MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI DIỆN
TRONG KÝ KẾT HỢP ĐỒNG KINH TẾ
LÊ THỊ BÍCH THỌ
ThS., Phó Hiệu trưởng ĐH Luật TP.HCM
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) được Quốc
hội thông qua ngày 29/9/1989 đã đánh dấu một bước
phát triển mới của pháp luật về HĐKT ở nước ta. Có
thể nói PLHĐKT đã hoàn thành sứ mạng của mình
trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Tuy vậy, qua hơn 10 năm thực hiện, bên cạnh những
thành công, PLHĐKT đã bộc lộ nhiều nhược điểm
cũng như sự bất cập cần phải được nghiên cứu, hoàn
thiện phù hợp với các đòi hỏi khách quan của cơ chế
quản lý kinh tế mới.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp về HĐKT đang có
nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định đại
diện ký kết HĐKT. Một trong các nguyên nhân của
tình trạng này là do quy định về đại diện trong ký kết
HĐKT còn nhiều bất cập. Trong phạm vi bài viết
này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu ở một vấn đề
hiện đang có nhiều tranh cãi, đó là vấn đề đại diện
trong ký kết HĐKT.
1. Vấn đề đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế theo
quy định của pháp luật hiện hành:
Đại diện là một hoạt động phổ biến tất yếu trong các
lĩnh vực có sự phân công lao động đối với sản xuất,
phân phối hàng hóa và dịch vụ. Nhà sản xuất giao
việc mua nguyên vật liệu cho một người được ủy
trong các văn bản pháp luật về hợp đồng như Bộ luật
dân sự, PLHĐKT. Tuy nhiên, cách tiếp cận vấn đề
này của hai văn bản nói trên cũng khác nhau.
Vấn đề đại diện trong ký kết HĐKT được ghi nhận
tại Điều 9 của PLHĐKT và Điều 5 trong Nghị định
17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng
quy định chi tiết thi hành PLHĐKT, theo đó: Người
ký hợp đồng là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc
người đứng tên đăng ký kinh doanh. Pháp nhân chỉ
có thể tham gia và quan hệ HĐKT thông qua người
đại diện của mình và người đại diện nhất thiết phải
hành động nhân danh pháp nhân và vì pháp nhân. Đại
diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên
đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền bằng văn bản
cho người khác thay mình ký HĐKT. Theo quy định
trên, những người có thẩm quyền ký kết HĐKT là đại
diện hợp pháp hoặc đại diện theo ủy quyền của
những người đại diện hợp pháp.
Đại diện hợp pháp
Đại diện hợp pháp là người được pháp luật quy định
hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định có
thẩm quyền ký kết HĐKT. Người có thẩm quyền ký
kết HĐKT là đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc
người đứng tên đăng ký kinh doanh3 của Doanh
nghiệp tư nhân. Đối với cá nhân ký kết HĐKT, theo
Điều 42 PLHĐKT người ký hợp đồng phải là những
người trực tiếp thực hiện công việc trong HĐKT. Đối
với hộ kinh tế cá thể, người ký HĐKT là chủ hộ. Đại
diện hợp pháp của phá nhân và người được bổ nhiệm
hoặc được bầu vào chức vụ đứng đầu pháp nhân đó
của hợp đồng.
Đại diện theo ủy quyền
Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo
sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại
diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.
Điều 9 PLHĐKT quy định: Đại diện hợp pháp của
pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh
có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay
mình ký hợp đồng kinh tế. Người được ủy quyền chỉ
ký hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không
được ủy quyền lại cho người thứ ba. Từ quy định trên
có thể nêu lên một số điểm như sau:
- Thứ nhất, Người được ủy quyền phải hành động
“nhân danh”, “trên tài khoản” và “vì lợi ích” của
người ủy quyền trong giao kết hợp đồng. Trách
nhiệm trước bên thứ ba thuộc về người ủy quyền.
