Đánh giá các quy định trong bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực hành vi dân sự của cá nhân - Pdf 42

Trang
MỤC LỤC………………………………………………………………………1

BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BLDS
BLDS 2005
BLDS 1995
NLHVDS

Bộ luật dân sự
Bộ luật dân sự năm 2005
Bộ luật dân sự năm 1995
Năng lực hành vi dân sự

1


Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết, xã hội ngày càng tiến bộ và phát triển đòi hỏi các
quyền dân chủ cho cá nhân ngày càng lớn, điều đó cũng kéo theo các giao lưu dân
sự cũng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Đặc biệt là trong nền kinh tế phát triển
thì các quan hệ dân sự ngày càng phổ biến. Lê-Nin từng nói: “ Con người là tổng
hòa các mối quan hệ xã hội”. Để tồn tại,con người phải tham gia vào các quan hệ
xã hội,trong đó có quan hệ nhân thân và tài sản và để tham gia vào các quan quan
hệ dân sự thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi dân sự của mình.Vậy, khi nào
một cá nhân có đủ năng lực hành vi để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự?
Năng lực hành vi dân sự của năm 2005 có những quy định như thế nào? Vậy, để
tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “ Đánh giá các quy định trong
bộ luật dân sự năm 2005 về năng lực hành vi dân sự của cá nhân.” Để làm đề
tài cho bài tập lớn của mình lần này. Do kiến thức còn hạn chế nên bài viết của em
không tránh khỏi những thiếu xót. Em mong nhận được ý kiến đóng góp và đánh

quyền, nghĩa vụ dân sự”. Mặt khác năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng
lực chịu trách nhiệm của cá nhân khi cá nhân đó vi phạm nghĩa vụ dân sự trước
chủ thể mang quyền.
Đặc điểm:
• Năng lực hành vi dân sự của cá nhân do pháp luật quy định . Nhà
nước quy định dựa trên độ tuổi,khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của cá
nhân. Việc quy định năng lực hành vic ủa cá nhân dựa trên độ tuổi,khả năng nhận
thức và làm chủ hành vi như vậy là rất cần thiết,bởi quá trình hình thành nhân
cách phải trải qua một thời gia nhất định,chỉ khi đạt đến độ tuổi nhất định thì cá
nhân mới hoàn thiện,đủ khả năng kiểm soát hành vi của mình,chịu trách nhiệm
pháp lí hành vi do mình gây ra.
• NLHVDS cá nhân là không bình đẳng, các cá nhân khác nhau có
NLHVDS khác nhau. Nếu như năng lực pháp luật của cá nhân là bình đẳng thì
ngược lại NLHVDS của cá nhân là không như nhau. Bởi ai cũng có cuộc sống
riêng,sinh ra và lớn lên ở môi trường khác nhau. Vì vậy,trong cuộc sống,việc nhận
thức và làm chủ hành vi phụ thuộc vào ý chí và lý chí của họ,cho nên người thì có
đầy đủ năng lực hành vi,người thì không có hay người bị hạn chế NLHVDS.
• Năng lực hành vi dân sự không xuất hiện từ khi sinh ra mà chỉ có khi
cá nhân đạt độ tuổi nhất định. Không giống như năng lực pháp luật dân sự : “có từ
khi người đó sinh ra và cấm dứt khi người đó chết”. Một người khi sinh ra là đã có
năng lực pháp luật,pháp luật quy định cho họ có quyền khai sinh,quyền đối với
họ,tên,quyền có quốc tịch..Nhưng lúc sinh ra, năng lực hành vi chưa được hình
thành mà phải khi đạt đến một độ tuổi nhất định mới có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ. Như vậy,người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người có năng lực hành vi
nếu như họ không bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự.
1.2 Mối quan hệ giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân:
- Giữa năng lực pháp luật và năng lực hành vi có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Những chủ thể có năng lực pháp luật mà không có năng lực hành vi thì không trực
tiếp trở thành chủ thể trong giao dịch dân sự,tức là không thể trực tiếp trở thành
3

