TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
----------
TIỂU LUẬN
ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: “THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA LẠI VÀ
SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM”
Nhóm sinh viên thực hiện
Giảng viên hướng dẫn
:
:
Hà Nội, 2016
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Dưới tác động của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ, cạnh tranh diễn ra với
nhiều hình thức khác nhau, ngày càng quyết liệt trong giai đoạn phát triển hiện nay của
nền kinh tế thế giới. Do những hạn chế về nguồn lực, các công ty, các tổ chức kinh tế
buộc phải hợp tác với nhau trong quá trình sản xuất, tiêu thụ cũng như nghiên cứu và phát
triển. Trong quá trình đó, mua lại và sáp nhập trở thành một công cụ để nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Sáp nhập và mua lại là một khái niệm không mới đối với những nền kinh tế phát
triển trên thế giới. Tại Mỹ, họat động này xuất hiện từ đầu thế kỉ 20, trải qua nhiều giai
đoạn thăng trầm gắn liền với những chu kì phát triển kinh tế nóng. Tại Anh chỉ tính từ
Mua bán và sáp nhập là nghĩa của cụm từ thông dụng M&A tức Merger and
Acquisitions. Tại Việt Nam khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp được quy định
tại Luật Cạnh tranh được Quốc hội Việt Nam thông qua tháng 12 năm 2004 và có hiệu
lực từ ngày 1 thang 7 năm 2005 quy định như sau:
“Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng
thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; Mua lại doanh nghiệp là việc một
doanh nghiệp mua lại toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm
soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”
Việc đầu tư góp vốn vào quá trình M&A cũng được Luật Đầu tư 2005 qui định:“
Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” như một trong các hình thức
đầu tư trực tiếp dưới các hình thức: Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để
tham gia quản lí hoạt động đầu tư, mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt
động, mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập doanh nghiệp”. Mục tiêu của M&A là
giành quyền kiểm soát hoặc hai công ty thống nhất để tạo thành công ty mới thông qua
việc chủ đầu tư mua lại toàn bộ hoặc một phần lớn tài sản đủ lớn của công ty đó. M&A là
phương thức phổ biến đối với các công ty muốn củng cố vị trí cạnh tranh bằng cách bán
đi những bộ phận không phù hợp với năng lực của mình và mua lại những tài sản chiến
lược giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
2. Hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp
2.1.
Hoạt động mua lại doanh nghiệp
a) Khái niệm
Mua lại công ty là sự mua lại một công ty , gọi là công ty mục tiêu ( the target) bởi
một công ty khác. Một vụ mua lại công ty có thể mang tính chất là thân thiện ( friendly)
nhưng cũng có thể mang tính chất thù địch ( hostile). Mua lại mang tính chất thân thiện là
việc các công ty đồng ý tiến hành đàm phán để kết hợp lại với nhau. Mua lại mang tính
chất thù địch là trường hợp công ty mục tiêu ( công ty bị mua lại) miễn cưỡng để công ty
khác mua giành quyền kiểm soát đối với công ty mình hoặc công ty bị mua không có chút
thông tin nào về vụ mua lại này.
trong quá khứ và tất cả những rủi ro mà công ty phải đối mặt trong môi trường kinh
doanh của công ry. Như vậy, cổ phiếu của công ty bị mua lại vẫn còn tổn tại trên thị
trường.
• Công ty đi mua sẽ mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của công ty mục tiêu.
Trong hình thức này, số tiền mặt mà công ty mục tiêu nhận được từ vụ mua lại sẽ được
chia cho các cổ đông của công ty dưới hình thức tiền được trả lại hoặc dưới hình thức
thanh toán những khoản nợ của công ty mục tiêu đang gánh chịu. Đây là hình thức giao
dịch thường được thực hiện đối với những trường hợp công ty bị mua lại là những công ty
có quy mô nhỏ. Người mua sẽ mua những tài sản mà họ muốn và tách những tài sản có
liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm pháp lý . Đây là một vấn đề rất quan trọng.
Những trách nhiệm pháp lý đó không chỉ bao gồm không những trách nhiệm hiện tại và
có thể có cả những thiệt hại cho tòa án ra quyết định trong tương lai và tài sản không thể
đảm bảo được. Những thiệt hại đó có thể xuất hiện từ những vụ kiện tụng về vấn đề sản
phẩm kém chất lượng , quyền lợi của người lao động , sự chấm dứt hoạt động của công ty
mục tiêu, thiệt hại về môi trường. Một khó khăn khi thực hiện việc mua lại công ty bằng
việc mua lại tài sản của công ty đó là thuế, thuế chuyển nhượng tài sản có thể được đánh
vào cả người mua lẫn người bán. Trong khi đó, các vụ giao dịch mua bán cổ phiếu có thể
thường được thực hiện với tư cách là một sự chuyển nhượng hoặc giao dịch này có thể
được dàn xếp để miễn thuế hoặc trung lập về thuế cho cả người mua và người bán. Chính
vì thế, hình thức giao dịch bằng cách mua lại tài sản của công ty mục tiêu ít được thực
hiện hơn so với hình thức đi mua cổ phiếu của công ty mục tiêu.
2.2. Hoạt động sáp nhập doanh nghiệp
a) Khái niệm
Sáp nhập doanh nghiệp là sự kết hợp của hai công ty để trở thành một công ty mới
có giá trị lớn hơn hai công ty đang hoạt động riêng lẻ. Hoạt động này đặc biệt hữu ích khi
4
các công ty rơi vào những thời kỳ khó khăn cho cạnh tranh , tác động thị trường hay bất
kì yếu tố nào khác.
• Sáp nhập để mở rộng thị trường : đây là hình thức sáp nhập giữa hai hoặc nhiều
công ty kinh doanh trong cùng một loại sản phẩm nhưng hoạt động ở những thị
trường khác nhau. Sự sáp nhập này sẽ giúp cho công ty sáp nhập là công ty kinh doanh
hàng hóa này ở đồng thời trong nhiều thị trường.
