BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------
NGUYỄN HẠNH NGUYÊN
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------
NGUYỄN HẠNH NGUYÊN
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thăng Long
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2020
1.1.1.
Khái niệm, đặc điểm và phân loại mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ................. 10
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại sáp nhập doanh nghiệp .................................... 10
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và phân loại mua lại doanh nghiệp ....................................... 14
1.1.2.
Vai trò và lợi ích của hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. ....................... 17
1.2.
Tổng quan pháp luật Việt Nam về khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.20
1.2.1.
Quy định của Luật Cạnh tranh ................................................................................ 21
1.2.2. Quy định của các ngành luật khác về hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
tại Việt Nam.......................................................................................................................... 24
1.2.2.1. Luật Doanh nghiệp ................................................................................................. 24
1.2.2.2. Luật Đầu tư ............................................................................................................. 24
1.2.2.3. Luật Chứng khoán .................................................................................................. 25
1.3.
Lịch sử hình thành quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam về mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp ................................................................................................................ 26
1.4.
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOẠT THIỆN QUY ĐỊNH
CỦA LUẬT CẠNH TRANH ............................................................................................... 61
3.1.2. Thách thức .................................................................................................................. 62
3.2. Đề xuất phương án hoàn thiện ....................................................................................... 63
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
M&A
Mua lại và sáp nhập
LCT
Luật Cạnh Tranh
UBCTQG
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia
TTKT
Tập trung kinh tế
CQCT
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại nền kinh tế thị trường tự do như hiện nay, tất cả các tổ chức kinh tế tham
gia vào thị trường đều phải cạnh tranh nhằm tồn tại và phát triển, đôi khi, các hành vi
cạnh tranh này sẽ được thực hiện thông qua những giao dịch hạn chế cạnh tranh, lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường, mua bán và sáp nhập các doanh nghiệp có thị phần lớn
trên thị trường, khiến cho thị trường bị mất cân bằng, gây ra hiện tượng độc quyền.1 Việc
cạnh tranh khốc liệt, thay đổi công nghệ và thị trường chứng khoán một cách nhanh
chóng đã buộc các doanh nghiệp phải gia tăng hiệu quả kinh doanh. Trong thời đại nền
kinh tế hoạt động theo phương châm “kẻ thắng có tất cả”2, các doanh nghiệp thất bại
trong việc đối mặt với những thử thách này sẽ bị thâu tóm bởi những doanh nghiệp khác,
hoặc phải đối mặt với tình trạng phá sản. Các hoạt động tái cấu trúc đã giúp cho hàng
ngàn doanh nghiệp trên thế giới có thể đáp ứng nhu cầu thay đổi nhanh chóng của thị
trường, đồng thời hoạt động có hiệu quả hơn khi phải đối mặt với khó khăn, từ đó gia
tăng lợi thế cạnh tranh của họ trên thị trường. Vào cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, tái cấu
trúc doanh nghiệp bao gồm hợp nhất, sáp nhập và mua lại đã trở thành xu thế mới của
nền kinh tế và tài chính trên toàn thế giới.
Mua lại và sáp nhập (M&A) tái cấu trúc và các hoạt động quản lý doanh nghiệp đại diện
cho một nguồn lực mới của nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế, tạo tiền đề cho tính
sáng tạo và hiệu quả trong kinh doanh. Có rất nhiều cách để các doanh nghiệp có thể đạt
được mục tiêu tăng trưởng trong quá trình kinh doanh của mình. Một là, tăng trưởng hữu
cơ (“organic growth”), là khi doanh nghiệp trích lại một khoản lợi nhuận mà mình kiếm
được, khoản lợi nhuận này cùng với các khoản vốn từ các bên cho vay sẽ được đầu tư lại
để mở rộng doanh nghiệp, bằng cách này, một doanh nghiệp có thể mất thời gian nhiều
năm để phát triển. Hai là, các doanh nghiệp tìm kiếm đến các giải pháp sáp nhập và mua
1
Neeraj Tiwari (2011), “Merger under the Regime of Competition Law: A Comparative Study of Indian
3
Stephen Calkins (2007) “Competition Law in the United States of America”, in Vinod Dhall (ed.),
Competition Law Today(Concepts, Issues and the Law in Practice), Oxford University Press, New Delhi, t
401-425.