định cụ thể.
2.2 Pháp luật thời Pháp thuộc và những quy định về năng lực hành vi dân sự của
cá nhân( từ 1858 đến 1954)
Gần 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ,Việt Nam chịu sự chi phối của ba Bộ
luật dân sự mà chính quyền thực dân lần lượt ban hành. Và đặc biệt là ở cả ba Bộ
luật này cũng chưa có một quy định cụ thể nào nói rõ về năng lực hành vi dân sự
của cá nhân nhưng trong môt số chế định,nó cũng thể hiện khá rõ nét.Chẳng hạn
như trong chế định về khế ước,“về nguyên tắc bất cứ người nào không bị pháp
4


luật tuyên bố là vô tư cách đều có thể giao ước được”. 1 Pháp luật cũng quy định
người vô tư cách gồm: “người vị thành niên,người bị cấm quyền,đàn bà có chồng
và một số người khác bị pháp luậy cấm,người vị thành niên là người chưa đủ 21
tuổi tròn”2 Ngoài ra ở chế định Hôn nhân và gia đình,chế định về thừa kế cũng có
đề cập về năng lực hành vi dân sự của cá nhân.
Pháp luật thời kì này tuy chưa có những quy định rõ về năng lực hành vi
dân sự của cá nhân nhưng so với thời kì phong kiến thì có sự cụ thể hơn.
2.3 Pháp luật và những quy định về NLHVDS của cá nhân từ 1955 đến 1995.
Bộ luật dân sự 2005 là sự kế thừa và hoàn thiện pháp luật của đất nước
trong điều kiện mới của đất nước. Đây là bộ luật mang tính pháp điển hóa cao,tập
hợp hầu hết các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực dân sự,định ra các chuẩn
mực pháp lí về cách xử xự của các chủ thể bao gồm cá nhân,pháp nhân và các chủ
thể khác khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự. Đặc biệt,bộ luật đã dành
riêng một phần để quy định về NLHVDS của cá nhân (điều 19 đến điều 25).
3. Ý nghĩa của việc quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Thứ nhất: Bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia quan hệ
pháp luật dân sự. Với các quy định trong Bộ lật dân sự hiện hành sẽ là công cụ để
bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân. Đảm bảo trật tự,công nằng xã hội cho các
chủ thể.

nhân đó. Thông thường,khi phát triển tới độ tuổi nhất định,con người sẽ có sự phát
triển toàn diện về thể chất và tinh thần, đủ để có thể nhận thức và điều khiển hành
vi của mình.
Tuy nhiên có những trường hợp đặc biệt,dù đã đến tuổi trưởng thành nhưng
nhận thức của họ không phát triển,trí não của họ không bình thường như người
khác. Nghĩa là cá nhân đó không nằm trong ba tiêu chí nêu trên cho nên Bộ luật
dân sự có quy định nếu cá nhân bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không làm
chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan.
Tòa án sẽ tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự với người đó. Hay nếu họ nghiện
ma túy hoặc chất kích thích khác thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên
quan của cá nhân,tổ chức khác, Tòa án sẽ tuyên bố hạn chế năng lực hành vi đối
với họ.
Việc xác định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân có vai trò rất
quan trọng. Ở mỗi mức độ, cá nhân sẽ có quyền tham gia giao dịch dân sự ở các
mức tương ứng.
2. Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Điều 17 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ
dân sự. Năng lực hành vi dân sự được Bộ luật dân sự quy định cụ thể như sau:
*Năng lực hành vi dân sự đầy đủ:
Điều 19 BLDS có quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người
thành niên”. Vậy người thành niên là những người có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ,vcó thể tham gia vào các quan hệ dân sự với tư cách chủ thể độc lập. Như điều
19 quy định: “Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,trừ trường hợp
quy định tại điều 22 và 23 cuả bộ luật này”. Qua đó ta có thể thấy không phải tất
cả những ai đã là thành niên sẽ có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Có người đã là
thành niên nhưng không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đó là trường hợp bị
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự(điều 22) và hạn chế năng lực hành vi dân sự
(điều 23) của Bộ luật dân sự.
6