• Sáp nhập để mở rộng sản phẩm : diễn ra đối với công ty bán những sản phẩm
khác nhau nhưng có liên quan với nhau trong cùng một thị trường. Kết quả của vụ sáp
nhập này sẽ giúp cho công ty sáp nhập vẫn tiếp tục hoạt đọng trong thị trường cũ
nhưng lại kinh doanh đồng thời nhiều loại hàng hóa có liên quan với nhau.
c) Sự khác nhau giữa hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp
Mặc dù mua lại và sáp nhập thường được để cập cùng nhau thành một thuật ngữ “
mua lại , sáp nhập doanh nghiệp” nhưng đây là hai thuật ngữ hoàn toàn khác biệt về bản
5
chất. Khi một công ty mua lại một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì
thương vụ được gọi là mua lại.Về khía cạnh pháp lý, công ty mua lại ( công ty mục tiêu)
không còn tồn tại. Bên mua đã thôn tính bên bán và cổ phiếu vẫn tiếp tục tồn tại. Khi hai
công ty đồng thuận gộp lại thành một công ty mới thay vì hoạt động đơn lẻ thì gọi là sáp
nhập. Cổ phiếu của hai công ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếu của công ty mới sẽ được
phát hành.
3. Các phương thức tiến hành M& A
Mua cổ phiếu: thông qua việc tham gia mua cổ phần khi công ty tăng vốn điều lệ
hoặc đấu giá phát hành cổ phiếu ra công chúng. Đây là hình thức thâu tóm một phần
nhưng đủ để tham gia quản trị điều hành và định đoạt quyền sở hữu theo mục tiêu chiến
lược của bên mua.
Mua gom cổ phiếu: để giành quyền sở hữu và chi phối cũng là một chiến lược
được nhiều công ty thực hiện. Phương thức này đã xảy ra tại Việt Nam từ nửa cuối năm
2008, khi thị trường chứng khoán sụt giảm và nhiều công ty niêm yết có giá trị vốn hóa
thấp đã trở thành mục tiêu bị thu gom. Thu gom cổ phiếu là phương thức mà công ty có ý
những dự án lớn nhưng khi triển khai thì chia nhỏ ra “bán lại” cho các nhà đầu tư thứ cấp
để khai thác.
Mua nợ: cũng là một phương thức tiến hành M&A gián tiếp. Khi một doanh
nghiệp mất khả năng thanh khoản và không thể trả nợ, chủ nợ có thể tìm một doanh
nghiệp có khả năng tài chính mua lại phần nợ với giá thỏa thuận. Doanh nghiệp mua nợ
trở thành chủ nợ mới và có thể thỏa thuận để chuyển đổi khoản nợ thành vốn cổ phần và
thực thi quyền sở hữu. Trường hợp này thường diễn ra đối với chủ nợ cũ là ngân hàng.
Thay vì để cho doanh nghiệp phá sản, cách tốt nhất là ngân hàng bán nợ với mức giá thấp
hơn giá trị khoản nợ. Doanh nghiệp mua nợ nhìn chung hướng tới việc chuyển đổi khoản
nợ thành cổ phần để can thiệp cứu doanh nghiệp hơn là kỳ vọng nhận trả nợ. Điển hình
của phường thức này là việc Ngân hàng SHB thực hiện đối với Công ty CP Thủy sản
Bình An
Chào thầu :Chào thầu (tender offer) là hình thức một hay một số công ty hoặc cá
nhân hoặc một nhóm nhà đầu tư có ý định mua đứt (buyout) toàn bộ công ty mục tiêu với
đề nghị cổ đông hiện hữu của công ty đó bán lại cổ phần của họ với một mức giá cao hơn
thị trường rất nhiều (premium price). Giá chào thầu đó phải đủ hấp dẫn để đa số cổ đông
tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng như quản lý công ty của mình. Hình thức đặt giá
chào thầu này thường được áp dụng trong các vụ thôn tính mang tính “thù địch” đối thủ
cạnh tranh. Công ty bị mua thường là công ty yếu hơn. Tuy vậy, vẫn có một số trường
hợp một công ty nhỏ thâu tóm được một công ty lớn hơn, đó là khi họ huy động được
nguồn tài chính khổng lồ từ bên ngoài để thực hiện được vụ thôn tính. Các công ty thực
hiện thôn tính theo hình thức này thường huy động nguồn tiền mặt bằng cách như: sử
dụng thặng dư vốn, huy động vốn từ cổ đông hiện hữu, thông qua phát hành cổ phiếu mới
hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành trái phiếu chuyển đổi, vay từ các tổ chức tín
dụng.
Lôi kéo cổ đông bất mãn :Phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn (Proxy fights)
cũng thường được sử dụng trong các thương vụ “thôn tính mang tính thù địch” lẫn nhau.
Khi một công ty lâm vào tình trạng kinh doanh yếu kém và thua lỗ, có một bộ phận không
nhỏ cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản trị và điều hành công ty mình. Công ty
cạnh tranh có thể lợi dụng tình huống này để lôi kéo bộ phận cổ đông đó.