4
nt
5
Christopher Bellamy (2007), “The Competition Regime in the UK”, in Vinod Dhall (ed.), Competition Law
Today(Concepts, Issues and the Law in Practice), Oxford University Press, New Delhi, t. 386-400
3
cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh lần đầu tiên vào năm 2004,
sau đó được thay thế bởi Luật Cạnh tranh 2018.
Hoạt động mua bán và sáp nhập là nghĩa của cụm từ M&A, hay còn được gọi là Mergers
and Acquisitions, đây là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua hình
thức mua lại hoặc sáp nhập hai hay nhiều doanh nghiệp để sở hữu một phần hoặc toàn bộ
doanh nghiệp đó. Mặc dù đem lại nhiều lợi ích trong việc giúp cho doanh nghiệp phát
triển, các hoạt động mua bán và sáp nhập cũng có thể sẽ dẫn tới những tác động không
mong muốn đối với thị trường, gây ra các hoạt động hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh
không lành mạnh. Cùng với việc có hiệu lực của Luật Cạnh tranh năm 2018, hoạt động
sáp nhập ở Việt Nam trong thời gian sắp tới cũng sẽ nằm dưới sự điều chỉnh của luật này.
Trong luận văn này, người viết sẽ chỉ phân tích các hoạt động Mua bán và Sáp nhập trong
giới hạn phạm vi của Luật Cạnh tranh năm 2018.
Luật Cạnh tranh tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra và quản lý các
hồ sơ thông báo tập trung kinh tế (nói chung) và mua bán và sáp nhập (nói riêng). Quy
trình này nhằm đảm bảo các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động mua bán và sáp nhập
ảnh hưởng của các hoạt động này đến các thị trường liên quan, cũng như hiệu quả của
những quy định này đối với Việt Nam.
2.
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Thông qua luận văn này, người viết mong muốn được nghiên cứu một cách có hệ thống
và đầy đủ những quy định pháp luật cạnh của Việt Nam đối với các hoạt động mua bán
và sáp nhập.
Mặc dù các hoạt động mua bán và sáp nhập đã không còn xa lạ với các doanh nghiệp
trong nhiều năm trở lại đây, nhất là khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đúng
mức đến các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh, do các quy
định này còn khá mới mẻ, nhất là đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trong khi đó, các
hậu quả pháp lý đối với việc vi phạm quy định về kiểm soát tập trung kinh tế là khá
nghiêm trọng. Do thời hiệu xử lý các vụ việc cạnh tranh là 2 năm kể từ ngày hành vi vi
phạm được thực hiện, các thương vụ mua lại và sáp nhập, dù đã thực hiện xong, nhưng
không tuân thủ các quy định về thông báo, hoặc miễn trừ theo quy định của Luật Cạnh
5
tranh, vẫn tiềm ẩn những rủi ro về mặt pháp lý. Trong một số trường hợp, bên cạnh việc
phạt tiền, cơ quan quản lý cạnh tranh vẫn có thể áp dụng các biện pháp phạt bổ sung hoặc
khắc phục hậu quả, buộc chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại
phần doanh nghiệp đã mua...
Với xu hướng phát triển của hoạt động này trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian
tới, thì vấn đề cần phải quan tâm là hệ thống pháp luật của Việt Nam đã thích ứng được
với những đòi hỏi khách quan của các hoạt động này hay chưa? Những gì mà pháp luật
Việt Nam đã có để điều chỉnh hoạt động này? Những vấn đề lưu ý khi áp dụng các quy
để trả lời cho các câu hỏi được đặt ra.
4.
Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu
Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài báo đề cập hoặc nghiên cứu một số khía cạnh của
vấn đề mua bán và sáp nhập nói chung, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
sâu sắc, hệ thống và đầy đủ về các quy định của pháp luật Việt Nam về mua lại và sáp
nhập của các doanh nghiệp. Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách
có hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài mang ý nghĩa
lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, phù hợp với luật pháp quốc
tế. Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn
thiện các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích đảm bảo một môi trường pháp
lý cho hoạt động này được phát triển một cách có định hướng.
