ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH VỀ NĂNG LỰC CHỦ THỂ CỦA CÁ NHÂN, QUYỀN NHÂN THÂN, VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN TRONG QUY ĐỊNH CỦA DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ DƯỚI LĂNG KÍNH GIỚI VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN - Pdf 35

Hội thảo “Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)
(Tp. Huế, ngày 18 tháng 8 năm 2015)

ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH VỀ NĂNG LỰC CHỦ THỂ CỦA CÁ NHÂN, QUYỀN
NHÂN THÂN, VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN TRONG QUY ĐỊNH
CỦA DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)
DƯỚI LĂNG KÍNH GIỚI VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
ThS. Lê Thị Hoàng Thanh
Phó trưởng Ban NCPL Dân sự Kinh tế
Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
1. Định hướng, mục tiêu, yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Dự thảo BLDS
(sửa đổi) từ góc độ giới
1.1. Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) được xây dựng với định hướng cơ bản và
quan trọng là thể chế hóa đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công nhận,
tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh
vực của đời sống dân sự, trong đó có vấn đề giới và bình đẳng giới, cũng như những tư
tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa về
quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các chủ thể dưới góc độ
giới thuộc mọi hình thức sở hữu và thành phần kinh tế đã được ghi nhận trong Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách Tư
pháp đến năm 2020 và đặc biệt Hiến pháp năm 2013.
1.2. Mục tiêu của việc hoàn thiện các quy định của BLDS năm 2005 gồm:
Thứ nhất, tạo cơ hội để mọi cá nhân không chỉ được hưởng năng lực pháp lý (khả
năng được bình đẳng trên lý thuyết về mặt pháp lý) mà còn tạo điều kiện để họ được
tiếp cận, bảo vệ các quyền dân sự của mình, từ đó, bảo đảm được sự bình đẳng giới
thực chất trong các quan hệ dân sự;
Thứ hai, tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
quyền dân sự của các cá nhân, trong đó có bình đẳng giới, đặc biệt là trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên thiện chí, bên ngay tình trong quan hệ dân sự;

để đạt được điều này thường BLDS chỉ quy định những vấn đề cơ bản, có tính phổ
biến, ổn định trong đời sống xã hội và được các nhà nghiên cứu, lập pháp cân nhắc kỹ
lưỡng. Như vậy, đặt hai yêu cầu này cạnh nhau có thể thấy rằng đây thực sự là bài toán
khó với các nhà lập pháp. Tác giả bài viết này cho rằng, chúng ta phải biết lựa chọn
vấn đề và xác định mức độ, phạm vi điều chỉnh của BLDS mới đảm bảo được hai yêu
cầu nói trên. Vậy ở góc độ bình đẳng giới, chúng ta cần phải trả lời được câu hỏi
BLDS cần quy định ở mức độ nào về quyền nhân thân để vừa đảm bảo tính bao quát,
vừa đảm bảo tính ổn định và cả nguyên tắc bình đẳng giới?
(2) Yêu cầu về bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật
và bảo đảm công bằng trong quan hệ xã hội, bảo vệ người yếu thế.
Hiến pháp, BLDS và các văn bản pháp luật có liên quan đều ghi nhận nguyên tắc
bình đẳng, theo đó, trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do
khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế... để đối xử không
bình đẳng với nhau. Việc vi phạm nguyên tắc này sẽ là một trong những căn cứ vô
hiệu của giao dịch và đối tượng vi phạm phải chịu chế tài tương ứng. Bên cạnh đó, ở
một góc độ khác, vơi vai trò đảm bảo trật tự và công bằng chung của xã hội, trong một
chừng mực nào đó, chúng ta có thể thấy pháp luật có những quy định ưu tiên với
người yếu thế hoặc có những biện pháp bảo vệ người yếu thế trong quan hệ pháp luật,
chẳng hạn các quy định về ghi nhận quyền xác định lại giới tính của người có khuyết
tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác; quy định bảo vệ người tiêu dùng; quy
định về hợp đồng mẫu, điều khoản giao dịch chung; quy định về giới hạn lãi suất trong
hợp đồng vay,...
Ở góc độ bình đẳng giới, mặc dù Hiến pháp và BLDS đều đã ghi nhận nguyên
tắc bình đẳng nhưng thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, nhiều quan hệ xã hội thuộc
đối tượng điều chỉnh của BLDS, như giám hộ, đại diện, giao dịch dân sự, sở hữu, thừa
kế… thường chịu tác động rất lớn bởi truyền thống văn hóa, đạo đức, phong tục, tập
quán đây là những yếu tố vốn có sự xung đột cao với yêu cầu về giới và bình đẳng
giới. Bên cạnh những truyền thống tốt đẹp, Việt Nam cũng còn là nước chịu ảnh
hưởng nặng nề của tư tưởng nho giáo, quan niệm trọng nam khinh nữ, vai trò của
người phụ nữ trong tham gia quan hệ dân sự thường không được đề cao đã tồn tại có

quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài (Điều 32 khoản1); quy định về việc xác định
người giám hộ theo hướng bảo đảm những lợi ích tốt nhất cho mình trong trường hợp
được giám hộ (Điều 63); quy định cụ thể mối liên hệ giữa quyền của người đại diện
với lợi ích của người được giám hộ và quyền, lợi ích của người thứ ba trong trường
hợp người được giám hộ tự xác lập giao dịch (Điều 141);...
Bên cạnh những điểm sửa đổi tích cực nói trên, có một số vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu, cân nhắc như sau:
2.1. Quy định về quyền nhân thân của cá nhân chưa hợp lý và có nhiều điểm
cần hoàn thiện
Quyền nhân thân được Dự thảo quy định tại mục 2 Chương III gồm có 21 điều (từ
Điều 30 đến Điều 51) ) với tư tưởng chính là kế thừa các quy định của BLDS năm
2005 và cụ thể hóa các quyền nhân thân được quy định trong Hiến pháp, điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy, vấn đề quyền
nhân thân được quan tâm nghiên cứu và ghi nhận trong hệ thống pháp luật các nước
trong khoảng thời gian gần đây (khoảng gần 100 năm nay), đây là nhóm quyền rất
rộng nhưng chưa có được bề dày nghiên cứu về lý luận như các vấn đề khác của pháp
luật dân sự như vấn đề quyền tài sản, …Bởi vậy, không có mô hình thống nhất trong
việc quy định về quyền nhân thân trong bộ luật dân sự của các nước2, việc có quy định
hay không quy định về quyền nhân thân trong BLDS, quy định nhiều hay một số quyền
nhân thân phụ thuộc vào cách tiếp cận và lựa chọn của mỗi nước. Vấn đề khó ở đây là
2

BLD Nhật Bản không có mục riêng về quyền nhân thân mà hầu hết các quyền cụ thể được quy định trong văn
bản pháp luật chuyên ngành. Tại Nhật Bản, quyền nhân thân hầu hết được ghi nhận trong luật công như luật
quốc tịch, luật hộ tịch - Nhật không coi là tư quyền do đây là vấn đề nhà nước quản lý, thuộc vấn đề điều chỉnh
của luật công.
BLD Pháp quy định khá cụ thể về quyền nhân thân, thậm chí cả trình tự thủ tục hành chính, hộ tịch để xác lập,
bảo đảm thực hiện quyền nhân thân.
BLD Đức có một ít quyền nhân thân được ghi nhận trong BLD
Luật về các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự Trung Quốc có khá nhiều điều khoản về quyền nhân thân.

Bởi vậy, cần phải cân nhắc kỹ, trong trường hợp BLDS không thể quy định cụ thể các
nguyên tắc hiến định về quyền nhân thân thì không nên nhắc lại quy định Hiến pháp
năm 2013 vì các quy định này sẽ làm "chệch hướng" phạm vi điều chỉnh và chức năng
chính của BLDS.
Thứ ba, một số quyền được quy định trong phần quyền nhân thân của cá nhân là
không thích hợp: quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 43), quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo (Điều 44), Quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 45), quyền lao động
(Điều 46), quyền tự do kinh doanh (Điều 47), quyền tiếp cận thông tin (Điều 48)5,
quyền lập hội (Điều 49)6, quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo (Điều 50) không nên quy
định trong BLDS. Đây là các quyền con người hoặc quyền công dân liên quan tới
nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, văn hóa, tín ngưỡng, sự liên quan tới lĩnh vực
dân sự không thực sự nổi trội Hơn nữa, quy định trong dự thảo về các quyền này cũng
3