cũng như trên phạm vi toàn cầu, khi có khủng hoảng kinh tế, cũng như vào những giai
đoạn kinh tế phát triển tốt, thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh. Nếu trước đây,
M&A xảy ra chủ yếu đối với các ngành công nghiệp thép, năng lượng, ô tô, tài chínhngân hàng... nay đang lan rộng sang nhiều ngành khác như dược phẩm, công nghệ thông
tin, truyền thông, tài chính chứng khoán... Một số vụ M&A kỷ lục trong năm 2010 và
2011 đã được ghi nhận, như United Airline hợp nhất với Continental tạo nên hãng hàng
không lớn nhất thế giới, với giá trị lên đến 3,2 tỷ USD và mang lại doanh thu 30 tỷ
USD/năm nhờ cung cấp dịch vụ hàng không tại 378 sân bay ở 10 thành phố. Hoặc vụ
công ty tư nhân 3G của Brazil mua lại hãng thức ăn nhanh Burger King trị giá 3,3 tỷ
USD. Và gần đây là sự hợp nhất liên ngành trong lĩnh vực tin học và công nghệ thông tin
giữa 2 tập đoàn khổng lồ Google và Motorolla. Các hoạt động M&A thường được khởi
động từ các công ty đa quốc gia sang các nền kinh tế mới nổi như Nga, Trung Quốc, Ấn
Độ, Đông Âu. Đồng thời, M&A cũng giúp các nước đang phát triển vươn ra thị trường
thế giới. Chẳng hạn, Công ty ô tô Nam Kinh của Trung Quốc đã bỏ ra 50 triệu bảng Anh
để thôn tính hãng MG Rover của Anh. Công ty khác của Trung Quốc là Lenovo đã thông
qua hoạt động M&A để mua một công ty sản xuất máy tính của nước ngoài.
Phần II.Thực trạng M&A tại Việt Nam hiện nay
1. Thực trạng hoạt động M&A của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
1.1. Diễn biến của hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
1.1.1. Giai đoạn 2003-2013
8
Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước
phát triển vượt bậc, đặc biệt là từ cuối thập niên 1990 và những năm đầu thế kỷ 21. Thị
trường Việt Nam là thị trường mới phát triển và phát triển khá nhanh vì thế sẽ có rất nhiều
doanh nghiệp mới thành lập với quy mô nhỏ. Đồng thời trong điều kiện đó sẽ có rất nhiều
tác động từ phái thị trường cũng như chính phủ khiến dẫn đến việc sàng lọc các doanh
nghiệp mạnh và yếu. Những doanh nghiệp mạnh tất nhiên là sẽ tiếp tục phát triển những
doanh nghiệp yếu không đủ năng lực quản lý sẽ phải chọn hình thức phá sản hoặc giải
thể. Đối với những doanh nghiệp nhỏ chống lại sự sang lọc khắt khe của cơ chế thị trường
vàng, ngoại tệ đã tác động rất mạnh đến hoạt động doanh nghiệp năm 2007. Với sự đóng
băng của thị trường bất động sản vào thời điểm đầu năm và sự khủng hoảng dẫn đến sự
tụt giá liên tục ở thị trường chứng khoán và sự mất giá nhanh chóng của đồng đôla Mỹ đã
khiến nhiều doanh nghiệp lâm vào hoàn cảnh khó khăn và phải lựa chọn giải pháp bán lại
cổ phần, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh của thị trường M&A. Đặc biệt trong đợt
điều chỉnh giá giảm của thị trường chứng khoán trong năm 2007 cộng hưởng với những
tác động tiêu cực của những dấu hiệu khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu đã làm cho
công ty chứng khoán gặp nhiều khó khăn nên diễn ra nhiều vụ mua lại, sáp nhập của các
công ty chứng khoán. Đồng thời , sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng trở
nên gay gắt đã làm cho các vụ mua bán cổ phiếu cho cổ đông chiến lược là các ngân hàng
thương mại nước ngoài của các ngân hàng thương mại trong nước cũng diễn ra rất nhiều,
góp phần làm cho thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam năm 2007 tăng rất mạnh
so với những năm trước. Ngoài ra còn nhiều doanh nghiệp thực hiện M&A để tận dụng
những lợi thế mà nó có thể mang lại cho doanh nghiệp.
Giai đoạn 2008 – 2013: Sang năm 2008, nền kinh tế toàn cầu chuyển sang thời kỳ khủng
hoảng này. Vì thế hầu hết các doanh nghiệp đều gặp khó khăn, đặc biệt là vào những
tháng cuối năm 2008. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp trở nên thận trọng hơn trong
các giao dịch M&A. Chính vì thế những tháng đầu năm 2008 hoạt động M&A diễn ra
cũng khá sôi động nhưng đến cuối năm thì có đâu hiệu chững lại, làm cho giá trị giao dịch
M&A giảm về mặt giá trị hơn so với năm 2007. Tuy nhiên sau khi Việt Nam vừa bước ra
cuộc khủng hoảng, bắt đầu từ quý 4 năm 2009, thì nhu cầu thực hiện hoạt động mua lại và
sáp nhập của các doanh nghiệp sẽ gia tăng nhanh chóng để đáp ứng yêu cầu tái cấu trúc
lại hoạt động doang nghiệp nói chung và yêu cầu tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp nói
riêng.
Giai đoạn này được đánh giá là giai đoạn hình thành thị trường, M&A tại Việt
Nam từ những thương vụ đơn lẻ với tổng giá trị dưới 1 tỷ USD trở thành một thị trường
với quy mô 5 tỷ USD.Xét về số lượng thương vụ, các thương vụ liên quan đến doanh
nghiệp nội địa chiếm đa số, với 77%. Con số này cho chúng ta thấy, hoạt động M&A liên
quan đến nhóm doanh nghiệp nội diễn ra sôi động tại Việt Nam. Trong giai đoạn này,
hoạt động M&A tại Việt Nam tăng trưởng gấp 5 lần về giá trị thương vụ, từ con số 1,08
lớn của các ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa như Vietcombank, VietinBank.
Các thương vụ hợp nhất đầu tiên trong ngành như Ngân hàng TMCP Sài Gòn được hợp
nhất từ 3 ngân hàng, Habubank và SHB… đã được thực hiện trong giai đoạn này.
Ngành hàng tiêu dùng được đánh giá là nhiều tiềm năng cho hoạt động M&A, với
tổng giá trị thương vụ lên đến 1 tỷ USD/năm, chiếm 25% tổng giá trị M&A tại Việt Nam.
Các thương vụ mua lại trong ngành với tỷ lệ cổ phần chi phối cho thấy xu hướng các nhà
đầu tư nước ngoài đang thực hiện mở rộng chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường thông qua
M&A.