Phùng Ngọc Việt Nga trong Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua
lại doanh nghiệp (M&A) phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam” đã phân tích về
hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập trên thế giới. Tác giả cũng đã nghiên cứu các điều
ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có liên quan đến các hoạt động đầu tư này của các
nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam. Đồng thời, phân tích các quy định pháp luật hiện
hành của Việt Nam, xu hướng của các giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp qua các
7
giai đoạn, từ đó tìm hiểu các yếu tố tác động đến xu hướng này. Tác giả cũng đưa ra một
số phương hướng và đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp.
Nguyễn Mạnh Thái trong Luận văn Thạc sĩ “Phát triển thị trường mua bán sáp nhập –
Hướng đi mới cho Việt Nam” đã phân tích các xu hướng phát triển của hoạt động mua
bán – sáp nhập trên thế giới, nghiên cứu những thương vụ mua lại và sáp nhập thành
xem xét và đánh giá bằng sự tiếp cận kinh tế học kết hợp với tư duy kinh tế.
Sách chuyên khảo “Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam” của các tác giả Lê Danh Vĩnh,
Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn xuất bản năm 2006. Sách này đã giới thiệu một cách
tổng quan về cạnh tranh, chính sách cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh nhằm mục đích
cung cấp những kiến thức cơ bản cho các doanh nghiệp, các nhà quản lý kinh tế và các
nhà nghiên cứu về cạnh tranh. Trong sách có bước đầu phân tích bản chất của TTKT và
nguyên nhân cũng như tác động của hoạt động này đối với thị trường cạnh tranh.
Các nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp nhập tại Việt Nam đã có những đóng góp
quan trọng về cơ sở lý luận và thực tiễn đối với hoạt động mua lại và sáp nhập và sự phát
triển của hoạt động này trong tương lai. Những nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp
nhập của các tác giả là nguồn tư liệu quan trọng để người viết học hỏi, tham khảo trong
quá trình hoàn thiện luận văn. Những tài liệu này là những cơ sở vô cùng quan trọng để
học viên nghiên cứu kỹ hơn các vấn đề lý luận, đi sâu và phân tích thực tiễn để từ đó đưa
ra những giải pháp, khuyến nghị đối với hoạt động mua bán và sáp nhập ở Việt Nam.
5.
Cấu trúc của luận văn
Luận văn được trình bày gồm phần mở đầu, phần kết luận và 03 chương, cụ thể:
Chương I: Cơ sở lý luận về mua lại và sáp nhập doanh nghiệp. Chương I tập trung nghiên
cứu các vấn đề lý luận cơ bản về mua lại và sáp nhập, bao gồm: khái niệm, đặc điểm và
phân loại; phân tích các cơ sở lý luận của pháp luật; nghiên cứu tổng quan về pháp luật
quản lý tập trung kinh tế. Trong quá trình phân tích, luận văn có lồng ghép phân tích, so
sánh với quy định pháp luật một số nước về nội dung liên quan.
9
Chương II: Quy định pháp luật về hình thức tập trung kinh tế, phạm vi và ngưỡng kiểm
soát tập trung kinh tế ở Việt Nam. Đây là những vấn đề cơ bản của pháp luật về kiểm
trị hoặc kết hợp các phương pháp trên. Hoạt động này được thực hiện bằng nhiều phương
pháp như sáp nhập, mua lại, chia tách, mua lại và sáp nhập doanh nghiệp bằng nguồn tài
chính cho vay (“leveraged buy-outs”), bán lại doanh nghiệp, liên doanh, chia cắt cổ phần,
v.v...
Tuy nhiên, trong các hình thức tái cấu trúc doanh nghiệp, mua lại và sáp nhập (M&A) là
những hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp phổ biến nhất, đồng thời, chúng cũng đóng
một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp trên toàn thế giới.
Chính vì vậy, bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào các hoạt động tái cấu trúc doanh
nghiệp bằng phương pháp mua lại và sáp nhập.
1.1.1.1.