chỉ cho họ một giới hạn nhất định và họ chỉ đưoực thực hiện,xác lập quyền, nghiã
vụ trong giai đoạn ấy, những giao dịch được coi là trong giới hạn hành vi mà
người đại diện cho phép thực hiện mà không cần trực tiếp hỏi ý kiến của người đại
diện.
Những người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có thể tự mình
xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có và không cần
sự đồng ý của người đại diện. Sơ dĩ người đủ mười lăm tuổi trở lên được quyền
xác lập, định đoạt quyền, nghĩa vụ dân sự liên quan đến tài sản của minh bởi theo
7


quy định của pháp luật lao động ,họ là chủ thể của một số hoạt động lao động
được phép cụ thể họ có tài sản và thu nhập riêng,được sử dụng,chi tiêu vì lợi ích
của mình. Chẳng hạn như A mới chỉ có mười sáu tuổi nhưng có tài sản riêng là
15.000.000 đồng( do được hưởng thừa kế từ ông nội) A dung số tiền này mua một
chiếc xe đạp điện để phục vụ cho việc đi lại thuận tiện. Mặc dù chưa đủ mười tám
tuổi nhưng giao dịch này của A vấn không bị tuyên bố là vô hiệu vì không có sự
đồng ý của người đại diện,bởi đó là tài sản riêng của A,A được sử dụng tài sản đó
theo quy định tại khoản 2 nêu trên.
* Người không có năng lực hành vi dân sự.
Cá nhân không có năng lực hành vi dân sự theo BLDS được quy định tại
điều 21: “Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Giao dịch
dân sự của nguời chưa đủ sáu tuôỉ phải do đại diện theo pháp luật xác lập,thực
hiện”. Ở độ tuổi này,trẻ chỉ hành động theo bản năng,theo phản xạ chứ không phải
theo ý chí và lí trí. Do vậy,ở tuổi này,trẻ chỉ có năng lực pháp luật chứ chưa có
năng lực hành vi.
Người chưa đủ sáu tuổi là người chưa có khả năng nhận thức hành vi và hậu
quả hành vi do mình gây ra nhưng khi đạt đến độ tuổi nhất định,năng lực hành vi
sẽ được hình thành. Điều 21 BLDS có tên “người không có năng lực hành vi dân
sự” là chưa chính xác bởi vì người dưới sáu tuổi mắc bệnh tâm thần hoặc các

quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự”. Ví dụ như
anh A do gặp phải một cú sốc lớn nên đã bị mắc bệnh tâm thần,gia đình anh đã
yêu cầu Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi đối với anh A. Nhưng sau một thời
gian điều trị,anh A đã dần phục hồi và sức khỏe trở lại bình thường.Anh A và
những người có lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên
bố mất năng lực hành vi dân sự đối với anh A.
b) Hạn chế năng lực hành vi dân sự
Trường hợp hạn chế NLHVDS được quy định tại điều 23 của BLDS:
“ Người nghiện ma túy,nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài
sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan,cơ quan tổi
chức,Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự.
Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
và phạm vi đại diện do Tòa án quyết định. Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản
của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại
diện theo pháp luật.
Khi không có căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì theo yêu cầu của người có quyền,lợi ích liên quan,cơ qun,tổ chứ hữu
quan,Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi
dân sự.”
Năng lực hành vi trong trường hợp này hoàn toàn khác so với trường hợp
người có năng lực hành vi một phần. Ngươi có năng lực hành vi một phần là do họ
chưa đạt đến tuổi mà pháp luật quy định là có đầy đủ năng lực hành vi. Còn người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải tuân theo trình tự do pháp luật quy
định và áp dụng đối với người “nghiện ma túy,nghiện các chất kich thích khác dẫn
đến phá tán tài sản của gia đình”.
9