Với bất động sản, chính những khó khăn trong năm 2010 - 2012 khiến cho hoạt
động M&A trong lĩnh vực này diễn ra tương đối sôi động. Giao dịch M&A trong lĩnh vực
bất động sản đã diễn ra tương đối đa dạng, bao gồm cả chuyển nhượng dự án, chuyển
nhượng tòa nhà văn phòng, khu nghỉ dưỡng… Các thương vụ lớn trong ngành bất động
sản được thực hiện với sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài.
11
Tính chất thương vụ: Thâu tóm và hợp nhất xuất hiện ngày càng nhiều
So với các thương vụ của những năm trước năm 2008, từ năm 2010, các thương vụ
đã diễn ra với tính chất phức tạp hơn nhiều. Các thương vụ thâu tóm thù địch (hostile)
trên sàn chứng khoán cũng đã xuất hiện nhiều hơn.
Năm 2010, bắt đầu nổi lên những thương vụ chào mua công khai và thôn tính trên
sàn. Tiêu biểu là thương vụ Công ty cổ phần Thủy sản Hùng Vương (HVG) chào mua
Công ty cổ phần Thủy sản An Giang (AGF), Công ty cổ phần Dược Viễn Đông (DVD) có
các động thái mua cổ phiếu với ý định thâu tóm Công ty cổ phần Dược Hà Tây (DHT).
Những năm sau đó là các thương vụ có tính chất phức tạp hơn hẳn. Các thương vụ
chào mua công khai hoặc thâu tóm trên sàn chứng khoán là dấu hiệu phát triển chuyên
nghiệp hơn của chứng khoán Việt Nam cũng như phương thức M&A ở Việt Nam. Việc
khởi động xu hướng chào mua công khai trên thị trường đang đẩy các công ty đại chúng
đối mặt với khả năng bị thâu tóm, bị mua lại, bị sáp nhập bất cứ lúc nào.
M&A là kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài và Xu hướng đầu tư của Nhật
chứng kiến một làn sóng M&A tại Việt Nam, đây được nghi nhận là làn sóng thứ nhất.
Làn sóng đó diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng
trưởng thấp, kinh tế vĩ mô mất ổn định, thị trường chứng khoán suy giảm, thị trường bất
động sản trầm lắng, nhiều doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc để tồn tại và vượt qua
khủng hoảng… Mặc dù vậy, giá trị các thương vụ M&A tại Việt Nam trong giai đoạn này
đã tăng trưởng 5 lần, từ 1 tỷ USD vào năm 2008 lên 5 tỷ USD vào năm 2013.
Giai đoạn 2014- 2018, theo nhận định của các chuyên gia, tại Việt Nam đang hình
thành nên một làn sóng M&A thứ 2. Dự báo, trong giai đoạn này, các hoạt động M&A tại
Việt Nam kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh hơn giai đoạn 2008- 2013 cả về giá trị và số
lượng thương vụ. Theo đó, hoạt động M&A trong giai đoạn 2014-2018 sẽ đạt khoảng 20
tỷ USD.Các ngành dự báo sẽ có những thương vụ M&A lớn, bao gồm: ngân hàng, sản
xuất tiêu dùng, bất động sản, công nghệ thông tin, vận tải và logistic.
Làn sóng M&A thứ 2 bắt nguồn từ sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam, tốc độ
tăng trưởng GDP Quý I/2014 đạt 5,09% so với 4,89% của cùng kỳ năm trước; quý II đạt
5,25% cao hơn quý I. Tính chung, 6 tháng đầu năm tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt
5,18%, cao hơn mức 4,9% của 6 tháng đầu năm 2013. Việt Nam cũng đang bước vào đẩy
mạnh cải cách thể chế, khung khổ pháp lý cho hoạt động M&A hoàn chỉnh khi hàng loạt
đạo luật quan trọng liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh sẽ được sửa đổi, bổ sung
như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật
Chứng khoán,…
Ngoài ra, đây sẽ là giai đoạn mà chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước diễn ra mạnh mẽ. Theo đề án đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua, trong 2 năm
tới 432 tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn sẽ được cổ phần hóa, đồng thời
Chính phủ sẽ tiếp tục rà soát, bổ sung thêm các doanh nghiệp cần cổ phần hóa theo hướng
giảm mạnh hơn doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp nhà nước giữ cổ phần
chi phối… tất cả những yếu tố đó đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động
M&A tại Việt Nam.
Theo nhận định của TS Nguyễn Anh Tuấn- Tổng biên tập báo Đầu tư: Giai đoạn
2014- 2018, hoạt động M&A tại Việt Nam không còn mang tính chất sự vụ mà là trở
thành chiến lược đầu tư của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp, bao gồm cả khối nhà
Tất cả các doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
đều hướng đến một số mục tiêu nhất định. Những vấn đề mà hoạt động M&A có thể giải
quyết cho doanh nghiệp là rất nhiều, tuy nhiên do hoạt động này mới xuất hiện ở Việt
Nam, sự nhận biết của các đối tượng liên quan đến hoạt động này chưa nhiều nên nó chưa
phát huy hết những lơi ích vốn có của nó. Chính vì thế, các doanh nghiệp tiến đến thực
hiện hoạt động M&A trong thười gian qua chủ yếu hướng đến mục tiêu có cơ hội tiếp cận
với công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản lý và kỹ năng về thị trường, hoặc thực
hiện M&A để tái cấu trúc lại doanh nghiệp hay mua lại doanh nghiệp khác để có cơ hội
thâm nhập vào thị trường mới. Các doanh nghiệp trong nước hầu như là đứng về vị thế
người bán. Các doanh nghiệp trong nước thường bán một phần vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp cho phía nước ngoài để đổi lại có cơ hội tiếp nhận được những vấn đề trong công
tác quản lý và điều hành sản xuất, kinh doanh mà các doanh nghiệp trong nước đang
thiếu. Bibica bán cổ phần cho công ty Lotte để nhận được sự hỗ trợ từ Lotte trong lĩnh
vực công nghệ, bán hàng tiếp thị, nghiên cứu phát triển để Bibica mở rộng và phát triển
kinh doanh để trở thành nhà sản xuất kinh doanh bán kẹo hàng đầu Việt Nam. Bên cạnh
đó, để tránh tình trạng nguồn vốn đầu tư trong nước bị khan hiếm trong thời gian gần đây
các doanh nghiệp trong nước tiến hành bán cổ phần cho các doanh nghiệp phía nước
ngoài nhằm thu hút một lượng vốn tương đối lớn để đảm bảo về khía cạnh tài chính cho
14
doanh nghiệp. Ví dụ như Bảo Minh bán cho AXA(Pháp) 16,6% cổ phần nằm trong kế
hoạch tăng vốn điều lệ của công ty từ 434 tỷ lên 755 tỷ đồng.