Khái niệm, đặc điểm và phân loại sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập xảy ra khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng kết hợp với nhau, có thể là một
hay nhiều doanh nghiệp kết hợp với một doanh nghiệp đã tồn tại từ trước hoặc chúng có
11
thể cùng kết hợp để tạo ra một doanh nghiệp mới.7 Hầu hết các hoạt động sáp nhập nói
chung đều được thực hiện bằng cách tạo ra một doanh nghiệp từ hai hay nhiều doanh
nghiệp. Theo Weinberg và Blank, sáp nhập doanh nghiệp được định nghĩa như sau:
“Sáp nhập có thể được xem như một sự sắp xếp lại tài sản của hai doanh nghiệp, chúng
có thể được chuyển giao cho một doanh nghiệp (có thể là một trong hai doanh nghiệp
được giữ nguyên sau khi sáp nhập, hoặc là một doanh nghiệp mới). Doanh nghiệp này sẽ
có những cổ đông mới, cũng chính là cổ đông của hai doanh nghiệp cũ. Hoạt động sáp
nhập bị ảnh hưởng bởi các cổ đông của một hoặc cả hai doanh nghiệp hợp nhất, cùng
chia sẻ lợi tức (tự nguyên hoặc bị bắt buộc) với nhau hoặc bán lại lợi tức đó cho một bên
thứ ba”.8
Hoạt động sáp nhập có thể được thực hiện theo hai hình thức:
12
khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (Western Bank) hợp nhất thành
ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PvcomBank) vào năm 2013.
Ngoài ra, sáp nhập còn có thể được phân loại như sau:11
(i)
Sáp nhập theo chiều ngang: Sáp nhập theo chiều ngang là hoạt động diễn ra đối
với hai doanh nghiệp cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị
trường.12 Ví dụ, khi hai doanh nghiệp bán lẻ thực phẩm hoặc hai doanh nghiệp xuất bản
sách cùng sáp nhập với nhau nhằm tạo ra lợi thế trên thị trường thì được gọi là sáp nhập
theo chiều ngang. Mục tiêu của việc sáp nhập này là để gia tăng khả năng cạnh tranh trên
trị trường bằng việc tạo ra một doanh nghiệp lớn hơn. Quy mô kinh tế được mở rộng
bằng cách giảm thiểu chi phí cơ sở vật chất và vận hành, mở rộng dòng sản phẩm, loại trừ
cạnh tranh, giảm chi phí quảng cáo, mở rộng phân khúc thị trường từ đó kiểm soát thị
trường tốt hơn. Tuy nhiên, sáp nhập theo chiều ngang cũng có thể đem lại tác động tiêu
cực đến với thị trường, số lượng các doanh nghiệp trên thị trường bị giảm đi, khiến cho
các doanh nghiệp còn lại có thể tạo ra hiện tượng độc quyền, gây hạn chế cạnh tranh.
Chính vì vậy, cơ quan nhà nước cần phải đưa ra các quy định nhằm kiểm soát các hoạt
động sáp nhập theo chiều ngang, nhằm ngăn chặn các tác động xấu đến với thị trường.
(ii)
Sáp nhập theo chiều dọc: Là hoạt động sáp nhập diễn ra đối với các doanh nghiệp
hoạt động cùng một ngành nhưng ở những vị trí khác nhau trong chuỗi cung ứng. Ví dụ,
trong ngành dược phẩm, sáp nhập theo chiều dọc có thể diễn ra giữa doanh nghiệp nghiên
cứu và phát triển dược phẩm, sản xuất dược phẩm hoặc phân phối sản phẩm thông qua
ích của hoạt động sáp nhập này là gia tăng khả năng kinh doanh bằng cách sử dụng các
kênh bán hàng hoặc phân phối của tất cả các doanh nghiệp sáp nhập.15
(iv)
Sáp nhập hỗn hợp (“Conglomerate Merger”): Sáp nhập hỗn hợp là hoạt động diễn
ra giữa các doanh nghiệp hoạt động ở những lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. 16 Mục đích
của hoạt động sáp nhập này là nhằm để giảm thiểu rủi ro khi một doanh nghiệp muốn
thâm nhập vào một lĩnh vực mới.17 Hoạt động này gia tăng khả năng ổn định khi doanh
nghiệp tiến hành quá trình đa dạng hóa sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp. Khi hai
doanh nghiệp thuộc hai lĩnh vực khác biệt sáp nhập cùng với nhau, doanh thu và lợi
nhuận ổn định hơn vì các lĩnh vực khác biệt này sẽ hiếm khi phải chịu những rủi ro từ thị
trường cùng một lúc. Sáp nhập hỗn hợp còn giúp cho các doanh nghiệp có thể đa dạng
hóa sản phẩm và dịch vụ mà không phải tốn nhiều chi phí vào việc xây dựng hệ thống
vận hành mới.18
14
Bhasin (2006), “Mergers and Acquisitions: An Overview”, Manupatra Newsline, Tập. 1, t. 11
Tlđd 8
16
Tlđd 8
17
Nicholas A.H. Stacey (1966) “Mergers in Modern Business”, Hutchinson and Co. (Publishers) Ltd., London, t. 37
18
Tlđd 9
15
14
Mua lại vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bằng tiền mặt, hoặc bằng các phương
pháp huy động vốn.
