quyền, toàn vẹn lónh thổ, an ninh chớnh trị, trật tự an toàn xó hội mà
khụng phải tiến hành chiến tranh, ngăn chặn không để xảy ra chiến tranh, phỏt
triển đất nước về mọi mặt theo đúng định hướng xó hội chủ nghĩa.
Với tư duy đó, nội dung bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta đó phản ảnh được bản
chất của thuật ngữ “Tổ quốc” và “Tổ quốc xó hội chủ nghĩa” một cách đúng đắn và
toàn diện nhất. Quan điểm trờn của Đảng ta đó nờu bật những vấn đề cốt lừi của
chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xó hội chủ nghĩa: là bảo vệ Tổ quốc xó hội
chủ nghĩa với tớnh cỏch một quốc gia cú chủ quyền, với một cộng đồng dõn tộc cú
nền văn hoá lâu đời được quốc tế cụng nhận, là thành viờn của Liờn hợp quốc và
nhiều tổ chức quốc tế khỏc; là bảo vệ Tổ quốc xó hội chủ nghĩa với tớnh cỏch một
quan hệ chớnh trị, một thể chế chớnh trị - xó hội - xó hội chủ nghĩa được Bỏc Hồ
và toàn dõn lựa chọn, và là một xó hội phự hợp sự phỏt triển khỏch quan của tiến
trỡnh lịch sử; là bảo vệ Tổ quốc xó hội chủ nghĩa với tớnh cỏch một quốc gia đang
trong thời kỳ quá độ lờn chủ nghĩa xó hội, đang chuyển đổi và đang chủ động, tớch
cực hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ lợi ớch quốc gia, giữ vững độc lập dõn tộc.
Nội dung bảo vệ Tổ quốc là toàn diện, song khụng cú sự cào bằng, bỡnh
quõn, cũng khụng cú sự tuyệt đối hóa đối với nội dung nào. Tùy trong điều kiện
lịch sử cụ thể, Đảng ta xác định nội dung trọng tâm cho từng giai đạo cách mạng,
và nó đặt trong một chỉnh thể thống nhất các nội dung. Thực tế, trong tỡnh hỡnh
bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX và Văn kiện Đại hội
X, XI, Đảng ta đó khẳng định: Tăng cường quốc phũng, giữ vững an ninh quốc gia
và toàn vẹn lónh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và
11
của toàn dân. Văn kiện Đại hội XI Đảng ta đó khẳng định: “Sức mạnh của sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tỡnh hỡnh mới chớnh là sức mạnh tổng hợp. Trong
đó, sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch
đội ngũ cán bộ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định”.
Luận điểm trên đó chỉ rừ vai trũ chủ thể trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc với
cơ chế: Đảng lónh đạo, Nhà nước quản lý, nhõn dõn làm chủ; bảo vệ Tổ quốc là sử
dụng sức mạnh tổng hợp của đất nước, là kết quả của việc phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc, phát huy mọi nguồn lực của nhân dân. Tuy nhiờn, vai trũ
cỏc lực lượng không ngang bằng nhau, trong đó quân đội nhân dân và công an
nhân dân là lực lượng nũng cốt, chủ yếu. Đú là nhận thức mới, toàn diện, lịch sử cụ thể và phỏt triển hơn về cơ chế bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xó hội chủ nghĩa
trong thời kỳ mới, trong những thập niờn đầu của thế kỷ XXI.
Về xác định đối tượng và đối tỏc.
Đảng ta đó cú cỏch nhỡn nhận rất mới, cú tư duy đúng về đối tượng và đối
tác trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, thể hiện cách nhỡn
nhận, xem xột, đánh giá biện chứng các yếu tố trong một chủ thể gắn kết chặc chẽ
với điều kiện lịch sử cụ thể. Đó là kết quả sự quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng
tạo quan điển toàn diện, lịch sử - cụ thể trong chủ trương đối ngoại là vừa giữ vững
nguyên tắc, vừa linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược. Đảng ta cho rằng, những ai có
chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, muốn mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp
tỏc, bỡnh đẳng, cùng có lợi với Việt Nam chúng ta đều được coi là đối tác; cũn bất
kỳ thế lực nào cú õm mưu và hành động chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc ta đều là đối tượng phải đấu tranh. Thống nhất về nhận thức vấn đề này,
chúng ta mới có thể phấn đấu tranh thủ mọi điều kiện và thời cơ thuận lợi, mở rộng
Ngày nay, bảo vệ Tổ quốc đó trở thành cụng việc thường xuyên và gắn liền
với xây dựng. Mối quan hệ đó chặt chẽ đến mức trở thành một chỉnh thể thống
nhất, là hai mặt của một quá trỡnh đổi mới vỡ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xó hội.
Bảo vệ trở thành tự bảo vệ trong quỏ trỡnh xõy dựng; những người xây dựng đất
nước phải tự nhận thức, có ý chớ, kiến thức và kỹ năng bảo vệ công cuộc xây
dựng, bảo vệ các bộ phận cấu thành của Tổ quốc và chế độ xó hội chủ nghĩa.
13
Những thành tựu cách mạng nước ta mấy chục năm qua cũng như những
thành công to lớn của công cuộc đổi mới những năm gần đây dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh rằng cách mạng nước ta đang đi
đúng quy luật của sự phát triển, tư duy mới của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc là
đúng đắn. Khẳng định sự vận dụng các nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng
duy vật của Đảng ta trong xem xét, đánh giá vấn đề bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
hiện nay là khoa học và hợp quy luật.
Mỗi cán bộ trong lực lượng vũ trang nhân dân cần quán triệt, nhận thức
đúng vai trò của hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép
biện chứng duy vật, vận dụng vào nhận thức các hiện tượng quân sự, quốc
phòng và bảo vệ Tổ quốc. Để trên cơ sở đó có hành động đúng đắn trong hoạt
động thực tiễn, đặc biệt trong hoạt động thực tiễn quân sự. Điều này có ý nghĩa
rất quan trọng, vì nó cho phép chúng ta luôn nắm chắc tình hình mọi mặt, luôn
luôn làm chủ tình hình trước mọi diễn biến, dù phức tạp khó khăn đến đâu. Hệ
thống các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy
vật cũng đòi hỏi chúng ta phải chống cả hai khuynh hướng “tả” và “hữu” trong
nhận thức và trong thực tiễn quân sự. Thói quen cứng nhắc, bảo thủ trì trệ, chủ
nghĩa kinh nghiệm cực đoan và sự nôn nóng chủ quan, đổi mới không có
nguyên tắc, lầm lẫn cái mới tất yếu với những cái gọi là mới… đều nguy hiểm
như nhau và đều là lực cản trong quá trình xây dựng và phát triển của lực lượng