Thứ ba, hoạt động M&A diễn ra chủ yếu ở các ngành như ngân hàng, chứng khoán
Nền kinh tế Việt Nam đã phát triển rất nhanh, môi trường kinh doanh được cải thiện
đáng kể. Bên cạnh những thành tích đó thì nền kinh tế cũng đã chứng kiến nhiều cuộc
biến động lớn đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và chứng khoán. Sau sự đóng
băng của thị trường bất động sản là sự giảm giá liên tục trên thị trường chứng khoán và
tình hình lạm phát ngày càng tăng cao đã làm cho tất cả các doanh nghiệp rơi vào tình
trạng khó khăn.
Thứ năm, các vụ M&A đều mang tính thân thiện
Ngoại trừ việc tập đoàn Colgate đã thâu tóm hãng sản xuất kem đánh răng Dạ Lan
thì hầu hết các vụ giao dịch M&A đều dựa trên tinh thần hợp tác giữa doanh nghiệp trong
nước với doanh nghiệp nước ngoài. Thị trường chưa có các vụ mua lại mang tình thù
15
địch. Trong các giao dịch mua lại doanh nghiệp thì đều nhằm hướng đến doanh nghiệp
nước ngoài hỗ trượ cho doanh nghiệp trong nướ về vốn, kỹ thuật vf năng lực quản lý, các
doanh nghiệp nươc ngoài thu được cơ hội đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam
Thứ sáu, chưa có một thị trường chuyên nghiệp cho hoạt động mua lại sáp nhập
Vấn đề khó khăn của các doanh nghiệp là khi muốn bán không biết liên kết với ai,
bán cho ai,khi muốn mua không biết tìm công ty mục tiêu ở đâu. Để khắc phục tình trạng
này, hiện nay trên thị trường Việt Nam đã có xuất hiện một số sàn giao dich M&A trên
web của các công ty tư vấn về hoạt động M&A như muabancongty.com.vn của Tiger
Investment, muabandoanhnghiep.com.vn của JDC. Tuy nhiên việc tạo sàn giao dịch mua
lại, sáp nhập doanh nghiệp thực chất chỉ mang tính cung cấp thông tin về các doanh
nghiệp có nhu cầu mua hay bán, tạo cơ hội gặp nhau cho các doanh nghiệp chứ chưa thể
thực sự gọi là một sàn giao dịch. Các hoạt động như vậy không phù hợp với đặc tính của
hoạt động M&A là “bí mật tuyệt đối”.
2. Tác động của M&A vào doanh nghiệpViệt Nam
2.1. Tác động tích cực do hoạt động M&A đến doanh nghiệp Việt Nam
Về mặt lý thuyết hoạt động M&A có thể mang đến rất nhiều lợi ích cho các chủ thể
tham gia vào hoạt động này và nó cũng có tác dụng tích cực đối với nền kinh tế, nhưng
trong điều kiện có sự kiểm soát và giám sát một cách hợp lý đối với hoạt động đó. Trong
thời gian đầu xuất hiện tại Việt Nam, hoạt động này có mang lại một số lợi ích cho phía
doanh nghiệp, bao gồm:
2.1.1. Đa dạng hóa nguồn vốn huy động cho doanh nghiệp
Để có thể tiếp tục hoạt động và phát triển trong môi trường kinh doanh cạnh tranh
ngày càng trở nên gây gắt, các doanh nghiệp trong nước cần phải có đủ năng lực tài chính
ngoài.
Đối với doanh nghiệp trong nước lợi thế mà họ có thể nhận được từ các đối tác nước
ngoài đó là công nghệ, tính hiện đại trong công tác quản lý, tiếp thị mở rộng thị trường,
sản phẩm, tính chuyên nghiệp trong việc khai thác và cung cấp các dịch vụ hiện đại, lợi
thế về năng lực tài chính lớn,… Đổi lại doanh nghiệp trong nước chấp nhận sự tham gia
của phía nước ngoài vào việc chia lợi nhuận kinh doanh trên một thị trường mới phát triển
và phát triển với tốc độ khá nhanh. Đây là đều mà các doanh nghiệp nước ngoài rất mong
muốn có được. Điển hình cho sự khai thác lợi thế của nhau trong các thương vụ giao dịch
M&A ở Việt Nam trong thời gian qua như:
− Trong vụ HSBC mua cổ phần của Techcombank thì: HSBC đưa một số nhà quản lý có
trình độ quốc tế tham gia bộ máy điều hành và một số hoạt động của Techcombank với
vai trò tư vấn cao cấp, hỗ trợ Techcombank về công nghệ và kỹ thuật để ngân hàng này
trở thành ngân hàng được ưa thích nhất Việt Nam. Mở rộng thị trường kinh doanh tại Việt
Nam là điều mà HSBC mong muốn ở thương vụ này.
− Tập đoàn Goldan Sachs trong thương vụ mua cổ phần của công ty Diana thì hữa sẽ hỗ trợ
Diana trong việc xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh ở Việt Nam và nước ngoài,
nâng cao công sản xuất hiện tại và mở rộng sản xuất sang các mặt hàng khác. GS nhận
lại từ Diana lợi nhuận xứng đáng cho khoản đầu tư của họ thông qua cổ tức và sự gia tăng
giá trị cổ phần.