chẳng hạn như các quy định: “cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay
đổi họ tên… ” (khoản 1 Điều 27); “người đã thành niên, cha đ , mẹ đ hoặc người giám hộ của người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc...” (khoản 3 Điều 33); ”việc khai sinh, khai tử do pháp luật
về hộ tịch quy định” (khoản 4 Điều 34);...
4
Chẳng hạn như: “...tính mạng con người được pháp luật bảo hộ” (khoản 1 Điều 37); “Danh dự, nhân phẩm, uy
tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” (Điều 38); “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân là bất khả
xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, bảo đảm an toàn” (khoản 1 Điều 41); “Quyền kết hôn, ly hôn và các quyền
nhân thân khác của cá nhân trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia
đình được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm” (Điều 42);
5
Về quyền tiếp cận thông tin, ở góc độ là quyền được nhà nước cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật hay
hoạt động của bộ máy nhà nước,… trong một phạm vi nhất định thường được coi là phạm trù luật công; còn ở
góc độ quyền được đối tác, cá nhân, tổ chức khác thông tin về bản thân có thể được coi là quyền nhân thân
6

chỉ can thiệp và bảo vệ khi có yêu cầu. Đối với nhóm bảo vệ không phụ thuộc vào yêu
cầu thì Nhà nước sẽ chủ động can thiệp vào chống lại hành vi xâm phạm ngay cả khi
không có yêu cầu.
hứ tám về quyền đối với dân tộc (Điều 33)
Thực tế cho thấy, đã xuất hiện một số cộng đồng người dân tộc không có tên
hoặc tên gọi không thống nhất với tên gọi trong Danh mục 54 dân tộc Việt Nam, dẫn
đến không có cơ sở để ghi dân tộc trong giấy khai sinh của tr em, đề nghị Điều 33 cần
có quy định nguyên tắc xác định dân tộc trong trường hợp này.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 33 dẫn chiếu áp dụng pháp luật về hộ tịch, con nuôi
về xác định dân tộc của cá nhân bị bỏ rơi, tuy nhiên, pháp luật hộ tịch hiện hành lại
7

Quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn gồm: Quyền đối với họ, tên Quyền của cá nhân đối với hình ảnh,
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, Quyền của cá nhân đối với hình ảnh, Quyền được bảo đảm an
toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân.
Quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn gồm: Quyền thay đổi họ, tên, Quyền xác định dân tộc, Quyền được
khai sinh, khai tử, Quyền đối với quốc tịch, Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe,
thân thể, Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến xác, Quyền xác định lại giới tính, Quyền nhân thân trong
hôn nhân và gia đình, Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Quyền tự do đi lại và cư trú, Quyền lao động, Quyền tự do kinh doanh, Quyền
tiếp cận thông tin, Quyền lập hội, Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo
8
Như trường hợp có người tổn hại đến họ tên, hình ảnh, danh dự, uy tín, bí mật đời tư của một người đã khuất
thì những người thân thích của người đó có quyền yêu cầu chấm dứt hành vi xâm hại và bồi thường thiệt hại.
9
Nhóm được bảo vệ không phụ thuộc vào yêu cầu bao gồm: Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính
mạng, sức khỏe, thân thể, Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, Quyền nhân thân trong hôn nhân và
gia đình.