Hoạt động mua lại đôi khi cũng được thực hiện bằng cách mua lại tài sản của doanh
nghiệp. Bên mua lại có thể mua lại toàn bộ tài sản hoặc một phần tài sản và nghĩa vụ của
doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp trong trường hợp này có thể là tài sản hữu hình
như nhà xưởng, máy móc, quyền sử dụng đất đai… hoặc vô hình như thương hiệu, bản
quyền, đội ngũ nhân sự, kênh phân phối… Phần bán đi sẽ bị tách ra khỏi công ty bán,
doanh nghiệp đi thâu tóm chỉ mua phần tài sản mà không tham gia sở hữu doanh nghiệp
bán. Trong trường hợp bán lại toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp mục tiêu
sẽ chấm dứt mọi hoạt động sau khi đã nhận được tiền của bên mua. Bên bán không còn
tài sản để hoạt động và tự giải thể.20 Tuy nhiên mua lại tài sản liên quan đến thủ tục pháp
lí khi chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản khiến chi phí của mua lại tài sản có thể lớn
hơn chi phí mua lại bằng cổ phiếu. Ví dụ: Công ty X mua lại tất cả tài sản của Công ty Y
19
20
Arneet Kaur, 2014, t.10
nt
15
bằng tiền mặt, điều đó có nghĩa là Công ty Y lúc này sẽ chỉ có tiền mặt và các khoản nợ
(nếu có). Lúc này, Công ty Y sẽ chỉ còn là một cái vỏ và cuối cùng sẽ đi đến việc phá sản
hoặc chuyển sang kinh doanh ở một lĩnh vực khác.
Mua lại là một hình thức kiểm soát doanh nghiệp thông qua việc kiểm soát tài sản hoặc
bộ máy quản trị mà không cần phải sáp nhập các doanh nghiệp với nhau. Vì vậy, trong
một vụ mua lại, hai hay nhiều doanh nghiệp vẫn giữ nguyên tính độc lập, pháp nhân của
cả hai, nhưng sẽ có sự thay đổi trong việc kiểm soát các doanh nghiệp. 21 Trong một số
21
22
nt
Arneet Kaur, 2014, t.11
16
(i)
Tháng 1/2018, Tập đoàn Prudential bán 100% Công ty tài chính Prudential Việt
Nam – Prudential Finance (PVFC) cho Công ty TNHH Shinhan Card, một công ty con
của Tập đoàn Tài chính Shinhan (Shinhan) với số tiền 151 triệu USD.23
(ii)
Tháng 12/2017, Thai Beverage mua lại 53,59% cổ phần của CTCP Nước giải khát
Sài Gòn Sabeco với giá trị 4,8 tỷ USD.24
(iii)
Tháng 05/2019, Tập đoàn bán lẻ Pháp Auchan Retail quyết định bán lại 18 cửa
hàng tại Việt Nam cho Việc Liên hiệp HTX Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op) và rút
khỏi thị trường bán lẻ tại Việt Nam.25
Mua loại doanh nghiệp có thể được phân loại theo các cách sau:
(i)
Mua lại thân thiện (“Friendly Acquisition”): Là hình thức ban quản trị doanh