− Sacombank bán cổ phần cho ngân hàng ANZ nhằm hướng đến việc tiếp cận với kỹ thuật
quản lý và kinh nghiệm thị trường của ANZ, còn ANZ nhắm đến mạng lưới bán lẻ của
ngân hàng, cổ tức và sự gia tăng giá trị cổ phần của ngân hàng Sacombank.
2.1.3. Thực hiện tái cấu trúc lại doanh nghiệp
Mục đích của việc tái cấu trúc lại doanh nghiệp là nhằm tháo gỡ bớt những khó khăn
hiện tại của doanh nghiệp hoặc giúp doanh nghiệp tiến hành tổ chức lại các hoạt động
trong doanh nghiệp để có thể khai thác tốt hơn hoặc bổ sung thêm các nguồn lực nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Có rất nhiều hình
thức để tiến hành tái cấu trúc lại doanh nghiệp, tiến hành mua lại, bán, hay sáp nhập với
doanh nghiệp khác là một trong nhiều cách đó.
Hoạt động M&A ở thị trường Việt Nam trong thời gian qua đã thực hiện được lợi
doanh nghiệp trong nước khi tham gia vào hoạt động M&A có yếu tố nước ngoài. Đồng
thời đó, việc hàng loạt các doanh nghiệp trong nước đổ xô tìm đối tác nước ngoài để bán
cổ phần, ngoài tận dụng lợi thế từ hoạt động này như thu hút nguồn vốn đầu tư, công
nghệ, khả năng quản lý, phát triển thị trường,…, thì việc làm này có thể là những dấu hiệu
ban đầu cho sự thâm nhập, thâu tóm của các doanh nghiệp nước ngoài luôn mạnh hơn các
doanh nghiệp trong nước về mọi mặt và có thể xảy ra hiện tượng độc quyền do hoạt động
M&A trong thời gian tới.
Các giao dịch mua lại, sáp nhập doanh nghiệp đã diễn ra trong thời gian qua hầu như
đều có sự tham gia của phía các doanh nghiệp nước ngoài và chủ yếu là sự mua lại từ phía
nước ngoài đối với các doanh nghiệp trong nước. Đó là một thực tế tất yếu. Tuy nhiên,
điều đó không có nghĩa là các doanh nghiệp phải bất chấp mọi điều kiện hay bỏ qua một
số điều khoản quan trọng trong các hợp đồng mua lại, sáp nhập. Một vấn đề trong thời
gian vừa qua mà các doanh nghiệp trong nước khi tham gia vào hoạt động M&A không
quan tâm hoặc xem nhẹ đó chính là thương hiệu của doanh nghiệp.
Thương hiệu doanh nghiệp là một tài sản quý giá, nó tạo nên một phần lớn giá trị
trong tổng giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sự thiếu kinh nghiệm của các doanh nghiệp
trong nước về yếu tố này và hoạt động M&A nên họ thường xem nhẹ việc định giá
thương hiệu hoặc dễ dàng chấp nhận sự mất đi thương hiệu của mình vì những lợi ích
khác không tương xứng. Đánh mất thương hiệu là một thực tế của các thương vụ M&A ở
Việt Nam trong thời gian qua cần được lưu tâm. Trong thời gian qua đã có rất nhiều bài
học kinh nghiệm trong vấn đề đánh mất thương hiệu trong các vụ M&A.
Điển hình nhất cho vấn đề này là sự kiện kem đánh răng Dạ Lan. Vào thời điểm
những năm 80 và 90 của thế kỷ trước, thương hiệu kem đánh răng Dạ Lan chiếm đến 80%
18
thị phần kem đánh răng trong nước và được tiêu thụ mạnh ở thị trường
Campuchia, Lào, Trung Quốc. Con số 3 triệu USD vào năm 1995 là giá trị của kem đánh
răng Dạ Lan dùng để góp vốn với tập đoàn Colgate. Với ý định không muốn phát triển
tiếp thương hiệu kem đánh răng nội địa ở thị trường trong nước nên công ty nước ngoài
bố, thủ tục thực hiện và sự giám sát của cơ quan quản lý cho các giao dịch M&A sẽ tạo
nên một nguồn thông tin đáng tin cậy giúp doanh nghiệp nhận định chính xác hơn về đối
tác, từ đó có chiến lược phòng thủ tránh sự thâu tóm của doanh nghiệp khác trong các
giao dịch mua lại hay sáp nhập doanh nghiệp là giải pháp thích hợp để hạn chế tác động
này.
Tuy nhiên, hoạt động của thị trường mua lại, sáp nhập doanh nghiệp ở nước ta hiện
tại đang còn thiếu sự quản lý, điều tiết, giám sát của cơ quan quản lý, thiếu những qui
định cần thiết cho sự vận hành của thị trường như vấn đề công bố thông tin, kỹ thuật định
giá doanh nghiệp,… thiếu những chủ thể liên quan cần thiết như nhà tư vấn, công ty tư
19
vấn,… do đây là một hoạt động mới xuất hiện trên thị trường. Chính điều đó là cho quá
trình tìm hiểu và đánh giá về đối tác của các doanh nghiệp tham gia còn rất nhiều hạn chế
và đó chính là nguyên nhân tiềm ẩn khả năng thâu tóm lẫn nhau giữa các doanh nghiệp.
Với thực trạng hoạt động M&A trên thị trường Việt Nam còn đang bỏ ngõ rất nhiều
vấn đề, nhất là trong vấn đề hành lang pháp lý bảo hộ cho sự hoạt động của thị trường
này, thì khả năng các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động M&A bị thâu tóm bởi doanh
nghiệp đối tác luôn tiềm ẩn. Một sự chuẩn bị từ phía cơ quan quản lý Nhà nước và doanh
nghiệp ngây từ khi thị trường mới đi vào hoạt động là thực sự cần thiết.
