A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tại điều 28 của Luật giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh”.
Ở trường phổ thông, Ngữ văn là môn học có nhiều ưu thế trong việc
góp phần đào tạo ra những công dân tích cực mà mục tiêu giáo dục đã đặt
ra. Vai trò của môn Ngữ văn thể hiện ở chỗ nó có khả năng bồi dưỡng cho
học sinh những tri thức phong phú về thế giới nội tâm đầy biến động, phức
tạp; mọi hiện tượng đang diễn ra trước mắt và những kĩ năng, kĩ xảo hết
sức cần thiết trong cuộc sống. Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh và nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, có thể sử
dụng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, trong đó việc sử dụng dạng đề
so sánh là một biện pháp khá quan trọng và rất cần được quan tâm sử dụng.
Sở dĩ là vì, việc sử dụng dạng đề so sánh trong dạy học có thể phát huy
được những ưu điểm của phương pháp dạy học hiện đại là làm cho học sinh
phải tự nỗ lực hoạt động để tìm tòi, khám phá những tri thức mới qua văn
bản (sau đây gọi chung là ngữ liệu) dưới sự hướng dẫn của giáo viên, qua
đó hình thành cho học sinh kĩ năng Ngữ văn và thái độ tích cực đối với bộ
môn này.
Hơn nữa, đối với học sinh lớp 12, các em đang đứng trước kì thi quan
trọng nhất của cuộc đời học sinh – kì thi THPT Quốc gia. Ở lứa tuổi này,
các em đã phát triển tương đối đầy đủ về thể chất nên trình độ tư duy và
nhận thức cũng đã tương đối toàn diện. Qua năm học lớp 10, 11 các em đã
được làm quen và bước đầu trang bị cho mình cách học mới ở trường phổ
thông khác với cách học ở các lớp dưới. Vì vậy, việc sử dụng dạng đề so
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
phương pháp, phương tiện dạy học, tuy nhiên những phương pháp, phương
tiện dạy học mới chưa được tiếp cận và áp dụng một cách rộng rãi, hiệu
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
2
quả. Việc nghiên cứu và thử nghiệm đề tài này có ý nghĩa lí luận và thực
tiễn cấp thiết cũng như tính khả thi cao.
3. Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi và giá trị
sử dụng của đề tài
3.1. Mục đích, đối tượng
a. Mục đích
- Hướng dẫn giáo viên trong quá trình giảng dạy cần bám sát ngữ
liệu cũng như nội dung đổi mới và học sinh trong quá trình tiếp thu bài học,
định hướng cách giải quyết ngữ liệu, kiểm tra kiến thức...
- Góp phần nâng cao kết quả dạy học của giáo viên; kết quả học tập
của học sinh, nhất là kết quả các bài kiểm tra, đánh giá và kết quả của kỳ
thi THPT Quốc gia.
b. Đối tượng nghiên cứu
- Giáo viên trong việc giảng dạy.
- Học sinh trong việc học tập.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu việc sử dụng dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12, giúp
học sinh ôn thi tốt kỳ thi THPT Quốc gia.
- Đưa ra hệ thống ngữ liệu và giải quyết các câu hỏi của dạng đề so
sánh qua thực tế kiểm nghiệm của bản thân trong quá trình thực hiện đổi
mới dạy học.
- Định hướng giải quyết những câu hỏi đã nêu ra đối với mỗi ngữ
liệu trong đề tài.
- Là những dạng câu hỏi mà trong quá trình giải quyết vấn đề cần chỉ
ra được những nét tương đồng cũng như những điểm khác biệt của hai tác
phẩm, đoạn trích, nhân vật, tình huống, chi tiết, sự việc tiêu biểu... trở lên.
- Trong phạm vi của đề tài, tôi mới chỉ đề cập tới dạng đề so sánh ở
một số tác phẩm, đoạn trích trong chương trình Ngữ văn 12 (Ban cơ bản).
b. Chức năng của dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12 kỳ thi THPT
Quốc gia
- Giúp chúng ta bám sát nội dung bài học trong quá trình giảng dạy
và ôn tập;
- Nắm chắc văn bản tác phẩm, đoạn trích nói chung; nhân vật, tình
huống, chi tiết, sự việc tiêu biểu nói riêng;
- Khắc sâu những đơn vị kiến thức cơ bản trong văn bản để giải
quyết những câu hỏi được đặt ra đối với mỗi ngữ liệu mà đề tài hướng tới.