Người được ủy quyền chỉ được ký hợp đồng trong
phạm vi được ủy quyền và không ủy quyền lại cho
người thứ ba, nói cách khác người được ủy quyền chỉ
được phép hành động trong quyền hạn mà mình được
giao. Trong trường hợp người được ủy quyền vượt
quá thẩm quyền thì hợp đồng được ký kết sẽ không
có hiệu lực. Khác với luật pháp của một số nước như
Pháp, Thụy Điển, nếu người được ủy quyền vượt quá
thẩm quyền mà người ủy quyền trao cho thì người
được ủy quyền vẫn bị ràng buộc trong quan hệ đối
với bên thứ ba, trừ trường hợp bên thứ ba này biết
hoặc cần phải biết rằng người được ủy quyền đã vượt
quá thẩm quyền.
- Thứ hai, Việc ủy quyền phải được lập thành văn
xuyên để ký kết HĐKT không? Việc áp dụng trên
thực tế đối với vấn đề này là không thống nhất tùy
thuộc vào sự vận dụng của cơ quan giải quyết tranh
chấp. Có ý kiến không coi văn bản phân công là văn
bản ủy quyền thường xuyên vì:
+ Trái với quy định về ủy quyền;
+ Bản phân công không được ghi trong văn bản
HĐKT;
+ Sẽ hạn chế được tình trạng khi thấy có lợi thì xuất
trình bản phân công nội bộ còn không thì thôi.
Ý kiến khác lại thừa nhận vì cho rằng thông qua việc
phân công trách nhiệm, người đại diện hợp pháp đã
biểu thị sự trao quyền cho người được phân công
thực hiện một loại công việc thường xuyên, lâu dài.
Chúng tôi cho rằng ý kiến thứ hai chỉ hợp lý trong
trường hợp bản phân công trên được công bố công
khai trên phương tiện mà các chủ thể khác có nghĩa
vụ phải biết. Trong trường hợp sự phân công được
thể hiện trong điều lệ hoạt động của pháp nhân và
được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì bản phân
công đó phải được hiểu là văn bản ủy quyền thướng
xuyên và không nhất thiết phải kèm theo hợp đồng,
song pháp luật cũng cần quy định rõ là ngay khi ký
hợp đồng, các bên phải nêu rõ trong hợp đồng tư cách
của người ký kết.
- Hai là, thực tế có nhiều hợp đồng được ký bởi một
thành viên của pháp nhân không có ủy quyền, nhưng
trên thực tế hợp đồng đã được thực hiện và người đại
diện theo pháp luật không có ý kiến phản đối thì có
coi hợp đồng này không có hiệu lực pháp lý không?
không? Vấn đề này cũng có nhiều cách hiểu khác
nhau. Cách hiểu thứ nhất cho rằng pháp luật có tính
nguyên tắc của nó. Do vậy, hành vi xác lập ủy quyền
trong trường hợp nêu trên là trái luật nên không được
thừa nhận. Việc xuất trình giấy ủy quyền phải được
thực hiện trước khi ký kết HĐKT và phải được ghi
trong văn bản HĐKT như luật định. Có cách hiểu
khác cho rằng việc phê chuẩn này là hợp pháp vì đó
là sự thể hiện ý chí của người được đại diện. Việc xác
lập ủy quyền sau khi ký kết hợp đồng kinh tế cần
được coi là có giá trị pháp lý. Lại cũng có quan điểm
cho rằng trong trường hợp này cần phân biệt sự xác
lập ủy quyền trước và sau tố tụng: Theo quan điểm
này nếu sự phê chuẩn được thực hiện trước khi phát
sinh tranh chấp đối với hợp đồng thì sự phê chuẩn đó
là hợp lệ. Văn bản phê chuẩn được coi là văn bản bổ
sung kèm theo văn bản HĐKT đã ký. Nếu sự phê
chuẩn được thực hiện sau khi đã phát sinh tranh chấp,
đã khởi kiện thì sự phê chuẩn không được thừa nhận
vì lúc này việc phê chuẩn được hiểu như một cách
hợp thức hóa để trốn tránh trách nhiệm.
Chúng tôi cho rằng nên xử lý vấn đề nêu trên theo
quan điểm thứ ba. Có như vậy mới tạo điều kiện cho
các đơn vị giao kết thực hiện một cách có hiệu quả
HĐKT đã ký.