2.2.3. Độc quyền là kết quả tất yếu của việc phát triển thị trường M&A không
có sự kiểm soát chặt
Độc quyền là một hậu quả khác của hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nếu
như không có sự quản lý chặt chẽ từ phía cơ quan quản lý thị trường. Thị trường mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam đang hoạt động trong tình trạng đó, thiếu khung hành
lang pháp lý cho sự vận hành của thị trường, hay nói một cách khác đó là thiếu sự quản lý
của cơ quan có thẩm quyền đối với hoạt động M&A. Do đó, vấn đề độc quyền do hậu quả
của thị trường M&A là có rất nhiều khả năng đe dọa nền kinh tế trong nước nếu không có
sự nhìn nhận và kiềm chế từ bây giờ.
Do đặc tính của nền kinh tế nước ta là có rất nhiều doanh nghiệp có qui mô nhỏ nên
Thứ hai, Việt Nam gia nhập WTO, những chính sách mở cửa với những ưu đãi
về thuế của chính phủ khiến cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao cơ hội đầu
tư ở Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài thường có xu hướng lựa chọn M&A như là
bước đầu tiên để tiếp cận thị trường Việt Nam. Trong vài ba năm trở lại đây các lĩnh
vực diễn ra M&A sôi động nhất tập trung vào các ngành tài chính, ngân hàng, CNTT –
VT, bán lẻ, hàng tiêu dùng.
Thứ ba, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường khiến nhiều doanh nghiệp phải mở
rộng quy mô để cạnh tranh. Vì vậy, các doanh nghiệp lựa chọn hình thức mua bán và
sáp nhập như là cách để kêu gọi vốn, các tiềm lực để tăng năng lực cạnh tranh của
mình trên thương trường.
Cạnh tranh gay gắt trên thị trường tập trung vào ngành ngân hàng với và ngành
CNTT – VT. Nhiều doanh nghiệp khai thác thị trường chồng chéo làm lãng phí nguồn
lực và giảm hiệu quả kinh doanh, vì vậy các doanh nghiệp nhỏ cần sáp nhập để tồn tại
trên thị trường, còn các doanh lớn cũng tìm cách mua lại các công ty tiềm năng để mở
rộng thị trường và chớp lấy cơ hội kinh doanh, điển hình như Viettel, FPT, KBC,
Massan, Vinamilk.
Thứ tư,các doanh nghiệp nhà nước đang trong quá trình cổ phần hóa và tái cấu
trúc. Một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả trong thời gian qua tìm
cách cắt giảm các mảng kinh doanh kém hiệu quả để tập trung vào linh vực chính
(EVN). Nhiều DN trên lộ trình cổ phần hóa (Mobifone, Vinafone) hứa hẹn sẽ là cơ hội
tốt cho các nhà đầu tư mua lại hoặc chào mua trên sàn.
3.2. Khó khăn
Thứ nhất, khung pháp lý cho hoạt động M&A tại Việt Nam vẫn còn rời rạc,
chưa thống nhất và chưa có nghị định hướng dẫn cụ thể, rõ ràng. Hoạt động M&A
đang căn cứ vào các luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật cạnh tranh và 1 số quy định
khác và chưa có khung pháp lý hay ít nhất là hướng dẫn riêng biệt, đặc thù. Các DN
vẫn phải tự “dò đá qua sông” để thực hiện M&A. Điều này làm chậm hoặc kém thông
thoáng cho M&A,tiềm ẩn những rủi ro pháp lý cho DN.
Thứ hai, các DN Việt Nam, đặc biệt là những DN lớn đã từng bước chủ động
tiếp cận với hoạt động M&A như 1 loại hình đầu tư chiến lược nhằm tận dụng cơ hội
cam kết gia nhập WTO và chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức của hoạt động
M&A, tức là mới chỉ giải quyết được các vấn đề về việc “thay tên, đổi họ’’ cho doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, chưa có một cơ quan thống nhất chịu trách nhiệm điều chỉnh hoạt
động M&A. Chính điều này đã làm cho những người tham gia hoạt động M&A rất khó
tìm hiểu kỹ càng những vấn đề về pháp lý cho hoạt động M&A, đến khi thực hiện thì phải
chạy nhiều nơi, đi nhiều chỗ để xin cấp giấy phép. Xuất phát từ nhược điểm này nhóm đề
xuất cần phải có một bộ luật riêng điều chỉnh cho hoạt động M&A tại Việt Nam và thống
nhất chỉ có duy nhất một cơ quan quản lý, xét duyệt, kiểm tra các hồ sơ khi thực hiện
M&A. Hệ thống luật này cần phải quy định chi tiết để điều chỉnh trên cả hai phương diện:
(i) các thủ tục, nguyên tắc, phương pháp định giá, quyền và nghĩa vụ của các bên tham
gia…; (ii) các tình huống xử lý tài chính, lao động và các vấn đề phát sinh sau khi thực
hiện thương vụ M&A;
Một hành lang pháp lý hoàn thiện sẽ tạo điều kiện góp phần thúc đẩy các giao dịch
M&A phát triển, nó sẽ tạo điều kiện để xác lập các giao dịch, địa vị pháp lý của các bên
trong giao dịch và hậu quả pháp lý sau khi kết thúc giao dịch. Do đó, Việt Nam cần phải
hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến hoạt động M&A trong thời gian tới, để tạo ra
một cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh cho hoạt động mua bán, sáp nhập được diễn ra thông suốt.
1.2.
Tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy hoạt động M&A thực hiện dễ dàng
và hiệu quả.