Từ đó, kích thích niềm đam mê, sự hứng khởi trong việc khám phá và
chiếm lĩnh tri thức khoa học Ngữ văn.
c. Các dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12 kỳ thi THPT Quốc gia
- Dạng đề so sánh dựa vào hai đoạn trích;
- Dạng đề so sánh dựa vào hai nhân vật;
- Dạng đề so sánh dựa vào tình huống, chi tiết, sự kiện tiêu biểu.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn của phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cập
đến việc giới thiệu dạng đề so sánh qua các tác phẩm, đoạn trích trong
chương trình Ngữ văn 12 THPT (Ban cơ bản), để giúp các em ôn thi thật
tốt và đạt kết quả thật cao trong kỳ thi THPT Quốc gia đang cận kề.
2. Xây dựng dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12, giúp học sinh ôn thi
tốt kỳ thi THPT Quốc gia
2.1 Nguyên tắc xây dựng dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12, giúp
học sinh ôn thi tốt kỳ thi THPT Quốc gia
- Xây dựng dạng đề so sánh phải phù hợp với mục tiêu, nội dung
bài học
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
+ Tính khoa học đòi hỏi các thông tin trong câu hỏi phải mang nội
dung khoa học, các vấn đề trong hệ thống câu hỏi có mối liên hệ chặt chẽ
với nội dung tác phẩm được trình bày một cách logic, có tính khoa học.
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
6
+ Tính chính xác yêu cầu những thông tin, nội dung trong câu hỏi phải
đúng, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đáng tin cậy dựa trên những chi tiết,
sự việc tiêu biểu cũng như những hình ảnh nổi bật trong văn bản của tác
phẩm.
+ Tính thẩm mĩ của dạng đề so sánh được thể hiện ở chỗ qua hệ thống
câu hỏi đã kích thích lòng yêu thích, sự đam mê và khả năng sáng tạo của
các em đối với bộ môn Ngữ văn. Từ đó, giúp các em không ngừng tích cực
đọc, khám phá những tri thức phong phú mà bộ môn Ngữ văn mang lại.
- Xây dựng dạng đề so sánh phải nêu được nhiệm vụ học tập của
học sinh
Đặt câu hỏi chính là nêu nhiệm vụ học tập cho học sinh, được cụ thể
hóa bằng các câu hỏi của dạng đề so sánh. Các nhiệm vụ này xuất phát từ
nội dung của bài học – nội dung của tác phẩm. Thông thường, giáo viên đặt
ra câu hỏi để học sinh biết phải làm gì, làm như thế nào, dựa trên cơ sở nào
để làm…
- Xây dựng dạng đề so sánh phải thể hiện được phương pháp hoạt
động và giao tiếp của học sinh
Những câu hỏi được đặt ra cho học sinh đó là những mệnh lệnh,
những gợi ý của giáo viên cũng chính là những gợi ý về phương pháp hoạt
động và các thao tác tư duy để thực hiện mệnh lệnh đó.
2.2 Giới thiệu dạng đề so sánh môn Ngữ văn 12, giúp học sinh ôn
thi tốt kỳ thi THPT Quốc gia
(Trích Việt Bắc - Tố
(Trích Tây Tiến - Quang Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB
Dũng, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr110).
Giáo dục Việt Nam, 2012, tr89).
Gợi ý:
a. Vài nét về tác giả và tác phẩm
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ tinh tế, phóng khoáng,
mang đậm chất lãng mạn. Tây Tiến là một sáng tác đặc sắc của Quang
Dũng, góp phần làm nên tên tuổi nhà thơ. Bài thơ kết tinh nỗi nhớ da diết
về đồng đội, về những ngày tháng không thể nào quên của đoàn quân Tây
Tiến, gắn với miền Tây hùng vĩ, hiểm trở và thơ mộng.
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng với phong cách trữ tình chính
trị. Bài thơ Việt Bắc là một thành công xuất sắc của ông. Bài thơ thể hiện
một cách tinh tế tình cảm cách mạng giữa những người kháng chiến và
người dân Việt Bắc.
b. Về đoạn thơ trong bài Tây Tiến
- Nội dung: Vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người miền Tây trong
nỗi nhớ của người lính Tây Tiến:
+ Thiên nhiên hoang sơ, gợi cảm: những bông lau chập chờn, lay động trên
những bến bờ như cũng có hồn; những bông hoa dập dềnh trên dòng nước
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
8
lũ cũng mang hồn cảnh vật quyến luyến, tình tứ (hoa đong đưa chứ không
phải là đung đưa)
+ Sử dụng thành công thể thơ lục bát với việc kết hợp nhuần nhuyễn màu
sắc cổ điển và màu sắc dân gian, mang âm hưởng tha thiết, sâu lắng.
+ Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi gợi cảm; tổ chức lời thơ theo phép tiểu đối
cân xứng, hài hoà. Những tiểu đối khi tương đồng (Trám bùi để rụng,
măng mai để già), khi tương phản (Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son) làm
nổi bật tấm lòng đồng bào Việt Bắc dành cho cán bộ, chiến sĩ, cho cách
mạng.
+ Điệu thơ lục bát uyển chuyển cân xứng hài hoà, điệp từ, điệp ngữ tạo nên
giọng điệu trữ tình thiết tha, êm ái, ngọt ngào mang âm hưởng lời ru.
d. Về sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn thơ
- Tương đồng: Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng với
một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tinh tế.
- Khác biệt: Đoạn thơ trong bài Tây Tiến là lời nhắn nhủ của người đi, được
thể hiện bằng thể thơ thất ngôn với một bút pháp lãng mạn, hào hoa…
Đoạn thơ trong bài Việt Bắc là lời nhắn gửi của người ở lại được thể hiện
bằng thể thơ lục bát, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu mang đậm màu sắc
dân tộc, truyền thống.
e. Lý giải sự tương đồng và khác biệt
- Tương đồng vì: Hai tác giả đều là những nhà thơ rất mực tài năng, đều
tham gia kháng chiến chống Pháp, đều gắn bó sâu nặng với những vùng đất
- con người kháng chiến.
- Khác biệt vì: Bản chất của nghệ thuật là sự sáng tạo, “Mỗi tác phẩm văn
học phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” (nhà
văn Lêônit Lêônốp); Do nét riêng của hoàn cảnh, cảm hứng và phong cách
nghệ thuật độc đáo của mỗi nhà thơ.
2.2.2. Đề 2: Phân tích hình tượng tập thể những người lính trong hai
đoạn thơ sau:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Việt Nam, 2012, tr89).
Gợi ý:
Giáo dục Việt Nam, 2012, tr112).
a. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hai đoạn thơ
- Tố Hữu là cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố
Hữu có sức chinh phục mạnh mẽ bởi niềm say mê lí tưởng, khuynh hướng
sử thi, cảm hứng lãng mạn, tính dân tộc đậm đà.
- Quang Dũng là hồn thơ trung hậu, hào hoa thanh lịch, yêu tha thiết quê
hương đất nước. Ông cũng có khuynh hướng khai thác vẻ đẹp lãng mạn
anh hùng.
- Việt Bắc và Tây Tiến là thành công xuất sắc của thơ cách mạng Việt Nam
thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Cả hai tác phẩm đều khắc họa hình tượng
tập thể những con người Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến.
- Đây là hai đoạn thơ tiêu biểu trong hai bài thơ khắc họa vẻ đẹp của tập thể
những con người Việt Nam anh hung.
b. Đoạn thơ trong bài Việt Bắc
- Vị trí của đoạn: là lời người ra đi đáp lại người ở lại, thể hiện nỗi nhớ Việt
Bắc trong những ngày chiến dịch.
- Đặc điểm của hình tượng tập thể anh hùng trong đoạn thơ:
+ Không gian xuất hiện: những con đường Việt Bắc.
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
11
+ Thời gian: ban đêm cho thấy sự gian khổ, và sự bất thường của chiến
tranh.
hai bài thơ.
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
13
2.2.3. Đề 3: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của nhân vật cụ Mết
(Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành) và nhân vật chú Năm (Những đứa
con trong gia đình – Nguyễn Thi).
Gợi ý:
a. Vài nét về tác giả, tác phẩm, nhân vật
- Nguyễn Trung Thành là nhà văn tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và
cảm hứng lãng mạn của văn học 1945-1975. Rừng xà nu là truyện ngắn
xuất sắc của ông viết về cuộc chiến đấu bất khuất và sức sống bất diệt của
nhân dân Tây Nguyên thời chống Mĩ. Cụ Mết là nhân vật khó có thể phai
mờ trong tâm trí nguời đọc.