5

tin trên phương tiện truyền thông công cộng, nhưng nhiều lĩnh vực khác chưa có quy
định, chẳng hạn như việc sử dụng hình ảnh làm chứng cứ trong hoạt động tố tụng hay
trong hoạt động giáo dục giảng dạy, hoạt động nghệ thuật nhiếp ảnh; sử dụng hình ảnh
trên mạng thông tin điện tử của những cá nhân có trang thông tin riêng… nếu bắt buộc
mọi hình ảnh (của cá nhân lẫn trong hình ảnh tập thể) đều phải có sự đồng ý của người
có mặt trong hình ảnh đó rồi mới được sử dụng là điều không khả thi.
Do vậy, đề nghị khoản 2 của Điều 36 Dự thảo nên được sửa đổi lại như sau:
“2. Mọi trường hợp sử dụng hình ảnh của người khác nhằm mục đích thu lợi
nhuận phải được người đ đồng ý và trả tiền thù lao .
3. Trong trường hợp vì lợi ích công cộng, vì sự nghiệp nghệ thuật, tổ chức, cá
nhân có quyền sử dụng hình ảnh của người hác, nhưng phải trả tiền thù lao cho
người đ nếu có thu lợi nhuận, tỷ lệ trả thù lao do các bên thỏa thuận.

10

“Điều 36. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
..2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đ đồng ý; trường hợp người đ đã chết, mất năng lực
hành vi dân sự, c h hăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha,
mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đ i diện của người đ đồng ý, trừ trường hợp luật c quy định
khác”.

6


4. Không được đưa hình ảnh khuyết tật của người hác lên các phương tiện
thông tin nếu hông được người đ đồng ý; sử dụng hình ảnh của người khác nhằm
xâm ph m danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đ ”.
Quy định theo hướng như trên sẽ vừa bảo đảm quyền lợi vật chất cho người có
hình ảnh, vừa tạo điều kiện cho các chủ thể khác sử dụng hình ảnh của người khác một
cách thuận lợi mà không vi phạm đến quyền về hình ảnh của cá nhân người khác.

Bên cạnh đó, cần cân nhắc quy định của khoản 2 Điều 40 về việc “Người đ i
diện theo pháp luật chỉ có quyền yêu cầu xác định l i giới tính của người chưa thành
niên...” vì việc tiến hành phẫu thuật xác định giới tính không nên áp dụng cho đối
tượng dưới 18 tuổi (chưa thành niên). Hãy để cho người đó tự quyết định về giới tính,
về bản thân con người mình. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp người liên giới tính từ
bé được bố mẹ đưa đi phẫu thuật xác định giới tính nhưng sau khi lớn lên họ không hài
lòng với giới tính được xác định nên đã đi phẫu thuật lại. Đây cũng là khuyến cáo của
nhiều tổ chức quốc tế về người liên giới tính, theo đó việc phẫu thuật đối với người
liên giới tính chỉ nên được thực hiện khi người đó đã trưởng thành, được cung cấp đầy
đủ các thông tin có liên quan để đưa ra một quyết định cho bản thân .

7


Ngoài ra, tại các khoản 1, 2 và 3 có sử dụng các cụm từ “trong trường hợp luật
quy định”, “trong các trường hợp luật quy định”, “theo quy định của luật” . Tác giả
bài viết cho rằng, cần nên cân nhắc lại thay từ ”luật” thành từ ”pháp luật” bởi vì thông
thường các vấn đề này sẽ được hướng dẫn cụ thể bởi Nghị định của Chính phủ hoặc
thấp hơn là Thông tư của Bộ Y tế. Sẽ không khả thi khi có một đạo luật nào đó hướng
dẫn cụ thể quy định về xác định lại giới tính, chuyển đổi giới tính của Bộ luật Dân sự.
 Về quyền được bảo đảm an toàn về đời sốn ri n tư bí m t cá nhân (Điều
41)
Pháp luật hiện hành cũng như Dự thảo BLDS chỉ đề cập đến một số vấn đề như
bí mật đời tư, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật thư tín… (Điều 41 của Dự
thảo). Tác giả bài viết đề nghị BLDS nên mạnh dạn đổi mới theo hướng quy định Điều
41 thành Quyền riêng tư. Điều này xuất phát từ các lý do sau đây:
- Trong bối cảnh hiện nay, việc ghi nhận bằng cách liệt kê như quy định của Dự
thảo BLDS đã không còn phù hợp và chưa theo kịp với thực tiễn của đời sống xã hội.
Trên thế giới đã ghi nhận một quyền chung là Quyền riêng tư. Về mặt khái niệm, có
thể hiểu Quyền riêng tư là quyền của các cá nhân được phép giữ kín những thông tin,