Lần đầu tiên vấn đề hạn chế năng lực hành vi dân sự được đề cập trong

* Năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong việc lập di chúc:
Lập di chúc là một trong những hình thức định đoạt quyền sở hữu tài sản
của cá nhâ,vì thế người lập di chúc phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ. Khoản 1 điều 647 BLDS có quy định: “Người đã thành niên có quyền lập di
chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể
10


nhận thức và làm chủ hành vi của mình”. Như vậy, chỉ những người có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ mới có quyền lập di chúc, còn những người mắc bệnh tâm
thần hoặc những bệnh khác không làm chủ được hành vi thì không được lập di
chúc. Quy định như vây là hoàn toàn hợp lí bơỉ những người mất năng lực hành vi
dân sự rõ ràng không thể thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mình trong giao
dịch. Với những người có NLHVDS một phần,pháp luật cũng có trương hợp
ngoại lệ quy định tại khoản 2 điều 647: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ
18 tuổi có thể lập di chúc,nếu được cha,mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”.Như
vậy,những người này tuy họ chỉ mới có năng lực hành vi dân sự một phần nhưng
họ cũng đã có sự nhận thức nhất định và pháp luật cũng phải thừa nhận quyền
được định đoạt tài sản của họ. Theo quy định của BLDS thì cá nhân có năng lực
hành vi dân sự một phần chỉ được lập di chúc bằng văn bản chứ không công nhận
hình thức di chúc miệng. Như vậy, sự đồng ý của cha mẹ, hoặc người giám hộ đối
với việc lập di chúc là rất cần thiết bởi vì bản di chúc của người chưa thành niên
chỉ có giá trị pháp lí khi có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Nếu cha
mẹ còn sống thì phải có sự đồng ý của cha mẹ,nếu chỉ còn lại một người thì phải
có sự đồng ý của người đó.
* Năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong hứa thưởng, có giải.
Hứa thưởng, có giải là hành vi pháp lí đơn phương có nhiều chủ thể cùng
tham gia vào một bên giao dịch. Trong nhiều trường hợp,hành vi pháp lí đơn
phương chỉ phát sinh hậu quả khi có những người khác đáp ứng những điều kiện
nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra và những người tham gia phải đáp

vi dân sự nhưng không thể bằng hành vi của mình mà có thể tự mình xác lập,thực
hện quyền và nghĩa vụ của họ vì họ là những người không có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ.
3. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân có yếu tố nước ngoài
NLHVDS của người nước ngoài đươc xác định theo pháp luật của nước mà
nguời đó là công dân,trừ trường hợp pháp luật của Viêt Nam có quy định khác.
Theo quy định của tại Điều 7 Nghị định số 60/CP ngày 6/6/1997 thì trong
trường hợp người nước ngoài xác lập,thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam,thì
năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo quy định tại các
điều từ 19 đến điều 25 của BLDS Việt Nam.
NLHVDS của người không quốc tịch được xác định theo pháp luật của
nước nơi người đó cư trú,nếu không có nơi thường trú thì xác định theo pháp luật
Việt Nam. NLHVDS của người nước ngoài có từ hai quốc tịch nước ngoài trở lên
được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và thường trú tại
thời điểm phát sinh quan hệ dân sự. Còn nếu người đó không cư trú tại một trong
các nước mà người đó có quốc tịch thì xác định theo pháp luật của nước mà người
đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất về mặt nhân thân hoặc tài sản.
III. Áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam năm 2005 về năng lực
hành vi dân sự của cá nhân
1.Thực trạng pháp luật và áp dụng luật trong thực tiễn
a) Thực trạng pháp luật:
Trong nhiều năm thực hiện và áp dụng BLDS năm 2005,chúng ta cũng đã
thấy được những ưu điểm đáng kể của pháp luật thế nhưng thực tiễn áp dụng pháp
12


luật cho thấy một số quy định của pháp luật về năng lực hành vi dân sự của cá
nhân vẫn còn nhiều điểm bất hợp lí. Cụ thể như sau:
Thứ nhất,quy định năng lực hành vi dân sự của người chưa đủ sáu tuổi thì
Điều 21 BLDS có quy định: Người chưa đủ sáu tuổi không có NLHVDS. Giao