- Nguyễn Thi là nhà văn của nông thôn Nam Bộ thời chống Mĩ, với những
sáng tác vừa giàu chất hiện thực vừa đằm thắm trữ tình. Những đứa con
trong gia đình là truyện ngắn xuất sắc của ông, viết về sự gắn bó sâu nặng
giữa tình cảm gia đình và tình yêu nước, giữa truyền thống gia đình với
truyền thống dân tộc tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt
Nam. Chú Năm đã tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.
b. Về nhân vật cụ Mết
- Giới thiệu chung: dù không được miêu tả nhiều, nhưng nhân vật cụ Mết
có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật
được khắc họa sắc nét, chân thực, mang ý nghĩa biểu tượng.
- Vẻ đẹp của nhân vật:
+ Mang dáng dấp những thủ lĩnh anh hùng trong các trường ca, truyện cổ
Tây Nguyên;
+ Kết tinh những phẩm chất tốt đẹp lâu đời của làng;
thấy vẻ đẹp tâm hồn và tinh thần cách mạng của người con gái Việt Nam
trong kháng chiến chống Mỹ.
Gợi ý:
a. Giới thiệu chung về hai tác phẩm, nhân vật
- Rừng xà nu: Nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành) có duyên với
Tây Nguyên. Cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Nguyên
Ngọc đã sống và chiến đấu ở mảnh đất hùng vĩ này. Hai tác phẩm hay nhất
của Nguyên Ngọc đều viết về Tây Nguyên là “Đất nước đứng lên” và
“Rừng xà nu”.Truyện “Rừng xà nu” viết về những anh hùng ở làng Xô
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
15
Man trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Là tác phẩm tiêu biểu cho khuynh
hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam giai đoạn 19541975. Nhân vật Mai trong tác phẩm không được khắc họa nhiều nhưng đã
thể hiện vẻ đẹp của một người con gái Tây Nguyên trong kháng chiến: tình
yêu cách mạng, tình yêu gia đình, và một bản lĩnh kiên cường tưởng không
gì có thế quật ngã được.
- Những đứa con trong gia đình : Tác phẩm được viết ngay trong những
ngày chiến đấu ác liệt khi ông công tác với tư cách là một nhà văn- chiến sĩ
ở Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng năm 1966. Sau được in trong Truyện
và kí NXB Văn học Giải phóng, 1978. Có thể nói, Nguyễn Thi là một trong
những nhà văn thành công nhất khi viết về hình tượng người phụ nữ Nam
bộ “giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong cuộc kháng chiến chống Mĩ anh
dũng, kiên cường trước kẻ thù, nhân hậu đảm đang trong gia đình. Nhân
vật Chiến cũng vậy, ba má đều chết trong chiến tranh, Chiến đã thay má
nuôi nấng và dạy dỗ các em không những vậy Chiến còn tham gia du kích
từ khi còn nhỏ, hăng hái tòng quân giết giặc.
b. Phân tích nhân vật
tâm mãnh liệt chống lại kẻ thù.
+ Họ không chỉ là những người chiến sĩ trẻ đầy bản lĩnh mà còn là người
con gái của gia đình: biết yêu thương, vun vén cho gia đình.
|+ Hai nhân vật đều mang vẻ đẹp của người con gái Việt Nam nói chung:
giỏi việc nước, đảm việc nhà.
- Khác biệt:
+ Mai là người con gái Tây Nguyên bản lĩnh rắn rỏi, nhưng do Mai chưa
nhận thức được chân lý cách mang mà sau này Cụ Mết đã nói (Chúng nó
đã cầm súng, ta phải cầm giáo, mạc) nên bất lực ôm đứa con thơ chết dưới
đòn roi của kẻ thù.
+ Chiến là người con gái Nam Bộ bộc trực, thẳng thắn, lớn lên trong giai
đoạn chiến tranh ác liệt, nên nhận thức rõ mình cần phải làm gì để bảo vệ
gia đình, dân tộc. Do vậy Chiến đã quyết tâm đi bộ đội.
2.2.5. Đề 5: Điểm giống và khác nhau giữa thị và Mị, giữa A Phủ và
Tràng trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) và Vợ nhặt (Kim Lân).
Gợi ý:
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
17
a. Điểm giống nhau giữa hai tác phẩm
- Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc.