Về người được ủy quyền: PLHĐKT không quy định
cụ thể ai có quyền và ai không có quyền đại diện theo
ủy quyền mà chỉ quy định rất chung là: người đại
diện hợp pháp của pháp nhân hoặc cá nhân đứng tên
đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền cho người khác
phổ biến và là một trong những vấn đề vướng mắc
trong quá trình giải quyết các vụ án kinh tế tại các tòa
án địa phương. Từ tình hình đó, Tòa án nhân dân tối
cao đã có công văn số 11/KHXX ngày 23/1/1996
hướng dẫn như sau:
a) Nếu chi nhánh được sự ủy quyền hợp pháp của
người đứng đầu pháp nhân kí hợp đồng có mục đích
sản xuất, kinh doanh thì đó là hợp đồng kinh tế hợp
pháp, khi xảy ra tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
b) Nếu chi nhánh nhân danh pháp nhân kí hợp đồng
mà không được ủy quyền hợp pháp của người đứng
đầu pháp nhân, thì hợp đồng đó là vô hiệu theo qui
định tại điểm c khoản 1 Điều 8 PLHĐKT, và khi xảy
ra tranh chấp thì Tòa án giải quyết theo thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế.
c) Nếu chi nhánh không nhân danh pháp nhân mà tự
mình giao kết hợp đồng thì đó chỉ là hợp đồng dân
sự. Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này do Tòa
án giải quyết theo thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
Qui định tại điểm c trên đây, theo chúng tôi có thể sẽ
làm nảy sinh những bất hợp lí như sau
+ Chi nhánh của pháp nhân là một tổ chức có tư cách
pháp nhân không đầy đủ hoặc không có tư cách pháp
nhân. Chi nhánh là một đơn vị thành viên của pháp
nhân, vì vậy không thể nhân danh mình kí kết hợp
đồng được, nếu có thì người kí hợp đồng chỉ có thể
nhân danh cá nhân mình mà thôi.
+ Theo qui định của pháp luật, chi nhánh không là
chủ thể của quan hệ hợp đồng kinh tế, cũng không là
- Một là, xác định đại diện đương nhiên ký kết hợp
đồng. Do chủ thể của quan hệ HĐKT chủ yếu là các
tổ chức, nên việc xác định người đại diện của chủ thể
là rất quan trọng. Pháp luật quy định đối với doanh
nghiệp là công ty nếu trong trường hợp điều lệ công
ty không quy định gì khác thì đại diện theo pháp luật
của công ty là giám đốc. Xuất phát từ quy định này
cho thấy đại diện hợp pháp của pháp nhân không phải
chỉ là người do pháp luật quy định mà còn có thể là
người được các pháp nhân lựa chọn theo nguyên tắc
tự do lựa chọn của các chủ thể. Vì vậy, có thể hiểu
quan hệ đại diện ở đây thực chất là quan hệ ủy quyền.
Người đại diện là người được pháp nhân ủy quyền để
thực thi các nhiệm vụ được giao thay mặt pháp nhân.
- Hai là, hình thức thể hiện sự ủy quyền không nên
chỉ giới hạn ở các văn bản ủy quyền mà phải hiểu
một cách rộng hơn, đó là các hình thức khác tương
ứng với các hợp đồng (văn bản, bằng miệng hoặc các
tài liệu khác thể hiện ý chí đích thực của các bên).
Lâu nay chúng ta chỉ quan tâm đến hình thức thể hiện
mà không chú ý đến ý chí đích thực của người ủy
quyền, vì vậy đã thường xuyên xảy ra tình trạng: nếu
thấy bất lợi thì yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do
ký kết không đúng thẩm quyền. Theo chúng tôi, cần
căn cứ vào ý chí thực của các bên trong khi ký kết,
hoặc ngay cả đối với các hợp đồng đã được ký kết và
đã được thực hiện để xác định theo hướng thừa nhận
có ủy quyền.
- Ba là, cần có quy định rõ trách nhiệm của người
được ủy quyền trong trường hợp người này ký kết