Ở Việt Nam hiện nay, tuy đã diễn ra nhiều vụ mua lại và sáp nhập, nhưng các
doanh nghiệp thực hiện hoạt động này vẫn gặp rất nhiều trở ngại khi tiến hành những thủ
22
tục pháp lý rườm rà. Ngoài ra, họ còn gặp khó khăn trong việc nắm bắt thông tin của các
doanh nghiệp mà họ có ý định mua lại hoặc sáp nhập, đôi khi những thông tin thiếu minh
bạch khiến cho họ mất lòng tin vào thị trường M&A của nước ta. Chính vì vậy, Việt Nam
cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường,đẩymạnhcải cách hành chính để thúc đẩy nhu
cầu M&A cho các doanh nghiệp. Bởi vì, trong hoạt động M&A, thông tin về giá cả,
động M&A bởi vì động cơ của việc đa dạng hóa là làm giảm rủi ro kinh doanh của công
ty, nhưngbản thân nhà đầu tư có thể thực hiện điều này thông qua việc đa dạng hóa danh
mục đầu tư của mình. Trong khi đa dạng hóa thông qua thực hiện M&A thường tốn thời
gian và chi phí. Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa còn đòi hỏi các nhà quản trị phải có năng
lực quản lý, trình độ và sự am hiểu những lĩnh vực đa dạng hóa đó.
Xác định mục tiêu thực hiện M&A
Các công ty khi thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập cần phải xác định rõ
2.1.
23
ràng mục tiêu của mình là gì? Nếu có nhiều mục tiêu thì phải xác định được đâu là mục
tiêu chính, quan trọng nhất và đâu là mục tiêu phụ. Việc xác định mục tiêu đúng đắn sẽ
hỗ trợ rất nhiều trong việc tìm kiếm được công ty mục tiêu thích hợp và trong việc xác
định giá trị của công ty mục tiêu cũng như những giá trị khác có liên quan như giá trị
kiểm soát và giá trị cộng hưởng.
Cần phải đánh giá đúng sự phù hợp giữa công ty đi mua và công ty mụctiêu, đặc
biệt phải suy xét cẩn thận trường hợp thực hiện M&A xuyên quốc gia. Hoạt động M&A
xuyên quốc gia là một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế phát triển, M&A là con đường
nhanh nhất để công ty có thể xâm nhập vào thị trường một quốc gia khác, nhưng đây
không phải là con đường duy nhất. Để cóđược sự nhanh chóng và chủ động được thời
gian xâm nhập thị trường, công ty đi mua bên ngoài phải chi trả một khoản lớn hơn nhiều
so với những công ty đi mua trong nước. Bên cạnh đó, một thị trường mới sẽ chứa đựng
nhiều rủi ro mới và các công ty sẽ gặp phải nhiều khó khăn hơn như các vấn đề về chính
trị, văn hóa, luật pháp… Do đó, thành công của họ phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược
nhằm khaithác những thế mạnh ở thị trường quốc gia công ty mục tiêu, và khả năng quản
trị những rủi ro có thể xảy ra, nếu không khả năng thất bại là rất cao.Doanh nghiệp cũng
cần phải đánh giá mức độ phù hợp giữa kích thước công ty đi mua và công ty mục tiêu.
Khi công ty mục tiêu quá lớn so với công ty đi mua, khả năng thất bại có thể được nhìn
Giá trị riêng của đối tượng mua lại là gì?
Cái gì tạo nên những năng lực kết hợp và những yếu tố chủ yếu tạo nên năng lực
kết hợp đó?
Giá cuối cùng là bao nhiêu?
Doanh nghiệp đi mua phải thận trọng khi đánh giá những con số và những giả
định; cần đánh giá một cách đúng đắn tổng thể tình hình, tìm ra điểm yếu, điểm mạnh,
phát hiện ra những giả định không đáng tin cậy và tìm kiếm những thiếu sót khác của lập
luận. Nhữngcông ty thành công trong việc mua lại thường nhìn nhận việc đánh giá đối
tượng không chỉ là công việc xác minh lại số liệu. Hơn nữa, không nên sử dụng duy nhất
một phương pháp định giá, bởi vì không có một phương pháp định giá nào là chính xác
hay hợp lý tuyệt đối, và cũng không có một phương pháp định giá nào có thể hợp lý cho
tất cả các doanh nghiệp. Mỗi phương pháp định giá đều có ưu và nhược điểm riêng và chỉ
phù hợp với một vài công ty hay trong một vài lĩnh vực nhất định. Do đó, khi định giá
doanh nghiệp nên sử dụng nhiều phương pháp định giá sau đó xác định giá trị cuối cùng
thông qua ma trận định giá vì, thông qua ma trận định giá có thể hạn chế hay bù trừ lẫn
nhau, để từ đó có thể đưa ra một mức giá hợp lý và đáng tin cậy hơn.
2.3. Nâng cao trình độ, chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong hoạt
động M&A
Mặc dù ở Việt Nam đã diễn ra rất nhiều thương vụ M&A thành công nhưng chủ
yếu lại là do doanh nghiệp nước ngoài chủ động thực hiện. Doanh nghiệp Việt Nam hầu
hết chưa có nhiều thông tin, hiểu biết về M&A. Điều này dẫn đến: (i) Thực tế có nhiều
công ty muốn mua và cũng có không ít công ty muốn bán nhưng phần nhiều trong số họ
không có những hiểu biết cơ bản về nghiệp vụ M&A, không biết phải chuẩn bị và bắt đầu
triển khai ra sao, cũng như không biết được sau M&A sẽ như thế nào? Họ không thể tự
mình tìm kiếm đối tác phù hợp. Hơn thế nữa, còn có tâm lý không chịu cởi mở, bên bán
thường e ngại cung cấp thông tin; (ii) Hiện nay có khá nhiều các công ty chứng khoán, tư
vấn tài chính, kiểm toán tham gia vào làm trung gian, môi giới cho các bên trong hoạt
động M&A. Tuy nhiên do có những hạn chế về hệ thống luật, nhân sự, tính chuyên
nghiệp, cơ sở dữ liệu, thông tin… nên các đơn vị này chưa thể trở thành trung gian thiết
lập một “thị trường” để các bên mua – bán gặp nhau. Ngoài ra, nguồn nhân lực của Việt