8


- Sự riêng tư về nơi cư trú: liên quan đến việc ban hành các giới hạn đối với sự
xâm nhập vào môi trường sống của cá nhân, nơi làm việc hoặc không gian công cộng.
Điều này bao gồm tìm kiếm thông tin, theo dõi bằng video và kiểm tra giấy tờ tùy
thân.
- Các trường hợp tiếp cận, thu giữ, kiểm soát thông tin về sự riêng tư cá nhân của
cơ quan Nhà nước.
2.2. Việc xử lý các quy định về chủ thể hộ ia đình chưa thực sự hợp lý
Cho đến nay, vẫn còn những quan điểm khác nhau về việc có nên tiếp tục duy trì
chủ thể hộ gia đình trong BLDS nữa hay không. Từ những nghiên cứu về quy định của
BLDS năm 2005, các văn bản pháp luật có liên quan, tác giả bài viết ủng hộ quan điểm
không nên tiếp tục coi hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự vì những lý
do sau:
hứ nhất, về nguyên lý chung, pháp luật điều chỉnh những hiện tượng có tính
phổ biến trong đời sống xã hội, tuy nhiên, hộ gia đình không phải là chủ thể phổ biến
trong quan hệ pháp luật dân sự thông thường11.
hứ hai, thực tiễn thi hành quy định của BLDS năm 2005 về hộ gia đình cho
thấy, mô hình hộ gia đình mà nhà làm luật phác thảo, xây dựng trong BLDS năm 2005
chưa phù hợp với lý luận về chủ thể quan hệ pháp luật và khác biệt với thực tế, thể
hiện ở những điểm sau:
- Về lý thuyết, quy định của BLDS năm 2005 về hộ gia đình được đánh giá là
không đảm bảo được nguyên lý về chế độ chịu trách nhiệm về tài sản: về hình thức, hộ
gia đình mang dấu hiệu ban đầu của pháp nhân (tổ chức được hình thành từ nhiều thể
nhân khác nhau) nhưng thực chất nó lại không mang dấu hiệu cơ bản của pháp nhân về
xác định chính xác thành viên, về tài sản chung, sự tách biệt giữa tài sản chung với tài
sản riêng của các thành viên, hộ gia đình không chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm
vi tài sản của mình mà các nghĩa vụ của nó được bảo đảm vô hạn bằng tài sản riêng

thực hiện giao dịch "vì lợi ích chung của hộ”, xác định thành viên của hộ gia đình, về
hình thức thể hiện sự đồng ý của thành viên hộ gia đình trong giao dịch dân sự. ..
hứ ba, trong trường hợp BLDS sửa đổi theo hướng không quy định về hộ gia
đình là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự nữa thì các quy định khác của pháp luật dân
sự về cá nhân, tài sản chung, tài sản riêng hoàn toàn có thể áp dụng để điều chỉnh được
các vấn đề liên quan đến hộ gia đình, bởi vậy, không cần thiết kế các quy định về tư
cách chủ thể quan hệ dân sự của hộ gia đình. Trong những quan hệ pháp luật liên quan
đến hộ gia đình cần coi đây là nhóm thể nhân để xác định quyền, nghĩa vụ pháp lý.
Vấn đề quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình có thể giải quyết được bằng cách rà
soát lại các trường hợp hộ gia đình đang sử dụng đất trên thực tế để xác định và ghi
nhận các chủ thể có quyền đối với mảnh đất đó.
Để giải quyết những vướng mắc bất cập trong các quy định của BLDS năm 2005
về chủ thể hộ gia đình, tổ hợp tác, Dự thảo đã có bước xử lý về sự tham gia của hộ gia
đình, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự
tại các Điều 119, Điều 120, Điều 121, khoản 2 Điều 153, Điều 239. Tuy nhiên, ở góc
độ bình đẳng giới, các điều khoản này còn có một số điểm cần hoàn chỉnh như sau:
hứ nhất Điều 121 của Dự thảo về trách nhiệm dân sự liên đới của thành viên
hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân13 cần được sửa đổi
theo hướng xác định trách nhiệm dân sự trước hết thuộc về người trực tiếp tham gia
giao dịch, trách nhiệm liên đới của các thành viên chỉ đặt ra khi các thành viên có thỏa
thuận về việc cùng chịu trách nhiệm chung. Bởi vì, đối với hộ gia đình, đến nay chưa
có một tiêu chí thống nhất cho việc xác định thành viên hộ gia đình trong quan hệ pháp
luật dân sự14; bên cạnh đó, việc xác định một cá nhân tham gia giao dịch vì lợi ích
chung hay riêng, tham gia với tư cách đại diện cho hộ hay cho chính bản thân mình
còn rất mơ hồ dẫn đến việc quy trách nhiệm dân sự liên đới của các thành viên hộ gia
đình là không hợp lý (chẳng hạn người chồng giao kết hợp đồng không có sự bàn bạc
nhưng lại tuyên bố rằng đó là giao dịch vì lợi ích gia đình và yêu cầu người vợ cùng
chịu trách nhiệm là không hề hợp lý).
hứ hai khoản 2 Điều 153 về đại diện theo ủy quyền nên sửa “thành viên hộ gia
đình...” thành “Hộ gia đình...” vì thành viên hộ gia đình không thể có quyền cử cá