hai dẫn đến liệt nửa người,lẩn thẩn,không minh mẫn. Ngày 7/9/2009 bà Nụ lại tái
phát bệnh tai biến lần thứ ba,điều trị một thời gian bệnh viện trả về.Thời điểm đó
13


hoàn toàn không nhận thức được cũng như điều khiển hành vi của mình. Tất cả
sinh hoạt đều do các con chăm sóc,bản than bà Mai cũng không biết ăn biết
uống,hỏi không nói,không trả lời được. Tại thời điểm hiện nay,bà Mai cũng không
nhận thức hay điều khiển hành vi của bản than.
Tại kết luận giám định pháp y ngày 14/7/2011 của trung tâm pháp y Hải
Phòng kết luận: Bà Bùi Thị Mai đã bị tai biến mạch máu não do tăng huyết áp
nhiều lần,kèm theo có teo não người già,bệnh tiến triển ngày càng nặng lên.
Ngày 01/11/2011bà Phương có đơn rút một phần yêu cầu,đề nghi Tòa án
nhân dân huyện An Dương quyết định tuyên bố bà Mai bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự từ tháng 3/2008 đồng thời xác định người đại diện theo pháp luật cho bà
Mai.
Sau khi diễn ra vụ việc trên đã có nhiều các quan điểm khác nhau:
- Quan điểm thứ nhất: theo quy định tại khoản 1 Điều 22, khoản 1 Điều 23
BLDS và khoản 1 Điều 319 Bộ luật tố tụng dân sự thì người có quyền,lợi
ích liên quan,cơ quan tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Điều
23 BLDS không quy định việc hạn chế năng lực hành vi của người bị bệnh
não nhưng nếu có kết luận giám định của cơ quan chuyên môn về việc
người đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì kết luận giám định của cơ
quan chuyên môn là căn cứ để Tòa án tuyên bố một người bị mất năng lực
hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Quan điểm thứ hai: Việc bà Mai bị tai biến máu não đã có kết luận của cơ
quan chuyên môn vào tháng 3/2008 đến 20/6/2011 là hạn chế năng lực hành
vi dân sự và từ 20/06/2011 trở đi bà Mai mất hoàn toàn khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi. Theo quy định tại Điều 22 thì trường hợp này đủ căn

hàh vi dân sự của cá nhân và tạo tiền đề cho các hoạt động áp dụng pháp luật được
tiến hành một cách dễ dàng,thuận tiện,đạt hiệu quả.
- Hai là : nâng cao hiệu quả công tác xét xử các vụ án dân sự liên quan tới năng
lực hành vi dân sự của cá nhân
- Ba là : cần nâng cao công tác tuyên truyền,phổ biến pháp luật trong quần chúng
nhân dân,giúp họ nhận thức được và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình,của các tổ chức,của nhà nước nhằm chống lại hành vi xâm phạm tới quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.
- Bốn là : BLDS cần quy định thêm về trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với người mất năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện.
- Năm là : giải pháp áp dụng pháp luật. Bên cạnh việc thực hiện các quy định của
pháp luật thì một giải pháp không thể thiếu là nâng cao trình độ chuyên môn,kĩ
năng hành nghề của đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử. Việc áp dụng đúng hay
sai phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ này.Từ đó các quy định của BLDS nói
riêng,quy định của pháp luật nói chung có thể đi vào thực tiễn,đảm bảo được công
bằng xã hội.

15


KẾT LUẬN
Qua bài làm trên, chúng ta thấy rằng : việc hoàn thiện các chế định pháp
luật ngày càng trở thành một yêu cầu khách quan trong xã hội ngày nay. Đặc biệt
về vấn đề năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong các quan hệ pháp luật dân sự
luôn là vấn đề nhận được rất nhiều sự quan tâm. Việc quy định đầy đủ về năng lực
hành vi của cá nhân trong pháp luật hiện hành góp phần đưa xã hội ngày càng tiến
bộ và trình độ dân trí ngày càng đi lên.

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status