- Cùng viết về người nông dân nghèo trong cảnh ngộ khốn khổ.
- Hai tác phẩm cùng vẽ ra hành trình đến với cách mạng, đến với hạnh phúc
của những con người tưởng như đã bị đẩy vào bước đường cùng. Chính
hoàn cảnh tăm tối, cuộc sống nghiệt ngã đã viết nên thiên tình sử của Mị A Phủ, thị - Tràng.
- Chứa đựng giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới mẻ, sâu sắc.
b. Phân tích nhân vật
* A Phủ và Tràng
rắt những bản tình ca gọi bạn đi chơi…Khi bị trói, nhận thức được cảnh
ngộ của mình A Phủ đã khóc. Giọt nước mắt của sự cam chịu, bất lực, đồng
thời cũng là giọt nước mắt khóc cho những ước vọng không thành, giọt
nước của cuộc đời từ đây vĩnh biệt….Khi được Mị cắt dây trói, A Phủ khuỵ
xuống, nhưng rồi khát vọng sống lại khiến anh quất sức, vùng lên chạy. Đó
là sự tiếp sức của lòng ham sống của, của khát vọng tự do.
+ Đều hướng về ánh sáng cách mạng:
. CM đã soi đường chỉ lối cho A Phủ, đến Phiềng Sa, A Phủ trở thành một
anh du kích dũng cảm, kiên cường -> Anh có được tự do, hạnh phúc.
. Tràng chưa trở thành một anh du kích nhưng cuối tác phẩm tronh óc anh
đã nghĩ tới đám người đói và lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới-> Tác giả đã
gieo hạt giống hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng, nhất định ngày mai
trong đoàn quân của những người đói kéo nhau đi trên đê Sộp sẽ có Tràng,
bà cụ Tứ và thị -> họ sẽ thoát khỏi đói nghèo và cuộ sống nô lệ.
- Điểm khác:
+ Trong Vợ nhặt, Tràng là nhân vật chính còn trong đoạn trích học Vợ
chồng A Phủ, A Phủ là nhân vật phụ.
+ Tràng là anh nông dân nghèo trong nạn đói 1945 ở miền xuôi dưới sự cai
trị trực tiếp của bọn thực dân, phát xít. A Phủ là người dân lao động miền
núi, sống dưới sự cai trị của bọn chúa đất phong kiến, chúng lợi dụng
cường quyền và thần quyền để biến những người dân nghèo thành nôlệ
không công cho chúng, hết đời này sang đời khác.
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
19
+ Tràng được tác giả tập trung khắc hoạ bởi những diễn biến tâm lí phức
tạp còn A Phủ lại được nhà văn Tô Hoài miêu tả bằng những hành động cụ
Tràng rồi liếc mắt cười tít -> thị mong chờ một cái gì đó dù chỉ là mong
manh cho tương lai tăm tối của mình.
Lần thứ hai gặp Tràng, thị đã sẵn sàng bỏ qua ý thức về danh dự về nhân
phẩm; thị chao chát, chỏng lỏn, thị sấn sổ, thị trơ trẽn không biết xấu hổ là
gì, thị xem miếng ăn là tất cả "cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền
chẳng trò chuyện gì" rồi không băn khoăn, thị gật đầu theo không Tràng về
làm vợ chỉ với một suy nghĩ cho khỏi đói, để được sống.
Sáng hôm sau thị trở thành một cô dâu hiền thục, dịu dàng, đúng mực và có
trách nhiệm với gia đình: thị bắt đầu vun vén cho tổ ấm " quét dọn sân nhà
sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang nước". Tình người và những khao khát nhân
bản đã làm nên điều kì diệu.
+ Tin tưởng vào ánh sáng CM:
. Mị rời khỏi Hồng Ngài được giác ngộ CM, trở thành du kích.
. Thị vững tin vào một ngày mai tươi sáng, yên ấm; khi một ngày mới, một
lá cờ đỏ tươi thắm, một chân trời mới đang dần hiện hữu.
- Điểm khác:
+ Vị trí nhân vật: Mị là nhân vật chính được nhà văn Tô Hoài dày công
khắc hoạ; thị là nhân vật phụ, là hiện thân của nạn đói.