có đầy đủ năng lực có những hỗ trợ về mặt pháp lý để có thể tham gia vào các quan hệ
dân sự và chăm sóc, bảo vệ cần thiết do đã rơi vào những tình trạng đặc biệt. Đứng ở
góc độ pháp lý, pháp luật vừa phải đảm bảo yêu cầu tạo cơ chế dễ dàng và thuận tiện
để người rơi vào hoàn cảnh cần được giám hộ được chăm sóc, bảo vệ nhưng vừa phải
thận trọng để đảm bảo việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi là chính xác và
việc cử người giám hộ, người giám sát giám hộ là bảo đảm lợi ích cho họ. Do đó, khi
quy định về chế định này, các nhà làm luật cần có sự để xây dựng các quy định cho
phù hợp.
Ở góc độ bình đẳng giới, Dự thảo BLDS (sửa đổi) đã có những quy định quan
trọng trong việc khắc phục những bất cập của chế định giám hộ tại BLDS năm 2005,
chẳng hạn Điều 64 của Dự thảo đã quy định nguyên tắc việc cử người giám hộ dựa
trên cơ sở xác định người có thể bảo đảm tốt nhât quyền lợi cho người được giám hộ 16,
quy định về quyền, nghĩa vụ của người giám hộ,…
Bên cạnh những điểm mới đáng ghi nhận nói trên, dự thảo BLDS (sửa đổi) cần
được hoàn thiện ở một số điểm sau:
- Các quy định từ Điều 58 đến Điều 78 của dự thảo cần được hoàn thiện theo
hướng giản lược hóa số điều luật và thủ tục cử người giám hộ17. Điều 72 về thẩm
quyền, thủ tục cử người giám hộ, người giám sát cần quy định rõ theo hướng thủ tục
cử người giám hộ, người giám sát (khoản 1) đồng thời với việc đăng ký hộ tịch tại
khoản 4 để tránh phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết. Ngoài ra, Điều 72 cần
được sửa theo hướng là điều khoản chung về thẩm quyền giải quyết các vấn đề về cử,
thay đổi và chấm dứt giám hộ, giám sát chứ không chỉ là thẩm quyền cử người giám
hộ, người giám sát để làm căn cứ áp dụng cho việc áp dụng quy định tại Điều 73, 75.
- Cần bổ sung thêm nghĩa vụ của người giám hộ trong việc điều trị bệnh (nếu có)
cho người được giám hộ tại Khoản 1 Điều 65 của Dự thảo.
- Quy định tại Điều 70 về điều kiện đối với người giám sát việc giám hộ cần rõ
ràng hơn để thuận tiện cho quá trình áp dụng pháp luật;

16



Theo quy địn tại khoản 3 Điều59 của Dự thảo về nguyên tắc “Một người chỉ c thể được một người
giám hộ, trừ trường hợp cha mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông bà cùng giám hộ cho cháu”.
18

19

Hiện có nhiều nước áp dụng chế định đồng giám hộ, chẳng hạn ở Pháp, người chưa thành niên có thể có 2
người giám hộ, một người giám hộ về nhân thân, một người giám hộ về tài sản.

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status