+ Hoàn cảnh: thị bị cái đói rình rập, đeo đuổi mà sẵn sàng bỏ qua tất cả, lại
sẵn sàng làm một vật rẻ rúng để người ta đơn giản nhặt về làm vợ.. Mị là
người dân lao động nghèo miền núi, sống dưới ách thống trị cường quyền,
thần quyền của bọn chúa đất phong kiến.
+ Mị được nhà văn khám phá phát hiện và mô tả bằng những diễn biến nội
tâm tinh tế, phức tạp. Nhân vật thị chủ yếu được khắc hoạ bằng ngoại hình
và hành động.
2.2.6 Đề 6: “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc
trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này.
Còn mình thì...Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước
đứa con mình và cũng xót tủi cho chính thân phận mình: Tràng có vợ vào
lúc cái đói, cái chết đang ráo riết truy đuổi con người. Còn dòng nước mắt
của người đàn bà hàng chài trào ra sau sự việc thằng Phác đánh lại bố để
bảo vệ mẹ và hoàn cảnh éo le, ngang trái của gia đình bà đã diễn ra trước
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
22
mắt nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng; người phụ nữ vùng biển này thấy đau đớn,
nhục nhã vì không thể giấu được bi kịch gia đình.
- Về nghệ thuật thể hiện: Để khắc họa chi tiết dòng nước mắt, Kim Lân sử
dụng hình thức diễn đạt trực tiếp, giản dị, Nguyễn Minh Châu dùng cách
diễn đạt ví von, hình ảnh.
2.2.7. Đề 7: Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn trích sau:
“Mị không nói. A Sử cũng không hỏi thêm nữa. A Sử bước lại,
nắm Mị, lấy thắt lương trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra
trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xoã xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột,
làm cho Mị không cúi không nghiêng được đầu nữa. Trói xong vợ, A sử
thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa
buồng lại.
Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị
trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những
cuộc chơi, những đám chơi…”
(Trích Vợ chồng APhủ - Tô
Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr08).
“ Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong
người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa, có vẻ như những
điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn
man nhưng hành động của ASử thản nhiên, lạnh lùng, dửng dưng, cho thấy
mối quan hệ giữa hắn và Mị không phải là quan hệ vợ chồng mà là quan hệ
giữa kẻ bóc lột và kẻ bị bóc lột. Còn người đàn ông trong đoạn trích thứ 2
vừa đánh vợ vừa rên rỉ đau đớn. Gã đánh vợ là vì muốn giải toả mọi uất ức,
khổ đau, bế tắc trong cuộc sống của một gia đình làng chài đông con,
nghèo khó. Gã vừa là thủ phạm mang lại đau khổ cho vợ nhưng cũng vừa
là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, bấp bênh. Đồng thời trong hai đoạn
trích ta còn thấy hai người phụ nữ cùng là nạn nhân của bạo lực gia đình và
cả hai đều không phản kháng khi bị đánh nhưng Mị không phản kháng vì
Mị dường như không biết mình bị trói. Mị đang sống trong quá khứ, trong
ảo giác, đang để tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi. Còn người đàn
GVTH: NINH VĂN DẬU – THPT ĐINH TIÊN HOÀNG – KRÔNG PA – GIA LAI
24
bà hàng chài không phản kháng vì bà ta hiểu chồng và muốn giúp chồng
giải toả những uất ức, khổ đau.
- Câu văn: Ở đoạn thứ nhất, những câu văn miêu tả hành động vũ phu của
A Sử phần nhiều là câu văn ngắn, chỉ thuần tuý miêu tả hành động nên qua
lời văn đó tác giả đã làm toát lên sự lạnh lùng, vô cảm của ASử. Còn trong
đoạn thứ hai chủ yếu là câu văn dài vừa miêu tả hành động vừa miêu tả thái
độ của gã chồng. Gã đánh vợ như để trút bỏ bi kịch của cuộc sống.
- Giá trị tư tưởng: Đoạn thứ nhất phản ánh chân thực số phận bi thảm của
người dân nghèo miền núi đặc biệt là người phụ nữ trước CMT8. Còn đoạn
thứ hai, ngoài việc miêu tả chân thực cuộc sống của những người dân hàng
chài, Nguyễn Minh Châu còn đặt ra vấn đề nhìn nhận con người: cần có
một cái nhìn toàn diện, đa chiều để thấy trong những cái đáng lên án vẫn có
những điều đáng cảm thông. Đằng sau hành động đánh vợ của gã đàn ông